Dịch từ bài viết “Building Sites Are the Frontline of Architecture” của tác giả Kozo Kadowaki trên Tạp chí The Japan Architect (JA) Summer 2018 – Insights from Building Site.

Đâu là thứ quan trọng nhất của tư duy kiến trúc? Đối với hầu hết các kiến trúc sư (KTS), câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này có lẽ là quá trình thiết kế. KTS sử dụng các bản vẽ, mô hình, phác thảo và các công cụ khác để thiết kế công trình, và thông qua quá trình đó để tư duy về kiến trúc. Nếu ai đó cho rằng các dự án nên được suy nghĩ hoàn toàn ở giai đoạn thiết kế, thì công trường xây dựng, nơi mà công trình thật sự được hiện thực hóa, là nơi thiết lập việc quản lý ổn định cho một lịch trình định sẵn. Trên thực tế, không khó để thấy các KTS dành ít sự quan tâm đến địa điểm xây dựng và thường tránh đến thăm công trường.

Trong bài viết này, tôi muốn xem xét một mệnh đề đối lập – rằng công trường xây dựng là một tiền tuyến khác cho các KTS, và đặt ra câu hỏi rằng kiểu tư duy nào sẽ được nảy sinh. Bản thân câu hỏi dường như có thể làm rõ được sự quan trọng của công trường xây dựng đối với tư duy kiến trúc.

kienviet cong truong xay dung la tien tuyen cua kien truc

Nguồn gốc của kiến trúc và kiến trúc sư

Dạo quanh một chút, chúng ta hãy xem xét cuộc tranh luận về nguồn gốc của kiến trúc và kiến trúc sư.

Giả định rằng kiến trúc là một hệ thống các kỹ thuật cho môi trường xây dựng dựa trên những ý định rõ ràng và có chủ ý. Trong trường hợp đó, xuyên suốt lịch sử lâu dài của nhân loại, lợi ích tích lũy được của kiến trúc sẽ là rất ít. Trong phần lịch sử lớn hơn của nó, kiến trúc đã được bao quanh bởi một vùng ngoại vi rộng lớn của ‘tiền kiến trúc’. Đúng hơn là một nhóm các hoạt động xây dựng tiền kiến trúc như vậy, xuất hiện từ trong vô thức, đã cung cấp nền tảng cho các môi trường có thể sinh sống được.

Cái ‘tiền kiến trúc’ vô thức này có lẽ đã được kiến trúc sư kiêm tác giả sách Bernard Rudofsky mô tả trong quyển sách của ông ‘Architecture without Architects’¹ (tạm dịch: kiến trúc không có kiến trúc sư) xuất bản năm 1964 tại Hoa Kỳ. Rudofsky đã sử dụng thuật ngữ ‘bản địa’ (vernacular) để chỉ một thứ kiến trúc ẩn danh mà dù đặc biệt, dường như đã phát sinh một cách tự nhiên. Trong ngôn ngữ học, ‘vernacular’ dùng để chỉ ngôn ngữ thông tục hoặc phương ngữ của cuộc sống thường ngày. Ông đã mượn thuật ngữ này để chỉ ‘kiến trúc không có kiến trúc sư’, thứ kiến trúc sinh ra một cách tự nhiên từ sự vô thức của con người bình thường, kề cận với cuộc sống thường nhật, mà được ông phân biệt rõ ràng với thứ kiến trúc được tạo ra bởi các kiến trúc sư.

Kiến trúc bản địa trong câu hỏi ở đây là kiến trúc trước khi có sự khởi đầu của máy móc hiện đại. Không chỉ trong xây dựng mà việc thu mua và vận chuyển vật liệu xây dựng cũng phụ thuộc vào sức lực hạn chế của con người và các loài động vật thuần hóa. Điều này đặt ra những giới hạn nghiêm trọng đối với kiến trúc.

Các tòa nhà phải được làm bằng vật liệu và công nghệ có sẵn trong một khu vực nhất định. Các hoạt động kiến tạo được dẫn dắt bởi sự tôn trọng với môi trường và tập quán địa phương thay vì những ý định rõ ràng và có chủ ý . Sự gắn kết đáng chú ý được minh chứng bởi các nhóm công trình bản địa là kết quả của những yếu tố định hình này  – những tác động mạnh mẽ vượt quá sự hiểu biết của con người, vốn là một phần của tự nhiên.

