Chủ nghĩa giải cấu trúc là một trong những phong cách kiến trúc quan trọng nhất của thế kỷ 20 với những người tiên phong trong đó có Frank Gehry, Zaha Hadid và Rem Koolhaas. Bài viết tổng quan của Owen Hopkins(*) trên tạp chí Dezeen sẽ bắt đầu cho một chuỗi khám phá phong trào này.

Hầu hết trong thế kỷ 20, những thử nghiệm, sáng kiến hay những trào lưu mới đã đưa văn hóa kiến trúc đi lên; nhưng ở những năm cuối của thập niên 1970, chủ nghĩa hậu hiện đại đã thúc đẩy nó theo nhiều hướng khác nhau: có những bước tiến cũng như thụt lùi, có rẽ nhánh – hay thậm chí dậm chân tại chỗ. 

Sự xuất hiện của chủ nghĩa giải cấu trúc – một phong trào triết học ở nửa sau thế kỷ 20, cùng với chủ nghĩa Kiến tạo Nga, đã chỉ ra rằng sự kết thúc hiển nhiên của các nhà tiên phong ít nhiều đã bị phóng đại.

Philip Johnson đã viết lời tựa cho vựng tập của cuộc triển lãm Kiến trúc Giải cấu trúc được tổ chức tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA) New York vào năm 1988, cùng cộng tác với Mark Wigley, rằng: “có một cách tiếp cận tương đồng mà kết quả là những hình thức tương tự nhau”.

Bảy kiến trúc sư tham gia triển lãm bao gồm: Gehry, Hadid, Koolhaas, Peter Eisenman, Daniel Libeskind, Bernard Tschumi, and Coop Himmelb(l)au.

Ngày nay tất cả họ đều là những ngôi sao thế giới, nhưng khi đó, ngoại trừ Gehry và Eisenman, dù đã nổi tiếng hay chưa nổi tiếng –  đều là những nhân vật trẻ tuổi và cực kỳ cấp tiến.

Johnson đã từng đến bảo tàng trước đó, với cương vị là giám tuyển cho triển lãm gây ảnh hưởng của Kiến trúc Hiện đại năm 1932 tại cùng một địa điểm, ở nơi đã ca ngợi phong trào Hiện đại như một “phong cách mới” của thời đại.

Tuy nhiên, nửa thế kỷ sau, ông đã rất cố gắng để chỉ ra rằng trái ngược với ảnh hưởng sâu rộng ở phong trào hiện đại, kiến trúc giải cấu trúc “không phải là trào lưu; nó không có giáo điều”.

Johnson đã để lại cho cộng sự của ông trình bày đầy đủ hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của thuyết Giải kết cấu. Đối với Wigley, “thành tựu của Giải cấu trúc nằm ở việc nó thách thức mọi giá trị về sự hài hòa, thống nhất và bền vững, cũng như đưa ra một cái nhìn rất khác về cấu trúc: những khiếm khuyết chính là bản chất của cấu trúc”.

Theo Wigley “một kiến trúc sư giải cấu trúc, không phải là người phá dỡ các tòa nhà, mà là người tìm ra những song đề cố hữu bên trong các tòa nhà”.

Theo quan điểm của ông, chủ nghĩa giải cấu trúc không phải là một thứ tiên phong mới xuất phát từ bên lề, mà góp phần tạo nên “sự lật đổ từ trung tâm”, do đó đặt ra một thách thức đối với tất cả các thể loại kiến trúc, cả cũ lẫn mới.

Tuy vậy, điều này khó phù hợp với tinh thần của thuyết giải cấu trúc đối với ngôn ngữ hình ảnh trừu tượng, có tính phân mảnh cao của chủ nghĩa tiên phong kiến tạo Nga.

Ví dụ trong đồ án của El Lissitzky, Kazimir Malevich và Vladimir Tatlin, chủ nghĩa Kiến tạo (Constructivism) đã bác bỏ tất cả các quy tắc chính và phụ để mang đến hiện thực một kiến trúc mới

không chỉ phản ánh cuộc cách mạng mà còn giúp nó đi xa hơn.

Với một vài ngoại lệ đáng chú ý, các nhà Kiến tạo chủ yếu bị giới hạn trong “kiến trúc trên giấy” trước khi bị Stalin đàn áp vào đầu những năm 1930, đồ án của họ bị lãng quên ở phương Tây cho đến khi được “tái phát hiện” vào những năm 1970.

