Juan Miró, nhà hoạt động giáo dục, KTS đồng sáng lập văn phòng kiến trúc Miró Rivera Architects đã phản ánh trong một bài viết về giá trị của các thành phố ở Mỹ. KTS cho rằng “Khi lý tưởng hóa các thành phố như Copenhagen là chúng ta đang không quan tâm đến những khác biệt lịch sử cơ bản giữa mô hình đô thị ở châu Âu và Mỹ, rộng hơn là châu Mỹ”.

Quy hoạch đô thị giữa Copenhagen và Hoa Kỳ - Một sự so sánh khập khiễng và các nguyên nhân đằng sau đó
Phương án “Thành phố Broadacre” của KTS Frank Lloyd Wright

Juan Miró cho rằng cần xâu chuỗi lại các sự kiện diễn ra trong quá khứ, những biến đổi về mặt đô thị để giải thích tại sao nên nhìn vào bên trong, nghiên cứu thêm các đô thị ở Mỹ thay vì đi lấy mô hình ở một lục địa khác.

“Tôi không có gì ngoài những kỷ niệm đẹp về thành phố Copenhagen. Nó chắc chắn là một ví dụ nổi bật về một thành phố lịch sử của châu Âu. Tuy nhiên, nơi đây khiến tôi băn khoăn, đứng dưới góc độ của một người mang 2 quốc tịch – sinh ra ở Barcelona, ​​lớn lên ở Madrid và sống ở Hoa Kỳ trong 32 năm. Nhiều đồng nghiệp của tôi dạy quy hoạch đô thị thường có khuynh hướng đề cao các thành phố ở châu Âu và đánh giá thấp các thành phố Châu Mỹ. Copenhagen được lấy ví dụ cho sinh viên như một đỉnh cao của quy hoạch đô thị. Nhưng khi chúng ta lý tưởng hóa các thành phố như Copenhagen, chúng ta đang bỏ quên những khác biệt cơ bản về lịch sử giữa các thành phố của châu Âu và châu Mỹ”.

Thành phố thu gọn (The Compact city)

Quy hoạch đô thị giữa Copenhagen và Hoa Kỳ - Một sự so sánh khập khiễng và các nguyên nhân đằng sau đó
Bản đồ thành phố Copenhagen

*Thành phố thu gọn hay “Thành phố có khoảng cách ngắn” có mật độ dân cư tương đối cao với các mục đích sử dụng đất hỗn hợp. Nó dựa trên một hệ thống giao thông công cộng hiệu quả và có bố cục đô thị khuyến khích đi bộ và đi xe đạp, vì khoảng cách được rút ngắn, nhằm giảm tiêu thụ năng lượng. Dân cư đông đúc tạo cơ hội giao tiếp xã hội cũng như cảm giác an toàn khi ra nơi công cộng. Nó khác so với các “đô thị rải rác” vì ít phụ thuộc vào ô tô hơn, yêu cầu cơ sở hạ tầng ít hơn (Williams 2000, trích dẫn trong Dempsey 2010). Thành phố thu gọn xuất hiện nhiều ở các đô thị ở Châu Âu.

Jan Gehl là người tiên phong về quy hoạch đô thị theo mô hình này, lấy con người làm trung tâm. Vị KTS 84 tuổi người Đan Mạch đã xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Cuộc sống giữa các tòa nhà – Life Between Buildings” vào năm 1971 và áp dụng vào Thành phố Copenhagen – một đô thị thân thiện với người đi bộ và xe đạp.

Không chỉ Copenhagen, hầu hết các đô thị ở châu Âu đều được quy hoạch từ thời trung cổ và ở các khu vực trung tâm thường cấm ô tô qua lại. Người Mỹ thường có cái nhìn không đầy đủ về các thành phố châu Âu, họ dành phần lớn thời gian ở những trung tâm, ở những nơi quyến rũ nhất, nhưng đó chỉ là một phần của toàn bộ bức tranh. Theo một góc nhìn khác thì các thành phố của châu Âu được hình thành như những khu định cư khép kín; được duy trì trong hàng trăm năm, thậm chí đứng đối lập hoàn toàn với các vùng nông thôn xung quanh; bị giới hạn bởi những bức tường, DNA của các đô thị dạng này phát triển dày và gọn đến mức không cần thiết. 

