Sinh thời, Bác Hồ thường gọi kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh là Chú Kiến – có lẽ do tạng người gầy, tác phong nhanh nhẹn của ông và cũng là kiến trúc sư duy nhất được làm việc trực tiếp thường xuyên với Bác trong những năm đầu giải phóng Thủ đô, nên Người thân mật gọi thế.

Nguyễn Văn Ninh sinh ngày 3-2-1908 tại làng Đông Kinh hay còn gọi là “làng Quan”, thị xã Lạng Sơn, nơi mặn mà tiếng lượn tiếng sli của những cô gái, chàng trai Tày, Nùng trong mỗi ngày chợ phiên Kỳ Lừa. Sống trong một gia đình dân tộc Tày có truyền thống học hành giỏi giang, đỗ đạt. Ông nội là Nguyễn Văn Cận, chú và cha thăng đến quan Phủ, quan Châu rồi “cáo quan” xin về nghỉ hưu trước tuổi để mở trường dạy học. Cha là Nguyễn Văn Tĩnh, bà con quen gọi là “ông Châu Tĩnh” tham gia Cách mạng Tháng Tám từ những ngày đầu, trở thành Chánh án toà án Cách mạng tỉnh Lạng Sơn.

KTS Nguyễn Văn Ninh – Ảnh từ cuốn: Thế hệ KTS Việt Nam do Hội KTSVN phát hành

Năm 12 tuổi, Nguyễn Văn Ninh đỗ đầu bậc tiểu học Trường Pháp-Việt (École Franco- Annmite) Lạng Sơn, lần đầu tiên từ biệt người thân, xa xứ Lạng xuống miền xuôi học tiếp bậc trung học. Vốn là người tính tình bộc trực và ngay thẳng, luôn hướng theo điều hay lẽ phải, không chịu được cảnh trái tai gai mắt, những năm học ở Trường Bưởi – Hà Nội, đã có lần cùng các bạn đồng môn tham gia bãi khóa phản đối tên đốc học người Pháp hay đánh đập học sinh một cách tàn nhẫn. Trong ngày Lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh (24-3-1926), ông đã bị mật thám ập đến phong toả và đàn áp, suýt bị nhà trường đuổi học.

Là một trong số hai người Việt Nam học Khoa Kiến trúc, khoá 2 (1926 -1931), Trường Mỹ thuật Đông Dương (cùng lớp với Nguyễn Tường Tam tức nhà văn Nhất Linh, ông này sau chuyển sang Khoa Mỹ thuật rồi bỏ dở sang viết văn, làm chính trị). Mặc dù điều kiện học tập gặp nhiều khó khăn, các kiến trúc sư giảng dạy ít có điều kiện lên lớp đều đặn vì phải dành nhiều thời gian cho sáng tác, song vốn là người chăm học, thông minh có trí, Nguyễn Văn Ninh đã tự mày mò học trong những bộ sách quý về kiến trúc (do hoạ sĩ Hiệu trưởng Victor Tardieu cung cấp cho thư viện nhà trường) và những tác phẩm của các thầy thiết kế cho Hà Nội để nâng cao kiến thức. Nhờ đó mà trở thành một sinh viên giỏi, chiếm lĩnh đỉnh cao trong học tập – đỗ đầu khoá, nhận Bằng tốt nghiệp Kiến trúc sư Đông Dương – được thầy yêu, bạn trọng.


KTS Nguyễn Văn Ninh (ngoài cùng bên trái) cùng thầy trò trường Mỹ Thuật Đông Dương năm 1920

Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh giàu tài năng, nhưng vào nghề cũng gian truân như những kiến trúc sư Việt Nam khác thời bấy giờ. Ông bị vấp ngay phải sự chèn ép, bạc đãi của thực dân: lang thang không có công ăn việc làm, đúng là Ông nghè, kia như ông cử cũng nằm co ôm cái mảnh bằng (Tú Mỡ) .

Bế tắc với nghề, ngán ngẩm với cuộc sống nghèo khổ, các kiến trúc sư Việt Nam thế hệ đầu tiên thường hay tâm sự với nhau, nếu phải xiarangcop (1) để kiếm đủ ngày hai bữa cơm thì cũng đành. Thỉnh thoảng ông lên Lạng Sơn thiết kế một số biệt thự, nhà ở cho bạn bè, trong đó có ngôi biệt thự của ông đốc Âu có tiếng là đẹp nhất thị xã (đến năm 1979, chiến tranh biên giới đã phá hủy hoàn toàn công trình này). Công ăn việc làm bữa đực bữa cái, cậy cục mãi kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh mới xin được làm công nhật cho tổ chức công thự ở Hà Nội, giá công rẻ mạt, bảy hào một ngày.