Vào thời điểm Rudofsky xuất bản cuốn sách của mình, thứ ‘kiến trúc của kiến trúc sư’ mà ông phân biệt với kiến trúc bản địa, là kiến trúc hiện đại. Nhưng trong những thời đại trước đó, Hermann Muthesius gọi là ‘style-architecture’² (phong cách, trường phái kiến trúc). Trường phái là tổng hợp những đặc điểm tương đồng có thể được nhận dạng trong các sản phẩm của các hoạt động như viết lách, sinh hoạt và sáng tạo nghệ thuật. Trong kiến trúc, một phong cách (trường phái) là một xu hướng được thừa nhận có chủ ý, đã nảy sinh dưới một hình thức nào đó từ nhiều hoạt động xây dựng một môi trường, và đã được thừa nhận theo cách mà nó có thể được mô phỏng. Ở châu Âu, lối tư duy này đã xuất hiện ở Ý thời Phục Hưng trong thời kỳ phục hưng kiến trúc Hy Lạp, La Mã. Nhưng các xu hướng tương tự có thể thấy ở nhiều thời đại và các khu vực khác, chẳng hạn như trong nỗ lực với ý định du nhập kiến trúc Trung Quốc vào thời kỳ đầu của Nhật Bản. Việc này rõ là phi thực tế khi phải vận chuyển các công trình đến những địa điểm xa xôi, cách duy nhất để tái tạo kiến trúc của một thời đại hoặc một khu vực là khái quát hóa các đặc điểm phong cách của nó và cho phép ‘cái style’ đó dẫn đường cho các hoạt động kiến trúc. Từ đó, trường phái kiến trúc là sự khởi đầu của kiến trúc như đã được xác định ở phần đầu của bài viết này – là sự kiến tạo có ý thức của môi trường – và người kiến trúc sư, theo nghĩa nguyên thủy, là những người đầu tiên tìm cách thuần phục và thấu hiểu về những gì trước đây đã diễn ra ở miền đất hoang sơ vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người.

Trong thời hiện đại, khi mà lý trí và khoa học trở thành thế lực thống trị trong xã hội, ‘kiến trúc của KTS’ đã trải qua quá trình chuyển đổi từ trường phái kiến trúc đến kiến trúc hiện đại. Nó nhận thức thế giới một cách có chủ ý, hợp lý và ngày càng như một thứ cần được chinh phục thông qua các phương pháp phổ cập hóa của hoạt động xây dựng.

Tuy nhiên, phần kiến trúc chưa được nắm bắt vẫn còn hoạt động trong kỷ nguyên hiện đại, ngấm sâu vào trong vô thức của các kiến trúc sư qua các yếu tố thường bị bỏ qua trong bản vẽ kiến trúc, chẳng hạn như các đoạn giao xây hồ, sự phù hợp giữa vì kèo và dầm hay vị trí các đường ống xung quanh tường. Những yếu tố này thường được hoàn thiện tại công trường xây dựng mà không cần hướng dẫn từ kiến trúc sư. Trên thực tế, những điều kể trên có thể là những điều chỉnh theo thông lệ hoặc quy trình xây dựng, hay những quyết định nhỏ được đưa ra khi vắng mặt kiến trúc sư. Nhưng ở mức độ sâu hơn, chúng có thể được mô tả như là những biểu hiện của các nguyên tắc tự điều chỉnh vốn có trong hệ thống được gọi là kiến trúc. Và lãnh địa mà những nguyên tắc tự điều chỉnh này có thể hoạt động không phải nơi nào khác ngoài công trường xây dựng. Công trường là nơi đối đầu giữa những ý định vô thức và có ý thức của KTS, và theo nghĩa đó, nó chính là tiền tuyến của kiến trúc.

