KTS Phạm Hoàng là vị Tư lệnh Binh chủng Công binh được tin yêu không chỉ bởi nhiều chiến tích phi thường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà còn bởi đức độ, tấm lòng yêu nước của một trí thức Việt Nam. 

Gương mặt KTS Việt Nam – KTS Phạm Hoàng
KTS Phạm Hoàng (1911 – 1979)

Kiến trúc sư Phạm Hoàng sinh năm 1911.

Tên khai sinh: Phạm Khắc Hệ, bí danh Phạm Hoàng.

Quê quán: Xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Tốt nghiệp kiến trúc sư Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa 8 (1932 – 1937).

Tham gia Cách mạng từ ngày Tổng khởi nghĩa 19/8/1945.

Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Hải Dương.

Học lớp Ngoại ngữ tại Việt Bắc (phục vụ công tác ngoại giao), sau khóa học được điều lên Văn phòng Trung ương Đảng, giúp việc đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh.

Ngày 22/9/1947 gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1948: Đảng phân công phục vụ quân đội.

Phó Cục trưởng Cục Quân nhu, Bộ Quốc phòng.

Tháng 5/1949: Phó Cục trưởng Cục Công binh.

Tháng 1/1951: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Công binh 151.

Tháng 8/1954: Chủ nhiệm Cục Công binh (toàn quân).

Từ tháng 6/1955 đến tháng 5/1961: Tham mưu trưởng sau đó là Cục trưởng Cục Công binh.

Năm1960: Học viên Học viện Quân sự Vorosilop (Liên Xô cũ).

Từ tháng 6/1965 đến tháng 4/1970: Hiệu trưởng Trường đại học Kỹ thuật Quân sự.

Tháng 3/1974: Ủy viên Hội đồng Giám sát quốc gia Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng 12/1977 đến tháng 9/1979: Chuyên viên phụ trách thiết kế xây dựng Tổng cục Hàng không dân dụng, Bộ Quốc phòng.

Kiến trúc sư Phạm Hoàng từ trần ngày 17/9/1979 tại Hà Nội.

Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Chiến thắng Hạng Nhất, Huân chương Chiến Công Hạng Nhì.

Đại tá Phạm Hoàng được ghi tên trong Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

Tỉnh Hải Dương suy tôn là danh nhân của tỉnh.

Phạm Khắc Hệ (Phạm Hoàng) sinh năm 1911 tại Xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình trí thức. Ông nội đỗ Đại khoa, Đệ Nhị giáp; ông thân sinh đỗ Hậu bổ cao nhưng không ra làm quan mà ở nhà dạy học.

Được gia đình nuôi dưỡng, học hành đầy đủ, năm 1937, Phạm Khắc Hệ tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, hành nghề kiến trúc sư. Ông là Trưởng phòng Nhà cửa của Hãng Hàng không Đông Dương; cố vấn doanh trại Quân đội Pháp; viên chức cao cấp được hưởng đãi ngộ vật chất rất cao, ngang với người “làng Tây” (cách nói cũ chỉ những người mang quốc tịch Pháp).

Có điều lý thú là ngôi nhà 113 Hàng Bạc, Hà Nội là ngôi nhà gia đình kiến trúc sư Phạm Khắc Hệ do kiến trúc sư Nguyễn Gia Hiển thiết kế. Kề liền là nhà ông Quảng Thái, một nhà kinh doanh vàng bạc lớn, có xưởng chế tác, lại do chính kiến trúc sư Phạm Khắc Hệ thiết kế. Khoảng năm 1944 thiết kế xong, xây dựng năm 1948. Ngôi nhà có diện tích lớn (300 m2) thông ra phố Đinh Liệt. Ban Quản lý phố cổ đã xếp hạng, chụp ảnh, vẽ ghi liệt kê là ngôi nhà cổ có giá trị. Về cơ bản ngôi nhà vẫn còn nguyên nét tạo dáng ban đầu nếu mặt chính nhà không bị sửa lại che mất chữ “Quảng”.