Đối với những kiến trúc sư trẻ và tham vọng tìm kiếm thứ thay thế chủ nghĩa Hiện đại, nhưng bị cản trở bởi nhận thức về sự tầm thường của chủ nghĩa Hậu hiện đại, chủ nghĩa Kiến tạo chính là một hiện tượng bất ngờ và nó nhanh chóng trở nên quan trọng trong các trường đào tạo Kiến trúc, đặc biệt là ở Hội Kiến trúc tại London dưới sự dẫn dắt của Alvin Boyarsky, nơi một vài kiến trúc sư giải cấu trúc đã nghiên cứu và giảng dạy vào cuối những năm 1970.

Trong số họ, Zaha Hadid là người đã hoàn toàn chấp nhận chủ nghĩa Kiến tạo là nền tảng cho ngôn ngữ thiết kế đặc biệt của bà.

Triển lãm MoMA đã giới thiệu phương án thiết kế thắng giải The Peak của bà, một câu lạc bộ hạng sang nằm trên những ngọn đồi ở Hồng Kông. Các góc không định hướng, các điểm nhìn chóng mặt và một cấu trúc nổi lên bất chấp địa hình, các phác thảo của bà về phương án đã đưa ra một tầm nhìn mới hoàn toàn về cách kiến trúc có thể được hình thành.

Mặc dù chủ nghĩa kiến tạo là trung tâm trong ngôn ngữ chính của giải cấu trúc, nó khác xa với sự phục hưng hay chủ nghĩa lịch sử đơn giản. Như Wigley đã chỉ ra, chữ “De” nói lên tất cả, vì nó liên quan đến giải cấu trúc, một chuỗi tư tưởng hậu cấu trúc gắn liền với nhà lý thuyết người Pháp Jacques Derrida.

Xuất hiện vào những năm 1960, giải cấu trúc nhằm vào những nguyên lý cơ bản của triết học phương Tây, của các cặp đối lập và hệ thống phân cấp ảnh hưởng lên nó.

Trọng tâm trong đó, với Derrida, là sự ưu việt của lời nói hơn chữ viết, và cái được biểu đạt hơn là cái biểu đạt. Thay vào đó, Derrida đã tranh luận, ‘ý nghĩa’ hiện lên sôi động trong mối quan hệ giữa những cái biểu đạt nối tiếp nhau và ông đưa ra các khái niệm mới, ví dụ như “différance” (đọc giống différence nhưng thay ‘e’ bằng ‘a’), là cái đã thoát khỏi hệ nhị phân.

Cho dù còn khá khó hiểu, phần lớn không thể khám phá được và đến những năm 1980 thì suy tàn, song giải cấu trúc đã có thể chuyển thành kiến trúc và hệ thống phân cấp cũng như tính nhị phân vốn có lâu đời của nó: trật tự/ không trật tự, hình thức/ công năng, hợp lý/ biểu hiện, và có lẽ thích hợp nhất trong bối cảnh thập niên 1980 là hiện đại/ hậu hiện đại.

Về lý thuyết, ít nhất, giải cấu trúc đã đề xuất cách để vượt qua những điều này; câu hỏi là làm thế nào điều đó có thể được biểu hiện về mặt kiến trúc. Công trình của Tschumi và Eisenman, những người có mối quan hệ gần gũi nhất với giải cấu trúc (cũng như với Derrida), đã cung cấp những câu trả lời ban đầu rõ ràng.

Nhìn lại, đồ án giành chiến thắng trong cuộc thi năm 1982–83 của Tschumi cho Parc de La Villette ở Paris được xác định là đồ án giải cấu trúc.

Bỏ qua sự đối lập lâu đời giữa công viên và thành phố, hay xa hơn là giữa văn hóa và tự nhiên, Tschumi đã hình thành ba hệ thống trật tự mà ông đặt chồng lên khu đất để tạo ra một chuỗi những khu vườn, phòng trưng bày và các công trình thép màu đỏ.

Công trình thứ 2 giống một sự giao thoa giữa cấu trúc cổ động theo chủ nghĩa kiến tạo và những bức điêu khắc của Anthony Caro – sự hết hợp của những hình khối kiến trúc tương tự nhau nhưng không có những liên tưởng cố định.

Hầu như trong cùng thời gian đó, Eisenman đang làm việc trên đồ án Trung tâm Nghệ thuật Wexner tại Đại học bang Ohio.

Tại đây, Eisenman đã sắp xếp những lưới trục rời rạc của khuôn viên đại học và thành phố xung quanh để tạo ra một loạt những hình phân mảnh, chúng được cắt và nối theo nhiều cách khác nhau mà để thay đổi những mong đợi của chúng ta về cách mà các công trình được sắp xếp và tổ chức. Kết quả nhận được là sự kỳ lạ và bất ổn.