Thành phố cây xanh (The Landscape City)

Thành phố Austin, Hoa Kỳ

Sự so sánh giữa châu Âu và Mỹ là rất khập khiễng, đặc biệt là các thành phố được thành lập trong tiến trình mở rộng về phía Tây của thế kỷ XIX ở Hoa Kỳ, như Portland, Seattle, Austin và Denver. DNA của đô thị dạng này không bị giới hạn bởi những bức tường mà là không gian mở, được quy hoạch dạng lưới, các ngôi nhà đặt nằm cách nhau. Đó là mô hình “thành phố cây xanh”, có mật độ dân cư thấp. Lâu dần thì các thành phố trở nên ăn nhập cảnh quan, một nơi được sống với thiên nhiên.

Mô hình đô thị này thường bị coi là đơn giản và có nhiều đường dành cho ô tô nhưng lại bỏ qua một điều cũng quan trọng không kém là nguồn gốc lịch sử, vì mô hình này ra đời trước khi có ô tô, xe máy. Ví dụ điển hình là các đô thị ở châu Mỹ từ Thời kỳ tiền Colombo – Thành phố Tikal của người Maya có từ thế kỷ thứ VII, với khu trung tâm là các kim tự tháp đồ sộ, xung quanh là hàng nghìn người sống riêng lẻ trong những ngôi nhà, nằm rải rác khắp khu rừng nhiệt đới. Nhiều thành phố hiện đại của Hoa Kỳ không chỉ phản ánh mật độ dân số thấp của Tikal mà chúng còn phản ánh cấu trúc vật chất của nó: các thành phố của Hoa Kỳ với đặc trưng là các tòa nhà chọc trời ở khu vực trung tâm, xung quanh là “khu rừng” đô thị được chia theo dạng lưới với những ngôi nhà xen kẽ với cây xanh.

Hậu quả của chủ nghĩa thực dân

Quy hoạch đô thị giữa Copenhagen và Hoa Kỳ - Một sự so sánh khập khiễng và các nguyên nhân đằng sau đó
Bản đồ thành phố Austin

Sự khác biệt về mật độ dân cư giữa Thành phố Austin, Texas (nơi Juan Miró đang sống) và một “thành phố thu gọn” như Copenhagen không nói lên cái nào hay hơn cái nào. Chúng chỉ đơn giản là có sự khác biệt và cả 2 đều tuyệt vời. Dân cư sinh sống, di chuyển và trải nghiệm các không gian công cộng cũng khác nhau. Vậy tại sao chúng ta vẫn muốn tìm kiếm các mô hình ở châu Âu?

Theo Juan Miró, nguyên nhân đến từ việc chủ nghĩa thực dân từ châu Âu đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nước thuộc địa tại Châu Mỹ, trước và sau khi các quốc gia giành được độc lập. Tại Mỹ, sự đề cao mạnh mẽ đối với khu vực Bắc Âu hay châu Âu nói chung (các quốc gia phát triển) càng trở nên trầm trọng hơn bởi “Phong trào ưu sinh” vào những năm 1920.

“Phong trào ưu sinh: Chính sách được nhiều quốc gia lúc bấy giờ đã áp dụng nhằm cải thiện chất lượng nguồn gen của quần thể dân cư. Có các biện pháp tích cực như khuyến khích tầng lớp dân trí cao kết hôn và sinh con. Nhưng một số quốc gia thì cấm kết hôn và cưỡng bức triệt sản đối với những người được coi là không thích hợp để sinh sản, bao gồm người bị khuyết tật về tinh thần hoặc cơ thể, những người có IQ thấp, tội phạm và “những kẻ lệch lạc”, tạo ra làn sóng ưa chuộng những người ở các quốc gia phát triển như châu Âu vì quan niệm họ sẽ tạo ra một thế hệ tương lai tốt hơn”.