Câu lạc bộ Ba đình – KTS Jacques Lagisquet & KTS Nguyễn Văn Ninh

Vào một ngày đầu năm 1933, tình cờ ông gặp kiến trúc sư Arthur Kruze, Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc, thầy hỏi thăm công ăn việc làm của người học trò giỏi năm trước, thầy cảm thông và giúp đỡ bằng cách thay thầy thiết kế giúp kiến trúc sư Jacques Lagisquet (Sở Nhà đất thành phố Hà Nội) mặt tiền nhà Câu lạc bộ Ba Đình – Hà Nội. Công việc hoàn thành tốt đẹp, thiết kế theo phong cách kiến trúc hiện đại, tạo nên những mảng đặc rỗng và khối kiến trúc sắc nét, được giới kiến trúc sư tán thưởng, được thầy Hiệu trưởng, hoạ sĩ Victor Tardieu biết đến. Một hôm thầy Hiệu trưởng nói với kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh: Các công sở ở Hà Nội không còn nhận kiến trúc sư, tôi có quen một vài quan chức ở Bộ Công Nam triều, anh có muốn vào làm việc ở Huế thì thầy giới thiệu? Thế là từ giữa năm 1933, ông trở thành kiến trúc sư cung đình Huế.

Những năm ở Huế làm việc dưới sự điều hành của Thượng thư Bộ Công kiêm mỹ thuật và lễ nghi Thái Văn Toản, sau này là Thượng thư Tôn Thất Quảng, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh được giao chuyên về thiết kế tu bổ và xây dựng nội ngoại thất các cung điện, lăng tẩm; thiết kế mới một số công thự, biệt thự… Mấy năm sau, hoạ sĩ Tô Ngọc Vân được Bộ Công giao phụ trách chuyên về trang trí nội ngoại thất. Hai ông vốn là bạn thân từ những năm đầu học ở Trường Mỹ thuật Đông Dương, nay có dịp hàng ngày ở bên nhau cùng bàn về nghệ thuật, cùng làm đẹp cho cung đình Huế nên đã đem hết sức mình sáng tác những tác phẩm tốt nhất.

Khi tiếp xúc với người và cảnh Đà Lạt, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh nhận thấy đây là nơi có thể tổ chức hoạt động kiến trúc rộng rãi, môi trường xây dựng phong phú, thiên nhiên đẹp và có nhiều điều kiện thuận lợi cho sáng tác kiến trúc. Kiến trúc sư đã tìm cách thoát ly bộ máy Nam triều để được tự do tìm tòi khuynh hướng sáng tác riêng, đổi mới cả nội dung lẫn hình thức kiến trúc. Ngày ấy Veyssyre và Joamon, hai kiến trúc sư người Pháp, tránh cuộc chiến tranh Trung – Nhật ở Thượng Hải (Trung Quốc) sang Việt Nam mở văn phòng kiến trúc ở Sài Gòn, đã giúp kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đạt nguyện vọng và mời ông hợp tác. Từ đó văn phòng kiến trúc này mở thêm chi nhánh ở Đà Lạt. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh và Veysseyre thường trực ở Đà Lạt đã sáng tác chung một số biệt thự, nhà thờ các ngành đạo, nhà băng, đồn điền, xây dựng ở Sài Gòn và Đà Lạt khá thành công. Đặc biệt, một công trình được dư luận thời bấy giờ đánh giá cao về ý tưởng và giải pháp kiến trúc theo xu hướng hiện đại, đó là nhà nghỉ của Bảo Đại ở Đà Lạt, thiết kế năm 1938, thi công xong năm 1943. Về mối quan hệ này, lúc sinh thời tôi có hỏi kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, ông tâm sự: Tôi dựa vào kiến trúc sư Pháp để người Pháp và Nam triều Huế kiêng nể, họ dựa vào tôi để có nhiều khách hàng người Việt Nam.

