Quỹ Sống bền vững là quỹ xã hội hoạt động phi lợi nhuận, nhằm mục đích hỗ trợ cộng đồng và địa phương bị ảnh hưởng do thiên tai và biến đổi khí hậu có được cuộc sống an toàn, ổn định và bền vững.

1. Giới thiệu về Quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng sống bền vững (Quỹ Sống bền vững)

Quỹ Hỗ trợ Phát triển Cộng đồng Sống bền vững (Gọi tắt là Quỹ Sống bền vững) được cấp phép hoạt động số 2470/QĐ-BNV ngày 07/11/2018. Quỹ Sống bền vững có tiền thân là Dự án Nhà Chống lũ hoạt động từ tháng 11/2013.

1.1. Các hoạt động hỗ trợ cộng đồng thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu

Quỹ Sống bền vững có hai chương trình chính là Nhà Chống lũ và Hạnh phúc xanh. Chương trình Nhà Chống lũ là một dự án phát triển cộng đồng có mục đích hỗ trợ người dân và cộng đồng ở các vùng dễ bị tổn thương bởi thiên tai và biến đổi khí hậu có nơi ở an toàn. Chương trình Nhà Chống lũ có 2 hợp phần là dự án Nhà An toàn và dự án Làng Hạnh phúc. 

Trong 7 năm thực hiện dự án Nhà An toàn, chúng tôi đã hỗ trợ xây 795 căn nhà với 9 mô hình ở các tỉnh Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Khánh Hòa, Sóc Trăng, Hậu Giang. Trong năm 2021, dự án Nhà An Toàn tiếp tục tục triển khai ở các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Bình, và mở rộng thêm ở các tỉnh Đồng Tháp, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. 

Ngoài việc hỗ trợ các hộ gia đình đơn lẻ từ Dự án Nhà An toàn, Nhà Chống lũ đã mở rộng và phát triển theo quy mô cộng đồng trong Dự án Làng Hạnh phúc. Dự án này có cách tiếp cận từ cộng đồng và hỗ trợ tổng thể từ quy hoạch, kiến trúc xây dựng đến cảnh quan. Trong năm 2019 – 2020, dự án Làng Hạnh phúc bắt đầu triển khai tại làng tái định cư do nguy cơ bị sạt lở của người dân tộc Xơ-đăng ở Huyện Nam Trà My (72 hộ gia đình), và một làng của người Ca Dong ở huyện Bắc Trà My (50 hộ gia đình). Dự án vẫn tiếp tục triển khai trong các năm 2021 – 2022. 

Trong năm 2021, Quỹ Sống và chương trình Nhà Chống lũ sẽ xem xét việc tổ chức các buổi tập huấn về kỹ năng sinh tồn để ứng phó với thiên tai cho người dân ở các vùng của dự án. 

Chương trình Hạnh phúc xanh có mục tiêu thúc đẩy việc trồng cây để tăng mật độ cây xanh ở đô thị và phục hồi rừng ở Việt Nam. Hiện nay, Hạnh phúc xanh đang triển khai dự án trồng rừng ngập mặn 50ha tại Vĩnh Châu, Sóc Trăng trong thời gian 05 năm.

1.2. Phương pháp tiếp cận

Phương pháp tiếp cận của chương trình Nhà Chống lũ trong quá trình triển khai hoạt động là phương pháp “Chung tay” dựa trên việc xây dựng và duy trì mối quan hệ bền vững giữa người dân hưởng lợi, chính quyền địa phương, dự án và những bên hỗ trợ khác (chuyên gia, nhà cung cấp vật liệu xây dựng, mạng lưới tình nguyện viên,…). 

Ví dụ như trong dự án Nhà An toàn, phần đối ứng chung tay của các bên được thể hiện như sau:

  • Dự án Nhà An toàn: cùng thiết kế với hộ dân, giám sát quá trình xây dựng và hỗ trợ một phần kinh phí từ 20 – 35 triệu cho nhà cải tạo, và từ 30 – 45 triệu cho nhà xây mới;
  • Chính quyền địa phương: giới thiệu danh sách các hộ cần hỗ trợ và phối hợp với dự án khảo sát theo danh sách đã giới thiệu; cung cấp thông tin các nguồn vốn vay, các khoản ưu đãi để người dân có cơ hội tiếp cận. Ngoài ra, cùng người dân giám sát dự án và phối hợp với dự án thúc đẩy tiến độ xây dựng, động viên người hưởng lợi;
  • Hộ gia đình hưởng lợi: cùng tham gia vào quá trình thiết kế với dự án từ lúc cung cấp số liệu về khả năng, nhu cầu và nguyện vọng cho đến khi lên ý tưởng và hoàn thiện bản vẽ; tuân thủ theo thiết kế đã thống nhất và cần đối ứng phần nhân công, kinh phí còn lại để hoàn thiện căn nhà (vật liệu xây dựng và công xây nhà);
  • Giới chuyên môn và NPOs (các tổ chức phi lợi nhuận): hỗ trợ tư vấn chuyên môn cho dự án, chuyển giao công nghệ và đào tạo cho người dân (nếu có);
  • Doanh nghiệp tài trợ: Ưu đãi giá bán vật liệu xây dựng theo giá dành cho đại lý cấp 1, tặng quà và các thiết bị cần thiết hỗ trợ các hộ hưởng lợi (nếu có).

Phương pháp chung tay giúp Nhà Chống lũ trở thành dự án của cộng đồng: Chính cộng đồng giúp đỡ cộng đồng. 

1.3. Một số khó khăn khi triển khai dự án Nhà An toàn

  • Tại một số khu vực, người dân thực hiện việc xây dựng theo thói quen và không có kiến thức về xây dựng cơ bản, vậy nên khi xảy ra thời tiết cực đoan hoặc biến đổi khí hậu như hiện nay, công trình không đủ sức chống chọi. Việc thiếu kiến thức về xây dựng cơ bản trong từng khu vực, đôi khi lại là đa số nên rất khó thuyết phục người dân tuân theo thiết kế mới so với họ.
  • Một số quy định quá cứng nhắc về xây dựng công trình (như tiêu chí ba cứng) khiến xóa trắng kiến trúc truyền thống ở một số khu vực. Việc xây dựng phục hồi để bảo tồn cũng trở nên bất khả thi vì những quy định này.  
  • Một số khu vực trong lĩnh vực kiến trúc xây dựng vẫn chưa có chế tài điều chỉnh để áp dụng. Ví dụ như quy định về kiến trúc đơn vị sử dụng để ở nhưng không được xây dựng cố định trên nền đất như nhà ở thông thường (nhà lưỡng cư, nhà phao). Việc này dẫn đến rất khó khăn khi lựa chọn đưa ra mô hình thích ứng.

2. Các mô hình nhà thích ứng với thiên tai của chương trình Nhà Chống lũ

Trong 7 năm triển khai hỗ trợ xây nhà an toàn cho người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai ở các vùng từ Bắc đến Nam, Nhà Chống lũ đã nghiên cứu và phát triển ba nhóm mô hình chính bao gồm: Nhà kê nền, Nhà có gác và Nhà phao.

2.1. Nhà kê nền

2.1.1. Nhà kê nền thấp

a. Khu vực áp dụng

Mô hình nhà kê nền thấp có thể được áp dụng cho các khu vực có địa hình sườn dốc, khu ở gần các khe suối nhỏ, cụm dân cư ở vùng đồng bằng bán sơn địa và vùng núi thấp. Các khu vực này khi mưa lớn dễ ngập úng mức độ thấp do nước dâng; sạt lở đất cục bộ ở mức nhỏ hoặc dòng chảy xiết cuốn theo thực bì, bùn đất, đá sỏi, có nguy cơ ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân và tác động đến cấu trúc công trình.

b. Nguyên lý hoạt động

Nhà kê nền thấp là mô hình sàn nhà được kê lên hệ móng cột cách mặt đất trung bình 0,5m. Độ cao này được tính toán dựa theo thực tế để đảm bảo bùn hoặc nước lũ và các vật cuốn theo có thể chảy qua khoảng trống dưới sàn nhà dễ dàng mà không gây tác hại đáng kể đến hệ kết cấu khung nhà.

c. Bản vẽ mô hình

2.1.2. Nhà kê nền cao

a. Khu vực áp dụng

Nhà kê nền cao là giải pháp cho các gia đình đang sống trong các căn nhà gỗ truyền thống ở vùng có mức lũ cao từ 1 – 3m. Mô hình này vừa bảo tồn kiến trúc nhà gỗ truyền thống vừa giúp người dân có thể sinh hoạt thuận tiện, an toàn khi lũ đến. 