Các trường đại học còn giảng dạy những quan niệm phân biệt chủng tộc và thúc giục việc bảo tồn “chủng tộc” ở Bắc Âu. Do đó, các chính sách nhập cư đã đóng cửa với các nước nghèo và mở rộng cửa cho các nước Bắc Âu (Scandinavi). Mặc dù các chính sách đã kết thúc vào những năm 1960 nhưng nó vẫn âm ỉ và có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Như gần đây, cựu Tổng thống Donald Trump phàn nàn về việc tiếp nhận những người nhập cư từ các nước theo ông là không đáng như Haiti thay vì từ các nước Bắc Âu như Na Uy.

Ngày nay, một thách thức chung đối với các quốc gia trên thế giới là vấn đề phân biệt chủng tộc và tính hòa nhập. Về mặt này, Copenhagen không phải là một hình mẫu tốt để học hỏi. Dân số ở đây hầu hết là người gốc Đan Mạch và sự xuất hiện của những người nhập cư trong 30 năm qua đã phát sinh nhiều vấn đề cho quốc gia này. Có thể kể đến các chính sách gần đây đã chỉ định một số khu vực có mật độ dân nhập cư cao ở Copenhagen là các “khu ổ chuột” – theo đúng nghĩa đen, với các tiêu chí như phải đạt mức thất nghiệp và tội phạm nhất định. Ngoài ra, một nửa dân số phải là con cháu của người nhập cư. Nói cách khác, một  khu phố không thể được coi là một khu ổ chuột miễn sao phần lớn dân số là người da trắng (những người gốc Đan Mạch).

Sau này, họ lại lên kế hoạch về việc di dời và tái định cư cho người dân các “khu ổ chuột”. Chính phủ tuyên bố mục tiêu là thúc đẩy sự hòa nhập bằng cách xen kẽ các khu dân cư trong các khu ổ chuột. Nhưng những người chỉ trích lại cho rằng chính sách này chỉ là bù nhìn, nhằm tiến hành  “Gentrification – chỉnh trang đô thị”, khuyến khích người giàu đến ở và đuổi những người khó khăn đi và nó đang bị tranh cãi tại tòa án bởi những người bị buộc phải rời khỏi nhà của mình.

Không giống như Đan Mạch, bản sắc của Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên khái niệm về một quốc gia đa sắc tộc. Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, theo một cách vô thức hay có ý thức, đã tạo ra một quốc gia có tính “toàn cầu hóa”. Vì nó dựa trên lời kêu gọi mạnh mẽ “Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng” chứ không phân biệt dân cư với người nhập cư. Nghịch lý thay, những người dân bản địa ở Mỹ đã bị tước đoạt đất đai và giống như những “người dân bị nô lệ” đưa đến từ châu Phi, bị loại ra khỏi tầm nhìn của đất nước. Cuộc đấu tranh để hòa nhập giữa những nhóm người này và những nhóm thiểu số khác luôn là vấn đề bị tranh cãi, biến Hoa Kỳ thành một thử nghiệm xã hội trong việc sống hòa nhập giữa các sắc tộc. Theo đó, các thành phố ở Mỹ đã phải giải quyết vấn đề đa sắc tộc của họ ngay từ đầu, nhưng thực tế là rất khó khăn. Phong trào ưu sinh không chỉ ảnh hưởng đến các chính sách nhập cư, nó còn ảnh hưởng đến việc quy hoạch đô thị và đi lấy các mô hình khác đem về áp dụng.