Một vài điều tương tự cũng có thể được nói đến về đồ án cải tạo tầng thượng nhà phố ở Vienna của Coop Himmelb(l)au, cũng được đưa vào triển lãm.

Một sự hỗn độn lởm chởm về hình dáng và cấu trúc mọc trên mái của ngôi nhà có “hình dạng ổn định”, đã được mô tả một cách sinh động như “đã bị nhiễm bởi một kết cấu sinh học không ổn định, một bộ phận xương cánh của sinh vật mà đã làm biến dạng nơi chứa nó”.

Trong số những đồ án được giới thiệu tại triển lãm, đồ án này nói rõ nhất về cách mà chủ nghĩa giải cấu trúc mong muốn lật đổ không chỉ kiến trúc trong thời đại của nó – như hầu hết những nhà tiên phong định làm – mà còn trong tất cả các thời kỳ và ở mọi phong cách. Nhưng cuối cùng là để làm gì?

Sau tất cả, chủ nghĩa hậu hiện đại đã giải phóng sự tuân theo sứ mệnh xã hội của chủ nghĩa hiện đại ở kiến trúc sư, đây là điều mà chủ nghĩa giải cấu trúc đã không thách thức.

Thay vào đó, tính triệt để của nó nhắm vào chính kiến trúc, tìm cách phá vỡ các nguyên lý cấu trúc và hình thức nền tảng ở kiến trúc với một cường độ và sức mạnh được thúc đẩy đầy nghịch lý bởi sự ngầm chấp nhận của nó đối với các giới hạn mới của kiến trúc.

Nói một cách đơn giản, nếu việc tạo hình là tất cả những gì còn lại cho kiến trúc sau chủ nghĩa hậu hiện đại, thì chủ nghĩa giải cấu trúc chỉ đơn giản là phát triển nó. Nói như vậy không có nghĩa là nó không có gì khác ngoài tính trí thức hay một sự đóng góp đáng kể nào.

Bảo tàng Do Thái (Jewish Museum) của Daniel Libeskind ở Berlin – cấu trúc được xây đầu tiên của ông – đã chứng minh chủ nghĩa giải cấu trúc có thể gợi lại lịch sử, ký ức và cảm xúc một cách mạnh mẽ và sâu sắc.

Nằm ngoằn ngoèo trên khu đất, bảo tàng được thiết kế một phần mang tính biểu tượng – gợi nhớ về ngôi sao David (Star of David) – với những chiếc rìu tỏa ra vị trí của những gia đình Do Thái bị sát hại trong Nạn diệt chủng (Holocaust).

Với những khoảng mở như những vết thương đục thủng lớp vỏ bao che, hệ kết cấu giao cắt với hình khối và ngược lại, những thông tầng thẳng đứng xuất hiện đột ngột, công trình đã viết lại những kỳ vọng của chúng ta về thứ có thể gọi là kiến trúc –  việc làm như vậy đang mang đến sự phản ánh đầy ám ảnh về nền văn minh Do Thái mà Đức Quốc Xã đã cố gắng phá hủy.

Mọi tiên phong đều trở thành xu hướng chủ đạo sau một khoảng thời gian, mặc dù chủ nghĩa giải cấu trúc mang ý nghĩa kiến trúc đã tự quay vào bên trong chính nó, thì những yếu tố bên ngoài – kinh tế và công nghệ – sẽ định hình cách nó diễn ra trong những năm 1990 và 2000.

Mặc dù chủ nghĩa giải cấu trúc được hình thành trong thế giới analog, nhưng nó đã được hiện thực hóa trong thế giới kỹ thuật số, cho phép những thứ đã từng không thể tạo dựng trở thành hiện thực và châm ngòi cho những thử nghiệm chính thức tiến xa hơn nữa.

Ví dụ như, với bước nhảy vọt về quy mô và độ phức tạp giữa ngôi nhà Santa Monica của Gehry được giới thiệu tại triển lãm và Bảo tàng Guggenheim tại Bilbao, có thể gọi là đồ án giải cấu trúc, nổi tiếng với thiết kế dùng đến phần mềm phát triển dành cho máy bay chiến đấu.

Công trình Guggenheim là đồ án khởi động cho kỷ nguyên của biểu tượng kiến trúc, chứng kiến những thành phố thậm chí những quốc gia nhận ra tầm quan trọng của kiến trúc trong việc tạo dựng hình ảnh và cải thiện kinh tế.

Tất nhiên, sự kỳ lạ của chủ nghĩa giải cấu trúc và theo định nghĩa là có một không hai, cùng với sự liên kết với các kiến trúc sư ngôi sao trên khắp thế giới – những nhân vật chính của triển lãm – chính là món quà dành cho hậu thế.