Làm việc được mấy năm thì Nhật đảo chính Pháp, văn phòng kiến trúc ở Đà Lạt giải thể. Là một trí thức yêu nước vốn thiện cảm với Cách mạng, ông đã tham gia giành chính quyền ở Đà Lạt ngay từ những ngày đầu mùa Thu năm 1945. Do nhiệt tình với công tác cách mạng và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, ông được cử vào Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Viên (tức tỉnh Lâm Đồng ngày nay), liền đó cùng lực lượng vũ trang phải đối phó với Nhật, rồi chống quân đội Pháp theo đường Buôn Ma Thuột tấn công sang Đà Lạt. Ông tổ chức đưa các cơ quan và nhân dân tản cư xuống Phan Rang, cuộc sống gian khổ khiến ông mệt mỏi và phát bệnh đến kiệt sức. Được chính quyền cách mạng đưa vào căn cứ điều trị rồi chuyển ra Hà Nội.

Ở Hà Nội, gặp lại các bạn kiến trúc sư và họa sĩ, các ông bàn bạc thực hiện chủ trương của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức thành lập lại Trường Mỹ thuật trong chế độ mới, ông được cử làm giảng viên. Đang chuẩn bị khai giảng thì toàn quốc kháng chiến. Ông lên Lạng Sơn, cùng gia đình tản cư vào Bình Gia, trung tâm của an toàn khu (ATK). Giữa năm 1947, ông được cử vào Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Lạng Sơn, phụ trách một số công tác đặc biệt như: tiễu phỉ trừ gian, phá hoại cầu đường, vườn không nhà trống, xây dựng căn cứ địa v.v… Trong thời gian ngắn ông đã thiết kế và chỉ đạo thi công trụ sở Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh, các cơ quan, bệnh viện, trường học, trạm xá quân y, doanh trại quân đội, chợ kháng chiến, phố kháng chiến v.v… Ông đã tổ chức xây dựng thủ phủ kháng chiến tỉnh Lạng Sơn tại khu rừng Kéo Coong thuộc địa phận huyện Bình Gia (1949). Tại đây ông đã thiết kế thi công nhà hội trường của tỉnh bằng tranh, tre, gỗ… quy mô đến năm trăm người ngồi họp. Công trình được tác giả nghiên cứu sâu về giải pháp cấu tạo khung sườn hợp lý, không có những hệ cột giữa, nên tạo được không gian thoáng rộng mà đẹp, được cán bộ và nhân dân địa phương yêu thích.

Ngày 4-5-1948, ông được đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương.

Cuối năm 1949, ông được cử làm Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Lạng Sơn .

Tháng 6 năm 1950, Bộ Giao thông – Công chính quyết định thành lập Vụ Kiến trúc và được cấp trên đồng ý điều kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh về lãnh đạo Vụ. Nhận Quyết định, ông bàn giao công việc, chia tay cơ quan và gia đình ở Lạng Sơn rồi tìm đường lên cơ quan mới lúc bấy giờ đang đóng tạm tại Phòng Kiến trúc I ở Đại Từ – Thái Nguyên rồi lên Tuyên Quang. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh và kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện – Ban Giám đốc Vụ Kiến trúc – lo xây dựng và phát triển tổ chức thiết kế kiến trúc đầu tiên của Nhà nước ta. Với gần 50 nhân viên, trong đó có 10 kiến trúc sư, Vụ Kiến trúc bước đầu hoạt động gặp rất nhiều khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần. Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch trong thư gửi Hội nghị Kiến trúc sư lần thứ nhất (24-27/4/1948), hai ông đã soạn thảo Đề cương về kiến trúc sư phục vụ kháng chiến và sau khi kháng chiến thành công. Nội dung Đề cương có nhiều sáng tạo, mang tính hiện thực cao, đã mở ra phương hướng sáng tác mới cho giới kiến trúc sư cách mạng. Đồng thời, cũng đặt ra chương trình nghiên cứu các công trình kiến trúc truyền thống của các dân tộc Việt Bắc, trung du và đồng bằng sông Hồng .

Vụ Kiến trúc giải thể, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh chuyển sang làm chuyên viên Ban Nghiên cứu Kế hoạch và Kỹ thuật, Bộ Giao thông-Công chính .

