Lịch sử kiến trúc ghi dấu rất nhiều cặp đôi đồng nghiệp kiến trúc sư và gặt hái được nhiều thành tựu. Tuy vậy, những đóng góp của các nữ kiến trúc sư dường như không được đánh giá đúng mức bên cạnh người cộng sự nam giới của họ.

Hệ thống ngôi sao(*) và sự phân biệt giới tính ở các cặp đôi kiến trúc nhìn từ lịch sử
Alvar Aalto và Elissa Aalto năm 1956

Phụ nữ làm kiến trúc thường phải đối mặt với nhiều chông gai hơn đàn ông. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự bất bình đẳng này còn rõ ràng hơn trong những dự án hợp tác giữa hai giới. Nhìn lại lịch sử nghề kiến trúc, người ta có thể thấy rất nhiều ví dụ về vấn đề này trong các văn phòng hay các dự án hợp tác. Ở đó, năng lực không được công nhận đúng mực trong các giải thưởng, các vấn đề về lương bổng, trích dẫn tài liệu.

Đa số những sự hợp tác này được xây dựng giữa các cặp đôi có quan hệ thân mật. Giống như bất kỳ quan hệ hợp tác công việc nào, họ cùng nhau thiết kế và ra quyết định. Tuy nhiên, ở những cặp đôi vợ chồng kiến trúc sư, vai trò “người vợ” thường được đề cập nhiều hơn vai trò “người hợp tác”, “kiến trúc sư” hay “cộng sự”.

Hệ thống ngôi sao(*) và sự phân biệt giới tính ở các cặp đôi kiến trúc nhìn từ lịch sử
Denise Scott Brown

Trong bài báo “Couplings” được xuất bản năm 1999, Beatriz Colomnia cho rằng câu chuyện hoang đường về kiến trúc sư độc lập, một thiên tài biệt lập, là một trong những cách hiểu lạc hậu và bảo thủ nhất về kiến trúc – nhưng tiếc thay vẫn là một trong những cách hiểu phổ biến nhất.

Có nhiều mối quan hệ cộng sự đã gây được tiếng vang như  Alison & Peter Smithson, Denise Scott Brown & Robert Venturi, Charles & Ray Eames, Liz Diller & Ricardo Scofidio. Các kiến trúc sư cũng được cho là có sự gắn bó mật thiết với nhau. Tuy vậy, lịch sử đã chứng minh rằng vẫn còn nhiều trường hợp, mà trong đó các nữ kiến trúc sư bị gạch tên để nhường sự tỏa sáng cho người chồng.

Hệ thống ngôi sao(*) và sự phân biệt giới tính ở các cặp đôi kiến trúc nhìn từ lịch sử
Robert Venturi và Denise Scott Brown

Kể cả khi các mối quan hệ hợp tác này được công nhận là không thể tách rời, yếu tố bất công vẫn còn tồn tại. Ví dụ điển hình nhất có lẽ là giải thưởng Pritzker Prize (1991) được trao cho Robert Venturi vì sự nghiệp mà ông và Denise Scott Brown đã cùng nhau xây dựng. Thời điểm đó, hội đồng giám khảo đã liệt kê nhiều dự án được hoàn thành bởi Denise Scott Brown, và nhắc đến tên bà Denise ở vai trò cộng sự trong việc phát triển về lí thuyết và thực hành kiến trúc suốt ba thập kỷ trước đó. Dù vậy, giải thưởng danh giá nhất ngành kiến trúc chỉ được trao cho Robert Venturi.

Ray & Charles Eames

Sự bất bình đẳng và mờ nhạt của phụ nữ vẫn còn tồn tại ở những công ty kiến trúc được điều hành bởi các cặp đôi. Hiện tượng bị gạch tên thậm chí còn gay gắt hơn trong nhiều trường hợp các kiến trúc sư nổi tiếng được công chúng biết đến với cương vị kiến trúc sư độc lập. Trong những trường hợp trên, các nữ kiến trúc sư chỉ được tuyên dương một cách gián tiếp qua lời giới thiệu của chồng, hiếm khi ở chiều ngược lại. Ví dụ như các cặp đôi Alvar Aalto và hai người vợ Aino, Elissa hay cặp đôi Delfina Gálvez và Amancio Williams.