Gương mặt KTS Việt Nam – KTS Phạm Hoàng
Nhà 115 Hàng Bạc, Hà Nội (mặt cửa hàng), thiết kế xây dựng năm 1944 – 1948, KTS Phạm Hoàng
Gương mặt KTS Việt Nam – KTS Phạm Hoàng
Nhà 115 Hàng Bạc (biệt thự để ở phía trong)
Gương mặt KTS Việt Nam – KTS Phạm Hoàng
Nhà 115 Hàng Bác – Mặt cắt

Nét vẽ kiến trúc cuối cùng của ông trước khi tham gia Cách mạng là phác thảo trụ sở Hãng hàng không dự kiến đặt ở khoảng đất trống cạnh Nhà hát Lớn Thành phố, nay là khách sạn Hilton.

Cùng với lớp thanh niên trí thức thời đó, ông tham gia Cách mạng trong những ngày Tổng khởi nghĩa và được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Hải Dương.

Ông được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1947; được cử đi học tại Trường Ngoại ngữ (Bộ Giáo dục) tại Việt Bắc. Học được 6 tháng, ngày 3/10/1947, Trường bị máy bay Pháp oanh tạc, mở đầu trận tấn công lớn lên Việt Bắc. Trường giải thể, 45 học viên được phái về các cơ quan Trung ương. Phạm Hoàng (Trưởng tràng) được điều lên Văn phòng Trung ương Đảng, giúp việc Tổng Bí thư Trường Chinh.

Năm 1948, ông được cử vào Quân đội Nhân dân Việt Nam, giữ cương vị Cục phó Cục Quân nhu (thời gian này, ông có nhiều ý kiến trái ngược với Đại tá Cục trưởng Trần Dụ Châu, người sau này bị xử bắn về tội tham ô, hủ hóa). Tháng 5/1949, ông được điều về làm phó Cục trưởng Cục Công binh. Tháng 1/1951, chuyển thể Cục Công binh thành Trung đoàn Công binh 151, đơn vị Công binh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông giữ chức vụ Trung đoàn Trưởng, trực tiếp chỉ huy bộ đội Công binh tham gia các chiến dịch lớn từ biên giới đến đồng bằng và chiến dịch Điện Biên Phủ: đường sá, cầu gỗ, cầu phao. Sau chiến dịch Tây Nguyên và Thượng Lào (9/1952 đến 3/1953), Trung đoàn 151 được Bác Hồ tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ Hạng Hai (nay là Huân chương Chiến công).

Trong cuốn sách “Điện Biên Phủ – Chiến dịch lịch sử”, Đại tướng Tổng Tham mưu Trưởng Hoàng Văn Thái viết:

Ngày 8/5/1954, khi thất bại và đầu hàng, từng đoàn tù binh đi trên các trục đường kéo pháo về trại tập trung đã hết sức ngạc nhiên, không hiểu vì sao ta đã làm được những công trình to lớn như vậy sát tập đoàn cứ điểm, họ phải thốt lên: Chỉ với việc làm được những trục đường này, các ông đã thắng chúng tôi rồi.

Đại tướng viết tiếp: Trung đoàn Trưởng, Trung đoàn 151 Công binh là đồng chí Phạm Hoàng, một kiến trúc sư tham gia Cách mạng từ những ngày đầu Tổng Khởi nghĩa, là một cán bộ có quyết tâm và trách nhiệm cao, có tính kế hoạch chu đáo trong việc làm.

Trong suốt thời gian chống Mỹ ông luôn chỉ đạo Công binh, có thời gian trực tiếp chỉ huy tại mặt trận phía Nam. Thiếu tướng Đặng Văn Duy, nhà lão thành cách mạng, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Tên lửa, Chính ủy Binh chủng Không quân kể lại: Tôi còn nhớ hồi sống chung với anh ở bản Nghẹt, tỉnh Tuyên Quang (đầu năm 1947), nhiều lần tôi bắt gặp anh ngồi suy nghĩ, ghi chép về ngôi nhà sàn đồng bào Dao, kể cả quy hoạch đường sá, giếng nước, khu nuôi trâu bò, gia súc, khu vệ sinh… Anh luôn cố thu xếp thời gian đi thăm bà con, đồng thời là dịp anh quan sát kỹ được chỗ cầu thang lên xuống, nơi ăn ở, nơi lấy nước ăn. Vào đồng bằng sông Cửu Long anh lại có nhiều ý kiến về việc ăn ở, chỗ đi vệ sinh, những chiếc cầu khấp khểnh qua kênh rạch. Cuối năm 1976, anh Hoàng rủ tôi sang chơi nhà anh Nguyễn Cao Luyện, anh rút từ trong cặp ra những tài liệu, đóng xếp thành từng tập, cả mấy cuốn sổ ghi chép sờn gáy. Anh nói với anh Nguyễn Cao Luyện:

– Như hôm trước tôi đã có trao đổi ý kiến, nay mang theo sang đây một phần gia tài quý giá của tôi, gồm những tài liệu, sổ sách, bản vẽ nhà ở của bà con một số vùng mà tôi có điều kiện khảo sát, nghiên cứu, những phác thảo đề xuất cách giải quyết.

– Mình đề nghị hôm nào ta đến trụ sở Hội Kiến trúc sư, mời thêm một số anh em đến cùng bàn. Tài liệu này sẽ là nội dung chính để thảo luận.

Tôi ngồi xem sự chuyển giao những tài liệu, những đồ án, có thể gọi là gia tài thực sự quý báu của kiến trúc sư Phạm Hoàng, trong thời chinh chiến, lại đảm nhiệm trong trách nặng nề trong quân đội mà còn tâm huyết, để nhiều công sức như vậy. Nhà sàn các dân tộc miền núi phía Bắc, nhà và làng đồng bằng Bắc Bộ, vùng ven biển miền Trung, những bản ghi chép, những đề xuất giải pháp vệ sinh, nước sạch, làm cầu qua kênh rạch, đường sá, bến bãi, phát triển sau chiến tranh.

Anh Hoàng nói tiếp:

– Thời chiến, mình chưa thể đi sâu, biên soạn chu đáo, chỉ là phác thảo ghi lại ý kiến của mình trước những thực tế nổi cộm cần sớm được giải quyết cho dân, nhất là đối với các tầng lớp nghèo ở các địa phương.

Thiếu tướng Đặng Văn Duy kể tiếp:

Có lần thường trực Hội đồng Bộ trưởng (nay là Hội đồng Chính phủ) triệu tập đại diện các bộ, ngành có liên quan đến họp bàn việc xây dựng Lăng, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát chủ trì. Giữa buổi họp, Phó chủ tịch Huỳnh Tấn Phát bắt gặp anh Phạm Hoàng ngồi ở phía sau, ông chạy xuống, ôm hôn thắm thiết và mời anh lên phía trước. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát nói: Anh Phạm Hoàng và tôi là bạn học kiến trúc sư, bạn thân, nhưng do hoàn cảnh kháng chiến, mỗi người một nơi, bây giờ được cùng nhau tham gia xây dựng Lăng Bác là vinh dự, là hạnh phúc lớn trong cuộc đời mỗi chúng tôi.

Kiến trúc sư Phạm Hoàng đã đóng góp những ý kiến xác đáng cho bản thiết kế và được cử làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Giám sát chất lượng xây dựng Lăng.

Đại tá Phạm Hồng – Nguyên Viện trưởng Viện thiết kế, Bộ Quốc phòng kể:

Điều nổi bật ở anh là rất giỏi tập hợp quanh mình anh em khoa học – kỹ thuật, cùng nhau giải quyết những vấn đề “hóc búa” nhất được đặt ra trong quá trình chiến đấu và xây dựng binh chủng Công binh. Anh được suy tôn như một lãnh tụ của giới kỹ thuật quân sự.