Châu Mỹ

Quy hoạch đô thị giữa Copenhagen và Hoa Kỳ - Một sự so sánh khập khiễng và các nguyên nhân đằng sau đó
Thành phố Austin

Làm sao để chúng ta để rút ra được bài học? Các nhà quy hoạch đô thị ở Mỹ nên chuyển trọng tâm từ châu Âu sang phần còn lại của châu Mỹ. Bắc Mỹ và Nam Mỹ đâu đó có lịch sử chung – đều là thuộc địa của châu Âu, đều bị đàn áp, chế độ nô lệ và sau đó đứng lên giành độc lập, do đó, phải đối mặt với những thách thức chung. Nên có các cuộc trao đổi trao đổi giữa các thành phố trong khu vực từ Rio de Janeiro hoặc San Juan đến Miami và Chicago, từ Thành phố Mexico hoặc Santiago đến Los Angeles và Denver.

Những thành phố này không chỉ có chung DNA là các đô thị mật độ dân cư thấp mà còn có những vấn đề tương tự, chẳng hạn như bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc, bạo lực, mô hình tăng trưởng không được kiểm soát và thiên tai.

Ngoài ra, chúng ta nên thừa nhận rằng các thành phố trên khắp châu Mỹ bắt nguồn từ các nền văn minh Thời kỳ tiền Colombo, xuất hiện từ hàng nghìn năm trước: các thành phố cổ đại như Cahokia, trung tâm lớn của văn hóa Mississippian hoặc Teotihuacan, một trong những thành phố lớn nhất thế giới trong thế kỷ thứ V – vốn đã được lên kế hoạch tuyệt vời nhưng đã bị phá hủy bởi một ngọn núi lửa ở thung lũng phía Nam Mexico. Sinh viên cần được dạy về các Thành phố đa sắc tộc này: nghiên cứu đặc điểm tự nhiên đã định hướng bố cục tổng thể của đô thị như thế nào và các khái niệm về không gian di tích, quảng trường công cộng và khu vực trung tâm của các đô thị ở châu Mỹ; quá trình hòa nhập vào môi trường tự nhiên, đã dẫn đến các đặc trưng về mô hình đô thị. 

Quy hoạch đô thị giữa Copenhagen và Hoa Kỳ - Một sự so sánh khập khiễng và các nguyên nhân đằng sau đó
Một phần của Teotihuacan

Ở thế kỷ XX, các KTS vĩ đại đã tìm cách kết nối với thiên nhiên.  Frank Lloyd Wright đã tạo ra một phong cách kiến ​​trúc mới – Kiến ​​trúc hữu cơ – bắt nguồn từ cảnh quan của nước Mỹ. Ông cũng tạo ra tầm nhìn cho thành phố Broadacre về một thành phố cảnh quan. Luis Barragán đã khám phá ra vẻ đẹp tuyệt vời trong cảnh quan núi lửa El Pedregal ở Mexico, đi tiên phong trong việc phát triển hòa hợp với môi trường. Oscar Niemeyer, ông mô phỏng sự hoa lệ của cảnh quan Brazil, tạo ra một kiến ​​trúc táo bạo với các hình thức gợi cảm. Ngoài các mô hình châu Âu, những người có tầm nhìn xa này đã đưa kiến ​​trúc Hiện đại phát triển theo những hướng mới, họ lấy cảm hứng từ chính mảnh đất của họ, không phải từ châu Âu.

Các thành phố của Mỹ đang đối mặt với những thách thức của thế kỷ XXI cũng nên làm như vậy: các giải pháp thiết kế đô thị của họ phải xuất phát từ bối cảnh lịch sử và môi trường cụ thể. Chúng ta hãy cảm ơn KTS Gehl và Copenhagen vì những bài học hấp dẫn của họ, nhưng chúng ta cũng hãy nhìn vào bên trong của mình: tiếp thu những bài học về bối cảnh, tôn trọng tự nhiên và cùng với những người đồng hương tại châu Mỹ – phía Bắc và phía Nam, cùng nhau tạo ra các thành phố phù hợp hơn trong tương lai.

Dịch: Hoàng Anh | Nguồn: Archdaily

XEM THÊM:

Bình luận từ Facebook