Tháng 9 năm 1954, các cơ quan đoàn thể từ Chiến khu trở về Hà Nội, với cương vị Cục trưởng Cục Thiết kế Dân dụng, Bộ Thủy lợi-Kiến trúc, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh vừa lo tiếp quản Nha Kiến trúc của chế độ cũ để lại, vừa tổ chức và quản lý nhân sự trong cơ quan mới, đồng thời trực tiếp bắt tay ngay vào thiết kế, xây dựng Lễ đài và Đài Liệt sĩ xây dựng ở Quảng trường Ba Đình để phục cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân Hà Nội đón Hồ Chủ tịch, Lãnh đạo Đảng và Chính phủ về Thủ đô, ngày 1-1-1955.

Lễ đài Ba đình đầu tiên bằng gỗ ván do KTS Nguyễn Văn Ninh thiết kế 1955
Lễ đài Ba đình 1960 – KTS Nguyễn Văn Ninh – Ảnh Tạp chí kiến trúc

Công trình Lễ đài Ba Đình có dáng dấp như tam quan hai tầng, bố cục đối xứng, ở giữa nhô cao, thấp dần về hai bên. Phần đế vững chãi, ở giữa có ba cửa cuốn vòm lớn. Hai bên có lễ đài phụ thấp hơn, chạy dài theo bề mặt Quảng trường, gắn nhiều dãy bục gỗ đứng từ thấp lên cao, chứa được hàng mấy trăm người. Tầng hai là lễ đài chính – nơi Bác Hồ, Lãnh đạo Đảng và Chính phủ đứng vẫy chào nhân dân Thủ đô – trên có mái đua che nắng mưa, ở giữa có ba cửa đi thông sang các phòng khách và cầu thang ở phía sau. Khối lễ đài chính nhô cao, trên đó nổi bật bức chân dung Hồ Chủ tịch khổ lớn. Bộ mái lớn dốc xoè ra bốn phía, bốn góc có tàu đao cong. Mái phụ và khối kiến trúc hai bên thấp hơn, cũng cong như mái đình truyền thống. Toàn bộ lễ đài toát lên vẻ trang nghiêm, đậm đà tính dân tộc, giản dị mà gần gũi, phảng phất chút tâm linh. Tuy công trình vừa thiết kế vừa thi công trong hai tháng, xây dựng tạm thời bằng gỗ ván, kết cấu tháo lắp nhiều lần, song bút pháp và phong cách nghệ thuật của ông đã nghiễm nhiên chiếm lĩnh tình cảm của nhân dân ta và khách nước ngoài. Công trình tồn tại đến năm 1958 thì dỡ bỏ để chuẩn bị xây lại bằng vật liệu kiên cố.

Đài tưởng niệm liệt sỹ do KTS Nguyễn Văn Ninh thiết kế

Ông là người đưa ra ý tưởng về tượng đài Tổ quốc ghi công liệt sĩ có hình trụ cao vút mà trước đây chưa từng có. Đài Liệt sĩ bằng gỗ, là một khối hình trụ vuông, nhỏ dần theo chiều cao, kết thúc bằng bộ mái cong, chính giữa nổi bật hàng chữ Tổ quốc ghi công xếp theo chiều dọc đài, bên dưới có các lớp đế rộng dần, lư hương được đặt trang trọng ở chính giữa, dưới cùng là hệ bậc tam cấp. Hình ảnh Đài Liệt sĩ ban đầu này sau đó đã được lặp lại bằng gạch xây dựng ở Nghĩa trang Mai Dịch-Hà Nội. Đài Liệt sĩ đã gây cảm xúc mạnh bởi đã khai thác kiến trúc truyền thống vào trong từng chi tiết, tạo sự gần gũi mà trang nghiêm, được cả nước coi là khuôn mẫu để làm theo.

Năm 1957, Bác Hồ trực tiếp giao kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh thiết kế ngôi nhà sàn của Người ở trong vườn Phủ Chủ tịch.

Bác nói: Chú thiết kế cho Bác ngôi nhà giống như nhà sàn Việt Bắc trước kia Bác đã ở. Chú xem nên làm như thế nào thật đơn giản, chỉ cần một phòng ngủ và một phòng làm việc nhỏ thôi, không nên làm rộng rãi, cầu kỳ. Quanh nhà có hàng hiên, đủ kê ghế ngồi đọc sách và một lối đi cho một người đi.