Mô hình tương thích với khu dân cư thuộc hạ lưu sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố (tỉnh Hà Tĩnh), lưu vực sông Gianh (các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình) và các khu vực dân cư thuộc hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn (các huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam). 

b. Nguyên lý hoạt động

Sàn nhà bằng bê tông cốt thép được nâng lên trên mặt đất khoảng 3m (cao hơn mức lũ lịch sử 2-2,5m của khu vực này) với hệ cột được tính toán theo hệ cột khung nhà hiện trạng. Nhà gỗ truyền thống được đưa lên trên sàn bê tông, vừa là không gian ở vừa là nơi tránh lũ khi xảy ra thiên tai. Khi không có lũ, người dân có thể dựng vách, liếp che tầng 1 để tăng thêm không gian sinh hoạt. 

c. Bản vẽ mô hình

2.1.3. Nhà kê nền linh hoạt

a. Khu vực áp dụng

Mô hình có nguyên lý hoạt động phù hợp với đặc thù của vùng ngập lụt diện rộng, có mực nước lũ dâng chậm và lặp lại thường xuyên hàng năm. Mức ngập lụt tăng dần theo từng năm dưới tác động của nước biển dâng và biến đổi khí hậu hiện nay. Thời gian không ngập lụt đủ dài đảm bảo người dân có thời gian nâng nhà lên, dần thích ứng theo mức ngập lụt mới. 

Mô hình này đã và đang được chương trình Nhà Chống lũ áp dụng tại miền Tây Nam Bộ, như các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre.

b. Nguyên lý hoạt động

Mô hình có thể tách rời liên kết giữa khối nhà và móng để nâng nhà khi cần mà không phải phá huỷ kết cấu. Mô hình nhà là một lõi an toàn, thích ứng linh hoạt với đặc thù thiên tai mà không hao tốn quá lớn kinh phí.

c. Bản vẽ mô hình

2.2. Nhà có gác

2.2.1. Nhà hai gác chỉ có người ở

a. Khu vực áp dụng

Mô hình được áp dụng cho các vùng trũng thấp, bị ngập lũ từ 1,5-3m và thường xuyên kèm theo bão lớn hàng năm. 

Mô hình này đã được dự án áp dụng cho các khu dân cư bên ngoài đê ngăn lũ, khu vực phía địa hình cao bị ngăn cách bởi đường sắt, đường bộ hoặc mương thủy lợi, khu vực dân cư phát triển dọc các con sông. Các khu vực mang đặc thù này ở miền Trung thường xuyên gánh chịu lũ lụt hàng năm, điển hình như các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam.

b. Nguyên lý hoạt động

Mô hình nhà hai gác được xây dựng trên cơ sở thiết kế với cấu trúc móng, trụ, khung dầm, sàn bê tông; ưu tiên hoàn thiện gác hai bằng tường xây gạch nung hoặc gạch không nung, lợp mái tôn hoặc ngói có gia cố chằng chống bão. Độ cao của sàn gác hai thường được thiết kế cao hơn mức ngập lũ lịch sử, tối thiểu cao 2,85m. Mô hình có cầu thang trong nhà để thuận tiện người dân sinh hoạt bình thường cũng như trong thời gian có lũ, bão.

c. Bản vẽ mô hình

2.2.2. Nhà hai gác có chỗ trú cho gia súc

a. Khu vực áp dụng

Mô hình này được áp dụng cho các vùng trũng thấp, có lũ từ 1,5-3m, thường xuyên chịu bão lớn hàng năm, khu vực người dân có chăn nuôi gia súc, gia cầm trong khuôn viên nhà.  Khu vực chăn nuôi không đủ độ cao nền vượt lũ và không có khu vực cao hơn để chuyển vật nuôi đến. 

Dự án đã áp dụng mô hình này tại Hà Tĩnh.

b. Nguyên lý hoạt động

Mô hình là nhà hai gác có cầu thang phía ngoài cho người và gia súc di chuyển lên tầng gác khi có lũ. Người dân sử dụng phần gác hai, vật nuôi tránh trú ở chiếu nghỉ cầu thang giáp sàn gác. Độ cao tầng gác được tính toán vượt trên mức đỉnh lũ lịch sử của khu vực để đảm bảo cho người dân và gia súc có thể lưu trú trong thời gian ngâm lũ.