kienviet cong truong xay dung la tien tuyen cua kien truc 2

Địa điểm xây dựng như một đối tượng kiểm soát và đối tượng nghiên cứu

Đối với các kiến trúc sư, những người ban đầu có nhiệm vụ thuần hóa phần kiến trúc chưa được thuần hóa, nguồn gốc của nó trong vô thức có thể được xem là một khu vực cần phải loại trừ. Theo quan điểm này, thiết kế nên được hoàn chỉnh nhất có thể và các bản vẽ xây dựng phải được kiểm tra kỹ lưỡng. Nếu các quy trình xây dựng thông thường đại diện cho một điểm tiếp xúc mà qua đó cái vô thức có thể xâm nhập, thì cách tiếp cận ở đây cho KTS là đưa ra các quy trình xây dựng mới. Trên thực tế, có nhiều kế hoạch như vậy đã được thử nghiệm trong thời kỳ các KTS đang phấn khích trước những lý tưởng của chủ nghĩa hiện đại.

Sau khi kết thúc Thế chiến II, kiến trúc sư Kenji Hirose đã dự đoán rằng các ứng dụng thương mại trong công nghệ quân sự sẽ biến đổi nền kiến trúc Nhật Bản. Trong năm 1953, ông đã hoàn thành ngôi nhà SH-1 với cấu trúc khung thép nhẹ mang tính tiên phong. Mục tiêu của dự án này là thiết kế kết cấu chính bằng thép thay vì gỗ, sử dụng vật liệu xây dựng mới được sản xuất theo hướng công nghiệp thay vì sử dụng các vật liệu nội ngoại thất theo lối truyền thống.

Điều này có thể dẫn đến việc loại trừ thợ mộc và các tổ chức xây dựng hiện hữu khỏi công trường. Hirose nói rằng, ông muốn tránh sự căng thẳng đã phát sinh trong các dự án nhà gỗ trước đó vì người thợ mộc có xu hướng nắm thế chủ động trên công trường.³ Ông đã nhìn thấy tiềm năng của kết cấu khung thép bởi vì thép cho phép KTS định rõ mọi thứ trong thiết kế, đến tận chi tiết.

Phương thức của Hirose không phải là cách duy nhất để kiểm soát công trường. Một cách khác, được các nhà thầu trọn gói ở Nhật Bản áp dụng là cung cấp cả dịch vụ thiết kế và xây dựng. Việc này xóa bỏ các ranh giới nảy sinh thông qua phân công lao động. Điều này cũng đúng khi chính các KTS can thiệp vào công trường với tư cách là bên xây dựng. Công nghệ số hóa và các cải tiến khác cho phép các kết nối nhanh chóng giữa thiết kế và xây dựng thông qua ứng dụng công nghệ máy tính có lẽ cũng thuộc loại này.

Ngược lại, “kiến trúc không có kiến trúc sư” của Rudofsky cũng lại là một cuộc luận chiến chống lại kiến trúc hiện đại trong việc loại bỏ những lề thói nguyên sơ của những thông lệ và truyền thống được kế thừa. Khởi đầu từ những năm 1960, kiến trúc hiện đại đã bị chỉ trích từ nhiều phương diện khác nhau, thường là vì những thứ mà nó bị cho là thiếu sót. Yếu tố bị thiếu đó đôi khi là lịch sử và đôi khi là nền tảng mang tính vùng miền. Trong những trường hợp như vậy, một chỉ định hợp lý sẽ xây dựng lại mối quan hệ giữa kiến trúc và các lĩnh vực đã loại trừ vì là ngoại lai hay những lí do khác, và để học hỏi từ những lĩnh vực khác đó. Như đã đề cập ở trên làm thế nào mà công trường xây dựng lại là một vùng đất xa lạ với kiến trúc sư. Nhưng từ góc độ này, nó có thể được tái xem xét như là một nguồn cho tư duy kiến trúc. Trên thực tế, thực tiễn gần đây đã chỉ ra rằng hoàn toàn có thể áp dụng cách tiếp cận mà trong đó các phần thiết kế được để trống có chủ ý để cho phép người xây dựng ra quyết định dựa trên kỹ năng có sẵn tại công trường, và ở đó các sự kiện không mong muốn tại khu đất được xem như một phần của bối cảnh và là cơ hội để cải thiện thiết kế một cách linh hoạt.