Nghe Bác nói xong, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đề nghị Bác đồng ý cho đặt khu vệ sinh trong nhà và đặt thiết bị điều hoà nhiệt độ để bảo đảm tiện nghi tối thiểu, vì Bác đã cao tuổi, nhưng Bác không đồng ý. Quá ngỡ ngàng trước những yêu cầu đơn giản của Bác, so với ý tưởng về một ngôi biệt thự xinh xắn và khang trang mà kiến trúc sư ấp ủ bấy lâu để xứng với một nguyên thủ quốc gia. Bác đã thuyết phục nhanh chóng để kiến trúc sư lĩnh hội trọn vẹn ý Bác, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đã làm Bác vừa lòng về nơi làm việc, nghỉ ngơi. Công trình đưa vào sử dụng ngày 17-5-1958, nhân dịp mừng ngày sinh lần thứ 68 của Người. Ngôi nhà được xây dựng bằng gỗ, mái lợp ngói, loại vật liệu truyền thống được ứng dụng phổ biến trong những năm đầu giải phóng Thủ đô. Nhà có hai gian chính như ngôi nhà tre nứa của Bác ở Việt Bắc, song rộng hơn và có thêm hai gian hồi ở hai đầu là nơi bố trí cầu thang và hàng hiên (dài 10,5m rộng 6,2m). Tầng dưới dành làm nơi Bác làm việc mùa hè, họp Bộ Chính trị, tiếp khách, có bệ xi măng chung quanh để các chaú thiêú nhi đến thăm Bác có chỗ ngồi chơi và ngắm cá vàng, chung quanh để trống thông thoáng, không gian rộng mở hoà vào ao cá đằng trước, sân vườn và những cây cổ thụ trong vườn. Lần theo bậc thang gỗ lên tầng hai, nơi đây có hai gian nhỏ mỗi gian rộng trên 10m2 làm phòng ngủ và làm việc, hàng hiên bao quanh.

Bác Hồ chụp ảnh cùng các chiến sỹ thi công nhà sàn – KTS Nguyễn Văn Ninh đeo kính ngồi thứ 5 từ phải sang

Ngôi nhà nhỏ, đơn sơ, không cao sang lộng lẫy, khung cảnh dân dã gần gũi với làng quê, gắn bó với nhà sàn Việt Bắc, song giá trị tư tưởng và nghệ thuật lại rất cao, bởi kiến trúc trong sáng, chân thực, khiêm tốn, sinh động thể hiện được như cuộc sống thanh bạch của Bác lúc sinh thời. Ngày nay công trình đã vừa tròn 50 năm, trở nên di tích lịch sử để con cháu muôn đời sau đến chiêm ngưỡng và học tập theo gương Bác.

Nhà sàn bác Hồ do KTS Nguyễn Văn Ninh thực hiện

Năm 1960, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh lại vinh dự được cấp trên giao thiết kế Lễ đài Ba Đình bằng vật liệu kiên cố để sử dụng lâu dài. Với tinh thần trách nhiệm cao, năng lực sáng tạo dồi dào, ông đã dành cả tâm hồn cho tác phẩm. Đã thể hiện tốt giải pháp không gian, hình khối, đường nét kiến trúc, đáp ứng yêu cầu hiện đại, dân tộc, trang nghiêm và giản dị. Là một trong những công trình đầu tiên ở miền Bắc sử dụng gạch làm kết cấu chịu lực chính. Về bố cục mặt bằng vẫn trên tinh thần lễ đài gỗ trước đây. Lễ đài chính ở trung tâm, cao hai tầng, mái bằng, có phần đế vững chãi chắc khoẻ ổn định, đối xứng. Lễ đài phụ ở hai cánh bên. Bác Hồ đã trực tiếp góp ý với Chú Kiến về đồ án thiết kế, Người nói: Bác muốn trổ mỗi bên mặt hồi một cửa sổ, chú thấy có nên không?, ý Bác được thực hiện. Sau này từ hai ô cửa làm nơi quan sát hai bên lễ đài phụ và dòng người duyệt binh, diễu hành rất thuận tiện trong công tác tổ chức, chuẩn bị. 

Bác nhìn xa trông rộng, song lại rất tôn trọng kiến trúc sư, chỉ gợi ý chứ không ra lệnh. Hình ảnh Bác Hồ đứng trên Lễ đài Ba Đình lịch sử được khắc sâu trong tâm khảm nhân dân ta mãi mãi, dù Người đã đi xa và công trình kiến trúc ngày nay không còn nữa (vị trí Lễ đài ở nơi xây Lăng Bác bây giờ).