Mặc dù Koolhaas là người ít phù hợp nhất trong nhóm bảy nhà giải cấu trúc ban đầu, hoặc có lẽ chính vì như vậy mà tòa nhà CCTV của ông ở Bắc Kinh đã đưa thời đại của biểu tượng đến một kết luận có lý.

Một trong những chủ đề lặp đi lặp lại một cách kỳ lạ của kiến trúc thế kỷ 20 là cách mà mọi thứ Philip Johnson chạm vào đều đột nhiên mất đi sức sống: trào lưu hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại, và gây tranh cãi hơn hết là chủ nghĩa giải cấu trúc.

Nhìn lại, thật đáng ngạc nhiên khi tính cấp tiến của thuyết giải cấu trúc đã bốc hơi nhanh chóng khi các kiến trúc sư bắt đầu xây dựng. Đến giai đoạn cần thiết thỏa hiệp với những vấn đề quan trọng và thực dụng của việc xây dựng, thì niềm say mê và sức sống của những bản vẽ – thứ đã thể hiện một cách tuyệt vời trong triển lãm – thường nhường chỗ cho những cấu trúc nặng nề, kém thẩm mỹ.

Hơn nữa, nó đã bộc lộ điểm yếu cố hữu trong việc chuyển đổi từ lý thuyết sang hình thức xây dựng thực tế.

Chắc chắn là chúng ta có chủ nghĩa giải cấu trúc để đổ lỗi cho những ý niệm vẫn còn tồn đọng rằng công trình phải biểu hiện cho một lý thuyết nào đó để được nhìn nhận nghiêm túc. Điều trớ trêu là, khi sự tạo hình thuần túy ở mức độ cảm xúc nhất, thì kiến trúc giải cấu trúc lại thuyết phục hơn nhiều khi không có nó (lý thuyết).

Chủ nghĩa giải cấu trúc là một trong những phong trào Kiến trúc có ảnh hưởng nhất vào thế kỉ 20. Loạt bài của chúng tôi mô tả các công trình và công việc của các nhà khởi xướng hàng đầu – Eisenman, Koolhaas, Frank Gehry, Zaha Hadid, Daniel Libeskind, Bernard Tschumi và Prix.

(*) Owen Hopkins là nhà sử học , một cây bút viết về kiến trúc và là một giám tuyến. Ông là giám đốc của Trung tâm Farrell – một trung tâm kiến trúc và thành phố mới ở Newcastle, Vương quốc Anh mở cửa vào năm 2023 và trước đây là người phụ trách cao cấp tại Bảo tàng Sir John Soane và người phụ trách chương trình kiến trúc tại Học viện Nghệ thuật Hoàng gia. Ông là tác giả của các cuốn sách bao gồm Postmodern Architecture: Less is a Bore (2020), Lost Futures (2017) và Mavericks: Breaking the Mold of British Architecture (2016).

Người dịch: Anh Tuấn | Nguồn: Dezeen

XEM THÊM:

Bình luận từ Facebook
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
carlabbott copy
Các phong trào quy hoạch – P1: Truyền thống cảnh quan

Học thuyết đầu tiên của Mỹ về quy hoạch đô thị ra đời từ việc quy hoạch cảnh quan và Read more

old new york
Các phong trào quy hoạch- P2: Kỹ thuật hạ tầng đô thị

Phần này đề cập tới kỹ thuật hạ tầng đô thị bao gồm các vấn đề vệ sinh, cấp thoát Read more

gardencityheader
Các phong trào quy hoạch – P3: Thành phố vườn

Howard đã khích lệ nhiều người đi sau và đầu thế kỉ 20 những ý tưởng của ông đã hai Read more

20congtirnhtieubieu
Tuổi trẻ online: 20 công trình kiến trúc thời Đổi mới: Nhiều dấu hỏi…

Một vài ý kiến nhân đề cử 20 công trình kiến trúc thời kỳ đổi mới trên báo Tuổi trẻ Read more

GS TS KTSNguyenDucThiem1
Vị giáo sư và 11 giáo trình được Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia

GS.TS.KTS NGUYỄN ĐỨC THIỀM sinh năm 1938, mất ngày 8/12 2008. Lễ viếng từ 7 đến 9 h ngày hôm Read more

squordos 100 by multiplicities holguin west web
ORDOS 100 – Nhà (X)

Nguyên tắc tổ chức của ngôi nhà bắt đầu từ việc hiểu hệ thống gạch xây, tính chất vật liệu Read more