Kiểu biến chuyển này – kết hợp công trường xây dựng vào trong thiết kế – bắt nguồn từ một xu hướng tránh một thứ kiến trúc hoàn chỉnh chỉ ở bên trong bản thân nó mà ưu tiên cho sự cởi mở với kiểu kiến trúc khác. Vì là một sự phản chiếu trực tiếp về những tiêu chuẩn kinh tế và công nghiệp ở hiện tại, công trường xây dựng đại diện cho sự cởi mở đối với xã hội, và có thể được hiểu như là một điểm khởi đầu cho những cách tiếp cận dựa trên cơ cấu công nghiệp hoặc sản xuất.

Địa điểm xây dựng như một nơi giao thoa thiết kế xã hội 

Việc hiểu rõ công trường xây dựng và xã hội được kết nối qua nhiều chủ đề và cơ chế khác nhau giúp mọi người dễ hình dung về sự mở rộng của lĩnh vực thiết kế vượt xa hơn những gì có thể thấy được để bao gồm cả những ngóc ngách của hệ thống xã hội. Nói cách khác, với lối suy nghĩ này, thiết kế kiến trúc đã phục hồi một mối quan hệ năng động với công trường xây dựng, gia tăng khả năng thiết kế phương thức sản xuất kiến trúc và cả vị trí của nó trong xã hội.

Trong những lĩnh vực như mua sắm thời trang hay thực phẩm, thương mại công bằng và tiêu dùng sáng suốt (ethical consumption) đã trở thành mối quan tâm rộng rãi. Mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng bị đóng khung như một vấn đề xã hội không còn là chuyện lạ nữa. Thái độ này cũng đang bắt đầu hình thành trong kiến trúc. Ngược lại bối cảnh này, có một tiềm năng lớn trong việc phát triển các cách tiếp cận đó là nắm bắt toàn bộ các quy trình sản xuất chẳng hạn như công trường xây dựng theo nghĩa rộng, mà có thể trở thành một đối tượng của thiết kế nhờ vào thiết kế của các công trình. Người kiến trúc sư nào hiểu được công trường xây dựng theo nghĩa rộng hơn này – là tiền tuyến cho tư duy kiến trúc của họ – có thể trở nên hoàn thiện hơn để có khả năng chế ngự các hệ thống xã hội mà đã dần trở nên quá phức tạp đến mức chúng dường như hành xử theo những cách vượt quá sự hiểu biết của con người và từ đó hoàn thành vai trò cơ bản của một người kiến trúc sư.

Người dịch: Anh Tuấn

XEM THÊM:

Bình luận từ Facebook
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
carlabbott copy
Các phong trào quy hoạch – P1: Truyền thống cảnh quan

Học thuyết đầu tiên của Mỹ về quy hoạch đô thị ra đời từ việc quy hoạch cảnh quan và Read more

old new york
Các phong trào quy hoạch- P2: Kỹ thuật hạ tầng đô thị

Phần này đề cập tới kỹ thuật hạ tầng đô thị bao gồm các vấn đề vệ sinh, cấp thoát Read more

gardencityheader
Các phong trào quy hoạch – P3: Thành phố vườn

Howard đã khích lệ nhiều người đi sau và đầu thế kỉ 20 những ý tưởng của ông đã hai Read more

20congtirnhtieubieu
Tuổi trẻ online: 20 công trình kiến trúc thời Đổi mới: Nhiều dấu hỏi…

Một vài ý kiến nhân đề cử 20 công trình kiến trúc thời kỳ đổi mới trên báo Tuổi trẻ Read more

jornutzon thumb
Kiến trúc sư Jorn Utzon qua đời ở tuổi 90 (video)

Kiến trúc sư người Đan Mạch Jorn Utzon, người thiết kế nhà hát Opera Sydney đã qua đời ở tuổi Read more

GS TS KTSNguyenDucThiem1
Vị giáo sư và 11 giáo trình được Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia

GS.TS.KTS NGUYỄN ĐỨC THIỀM sinh năm 1938, mất ngày 8/12 2008. Lễ viếng từ 7 đến 9 h ngày hôm Read more