KTS Nguyễn Văn Ninh lãnh đạo Cục thiết kế Dân dụng, Bộ Thuỷ lợi – Kiến trúc (1955-1958), Bộ Kiến trúc (từ năm 1958), Viện thiết kế Kiến trúc, Bộ Kiến trúc (1961-1962) – nay là Công ty tư vấn Xây dựng Dân dụng Việt Nam, Bộ Xây dựng- hơn 7 năm. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về quy hoạch và mở rộng thành phố Hà Nội: Phương châm cải tạo và mở rộng thành phố phải phục vụ nhiệm vụ là trung tâm chính trị và văn hoá của cả nước, phục vụ công nghiệp, phục vụ sản xuất và phục đời sống của nhân dân lao động, ông đã chỉ đạo cơ quan thiết kế hàng loạt công trình công cộng có giá trị lớn về mặt nghệ thuật, có thể nói đây là thời kỳ vàng son của giới kiến trúc sư công tác tại Cục thiết kế Dân dụng. Một số tác phẩm ngày đó sau này đã được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước, đợt I .

Từ giữa năm 1962, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh chuyển sang công tác ở Uỷ ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước, phụ trách Vụ Quản lý thiết kế, Vụ thiết kế Tiêu chuẩn. Ông đã chỉ đạo nghiên cứu các tiêu chuẩn, quy phạm ngành và các mẫu thiết kế điển hình về cấu kiện, nhà ở và các công trình công cộng xây dựng ở thành phố, nông thôn.

Khi Bác Hồ qua đời, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh – người có vinh dự được Bác Hồ đặt cho cái tên trìu mến Chú Kiến và tặng Huy hiệu của Người hai lần – đã quên ăn, quên ngủ, sáng tác một phương án Lăng Bác, thể hiện hình khối kiến trúc như một hòn ngọc Viễn Đông. Đây cũng là một trong những phương án có ý tưởng tốt, giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Với tác phẩm này đủ để làm bằng cứ chứng minh Nguyễn Văn Ninh là một kiến trúc sư tài năng.

Năm 1972 nghỉ hưu, trong những năm này ông có điều kiện quan tâm nhiều đến công tác đào tạo. Luôn chăm lo đến chất lượng đội ngũ kiến trúc sư trẻ và đã liên tục hướng dẫn nhiều khoá sinh viên làm đồ án tốt nghiệp.

Cụm công trình kiến trúc do cố kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh sáng tác Lễ đài Ba Đình năm 1955 và 1960, Nhà sàn Bác Hồ đã được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước về tác phẩm Văn học – Nghệ thuật, đợt 1, năm 2001 .

Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh mất trong một cơn đau do tiêm nhầm thuốc, ngày 15-4-1975, để lại những tác phẩm mãi mãi đi vào lịch sử kiến trúc nước nhà.

Bài: KTS Đoàn Đức Thành – Ảnh: VNCC, tổng hợp

________________________________

(1)Tức xỉa răng cọp , nói lóng theo âm tiếng Pháp .

Giới thiệu Chuyên đề : GƯƠNG MẶT KTS VIỆT NAM

Lớp lớp các thế hệ Kiến trúc sư Việt Nam đã góp sức kiến thiết cho đất nước nhưng chưa có một cơ sở dữ liệu nào về những con người tiên phong đó, chúng tôi rất mong muốn sẽ tạo nên một cơ sở dữ liệu về KTS Việt Nam đầy đủ nhất. 

Với mong muốn đó Kiến Việt mong muốn tập hợp một chuỗi bài về các gương mặt KTS Việt Nam qua các thế hệ trên kienviet.net , từng bước xây dựng dữ liệu. Chúng tôi khai thác trước mắt cuốn “Thế hệ KTS Việt Nam” của Hội KTSVN phát hành cùng nội dung từ kênh blog của cố KTS Đoàn Đức Thành làm cơ sở đầu tiên và sẽ tiếp tục phát triển thêm công tác nghiên cứu này.

Việc tổng hợp chắc chắn sẽ gặp nhiều thiếu sót nhưng với mong muốn thành tâm lưu trữ lại thông tin về các thế hệ KTSVN, rất mong nhận được thêm thông tin góp ý và dữ liệu đóng góp của Quý độc giả. Xin chân thành cảm ơn. 

Mọi góp ý xin vui lòng email về [email protected] hoặc fanpage https://www.facebook.com/kienvietdotnet 

Bình luận từ Facebook