Gương mặt KTS Việt Nam – KTS Phạm Hoàng
Mô hình tổng mặt bằng Học viện Kỹ thuật quân sự những năm 1960, KTS Phạm Hoàng

Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân gặp Tư lệnh Công binh Phạm Hoàng: Chúng tôi thấy rất rõ công lao thực sự to lớn của anh và bộ đội Công binh đã làm cho cả hệ thống sân bay quân sự khá hoàn chỉnh từ Vĩnh Linh đến Yên Bái, từ Kiến An đến Hòa Lạc, Cẩm Thủy, Cát, Thọ Xuân… Địch đến từ hướng nào cũng có những sân bay sẵn sàng cho máy bay cất cánh đánh địch… Không có Sân bay thì không quân lấy gì để cất cánh lên đánh địch. Không có hệ thống đường sơ tán máy bay, các công trình phòng tránh, kể cả những đường hầm đào sâu vào trong lòng núi để cất giấu máy bay, thì lấy đâu máy bay đánh địch được lâu dài và liên tục, để càng đánh ta càng thắng.

Với “đường Trường Sơn trên biển”, bến cảng, cầu tàu, căn cứ xuất phát của “những con tàu không số”, trận địa ra-đa trên một trong ba đỉnh cao của dãy núi Tam Đảo, đều có công sức, xương máu của các lực lượng Công binh do Tư lệnh trưởng, kiến trúc sư Phạm Hoàng đứng đầu.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói:

Rất hoan nghênh và cảm ơn Bộ tư lệnh Công binh và đồng chí Tư lệnh Phạm Hoàng đã làm được công trình quan trọng này (cầu tàu bền cảng ở Đồ Sơn). Chúng ta có được những công trình như thế này, có được những con người như thế này làm gì mà không đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Là người đứng đầu binh chủng Công binh, ông xác định nhiệm vụ Công binh là phải chiến đấu, nhưng quan trọng hơn là bảo đảm chiến đấu, đặc biệt là bảo đảm cơ động cho các binh đoàn cơ giới. Công binh phải tổ chức tới Trung đoàn, Lữ đoàn và trang bị, đặc biệt trang bị vượt sông, bắc cầu phải được tăng cường hơn nhiều, cơ giới hóa, hiện đại hóa. Các nhà quân sự, các tướng lĩnh gọi ông là nhà chiến lược Công binh.

Còn có thể kể ra nhiều chiến tích phi thường của KTS Phạm Hoàng, không chỉ chuyên môn, kỹ thuật mà nổi bật hơn cả là đức độ, là tấm lòng yêu nước thương yêu đồng đội của trí thức Việt Nam. 

Ông mất năm 1979. Hai mươi năm sau, một lễ tưởng niệm hoành tráng đã được tổ chức ngay tại phần mộ, với đầy đủ các thế hệ tướng lĩnh, các binh sĩ Công binh đã từng chiến đấu, phục vụ bảo đảm chiến đấu dưới sự lãnh đạo của ông, người anh cả đáng kính.

Con chim đầu đàn. Bậc thầy chân chính.

Ngô Huy Giao


Giới thiệu Chuyên đề : GƯƠNG MẶT KTS VIỆT NAM

Lớp lớp các thế hệ Kiến trúc sư Việt Nam đã góp sức kiến thiết cho đất nước nhưng chưa có một cơ sở dữ liệu nào về những con người tiên phong đó, chúng tôi rất mong muốn sẽ tạo nên một cơ sở dữ liệu về KTS Việt Nam đầy đủ nhất. 

Kiến Việt mong muốn tập hợp một chuỗi bài về các gương mặt KTS Việt Nam qua các thế hệ trên kienviet.net , từng bước xây dựng dữ liệu. Chúng tôi khai thác trước mắt cuốn “Thế hệ KTS Việt Nam” của Hội KTSVN phát hành cùng nội dung từ kênh blog của cố KTS Đoàn Đức Thành làm cơ sở đầu tiên và sẽ tiếp tục phát triển thêm công tác nghiên cứu này.

Việc tổng hợp chắc chắn sẽ gặp nhiều thiếu sót nhưng với mong muốn thành tâm lưu trữ lại thông tin về các thế hệ KTSVN, rất mong nhận được thêm thông tin góp ý và dữ liệu đóng góp của Quý độc giả. Xin chân thành cảm ơn. 

Mọi góp ý xin vui lòng email về [email protected] hoặc fanpage https://www.facebook.com/kienvietdotnet 

Thảo luận tại: https://www.facebook.com/groups/kientrucsuviet

CÙNG CHUYÊN ĐỀ:

Bình luận từ Facebook