Delfina Galvez Bunge và Amancio Williams

Nhiều nữ kiến trúc sư chỉ được biết đến ở hậu trường, vì họ  không kết hôn với nam kiến trúc sư mà họ hợp tác cùng, ví dụ như Lilly Reich, Charlotte Perriand, Eileen Gray và  Marion Mahony. Trong khi các nam kiến trúc sư Mies van der Rohe, Le Corbusier và Frank Lloyd Wright trong lịch sử được công nhận như những vì tinh tú của nền kiến trúc, công việc của họ được thừa nhận với cương vị độc lập thì những nữ kiến trúc sư cộng tác cùng họ lại hoàn toàn lép vế. Mahony là người phụ nữ đầu tiên được cấp phép hành nghề kiến trúc sư ở bang Illinois, Hoa Kỳ. Bà chịu trách nhiệm cho những bản vẽ mà thường khiến người ta liên tưởng tới KTS Frank Lloyd Wright. Trong khi các nam kiến trúc sư thường được thế giới công nhận với cương vị kiến trúc sư độc lập thì tên tuổi của các nữ kiến trúc sư lại không được biết đến hoặc chỉ được nhắc đến bên cạnh người đàn ông mà họ cộng tác cùng.

Tranh màu nước dự án Canberra

Đầu thế kỷ 20, nhiều nữ kiến trúc sư đã “đặt chân vào ngành kiến trúc sư nhờ vào việc hợp tác cùng chồng”, trích lời của KTS người Argentina – Inés Toscano, đồng sáng lập dự án Couplings’ Tactic (tạm dịch: Chiến lược kết đôi). Lin Huiyin (1904-1955) là người tiên phong ghi chép tài liệu về di sản kiến trúc Trung Hoa những năm 1930 cùng với chồng – ông Liang Sicheng (1901-1972). Tuy nhiên, bà không được nhận vào trường Kiến trúc của Đại học Pennsylvania bởi vì thời đó người ta không chấp thuận nam nhân và nữ nhân làm việc khuya cùng nhau mà không có giám sát. Bà Lin tốt nghiệp ngành Mỹ thuật, còn ông Liang đã theo đuổi bằng Kiến trúc sư. Mặc dù vậy, họ vẫn luôn làm việc cùng nhau và trở thành cặp đôi nổi tiếng nhất Trung Quốc trong lĩnh vực lịch sử kiến trúc và bảo tồn di sản.

Dự án Couplings’ Tactic là sáng kiến phác họa bản đồ các cặp đôi kiến trúc sư, một chiến lược giúp nâng cao bình đẳng giới trong lĩnh vực kiến trúc. Từ năm 1880 đến nay đã có 395 cặp đôi được đưa tên lên bản đồ. Thông qua khảo sát và họa đồ, nghiên cứu này đặt ra các câu hỏi về vấn đề hợp tác mang tính mật thiết và tính sáng tạo đằng sau các công trình kiến trúc nổi tiếng của những tên tuổi lớn trong nền kiến trúc, buộc mọi người phải đánh giá lại hệ thống ngôi sao.

Inés Toscano cho rằng việc hiểu hơn về mối quan hệ cộng tác của các cặp đôi kiến trúc sư (không nhất thiết phải là quan hệ tình cảm khác giới và thuộc Tây phương) giúp giải quyết nhiều tầng bất công trong nghề. Bằng cách thấu hiểu rằng kiến trúc là kết quả của sự hợp tác cũng giúp mở ra góc nhìn đa chiều về tinh thần hợp tác, sự trao đổi liên ngành, sự đa dạng và thái độ bao dung.

Chú thích: 

(*)The star system: khái niệm lí giải bản dạng giới của những kiến trúc sư tên tuổi (ngôi sao) thường có xu hướng là nam giới. Bạn có thể tìm hiểu chủ đề này tại đây.

Dịch: Anh Tuấn | Nguồn: Archdaily

XEM THÊM

Bình luận từ Facebook