Thiết kế bản thang rộng 1,2m-1,5m, bậc cầu thang có độ cao 10cm-12cm đảm bảo cho trâu, bò, dê dễ dàng di chuyển lên trên. Phần chiếu nghỉ này có thể căng bạt hoặc lợp mái che mưa và đảm bảo diện tích đủ cho trâu, bò, dê trú ngụ.

Mô hình nhà có cầu thang ngoài còn có tác dụng khi nhà bị ngập lũ, việc di chuyển, sinh hoạt, cứu trợ của người dân và lực lượng cứu hộ bằng thuyền sẽ cập mạn cầu thang ngoài để vào nhà thuận lợi. Toàn bộ gian phía sau để chứa cỏ, rơm, và nông sản; gian trước dành cho người.

c. Bản vẽ mô hình

2.2.3. Nhà ba gian có gác xép

a. Khu vực áp dụng

Nhà ba gian có gác xép được áp dụng cho người dân ở khu vực bão lớn, thường xuyên kèm gió giật, mức lũ dưới 2m. Thời gian lũ ngâm trong vài ngày, người dân đang sinh hoạt trong nhà ba gian hiện trạng.

Mô hình được dự án áp dụng tại Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam và Khánh Hòa.

b. Nguyên lý hoạt động

Cấu trúc nhà gồm 3 gian, trong đó 1 gian lồi bằng với phần hiên nhà, ba gian được bố trí công năng sử dụng như ba gian truyền thống, bếp và công trình phụ xây dựng thêm tùy nhu cầu và điều kiện của chủ nhà. Gian dưới sàn gác bê tông cốt thép là nơi tránh bão an toàn cho người và tài sản. Gác là nơi người dân trú và bảo quản tài sản khi chịu nước lũ dâng cao. Cửa thoát hiểm của gác xép tránh lũ vô cùng quan trọng, trong trường hợp lũ vượt mức lịch sử, vượt qua cả sàn gác thì của thoát hiểm là nơi tiếp cận của các phương tiện cứu trợ.

c. Bản vẽ mô hình

2.2.4. Nhà ống có gác xép

a. Khu vực áp dụng

Mô hình nhà ống có gác xép chống lũ có thể được áp dụng cho vùng có mức ngập lũ từ 1.5 đến 2m và chịu ảnh hưởng của bão. Người dân đang sử dụng nhà xây dựng trên thửa đất hẹp và sâu, không có nhu cầu hoặc khả năng để ứng dụng mô hình quy mô lớn hơn. 

Dự án đã áp dụng mô hình này tại Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Khánh Hòa, Sóc Trăng, Hậu Giang.

b. Nguyên lý hoạt động

Người dân lưu trú ở gác xép trong thời gian lũ ngâm, độ cao gác xép được tính toán phù hợp luôn cao hơn đỉnh lũ lịch sử của khu vực. Khi thiết kế nhà ống có gác xép có thể đổ sàn bê tông truyền thống hoặc các vật liệu xây dựng mới có tính kháng nước, tuy nhiên phải đủ vững chắc để tạo không gian tránh trú an toàn bên dưới khi có bão lớn. Độ cao của gác xép tối thiểu 2,1m. Tùy theo địa bàn để chú trọng các yếu tố kỹ thuật ưu tiên cho vùng bão, lũ thấp hoặc vùng lũ chịu tác động bởi bão suy yếu. Cửa thoát hiểm của gác xép tránh lũ (cửa sổ không có song sắt) vô cùng quan trọng, trong trường hợp lũ vượt mức lịch sử, vượt qua cả sàn gác thì cửa thoát hiểm là nơi tiếp cận của các phương tiện cứu trợ.

c. Bản vẽ mô hình

2.3. Nhà phao

2.3.1. Nhà phao biệt lập

a. Khu vực áp dụng

Mô hình này được áp dụng cho khu vực có mức lũ cao với biên độ dao động lớn từ 4-14m, ngâm lâu từ 3 – 10 ngày, không có dòng chảy xiết và ít chịu ảnh hưởng của bão lớn. Khi lũ đến, người dân chất hết đồ đạc cùng lương thực và đồ dùng thiết yếu và lên nhà phao trú ẩn chờ cơn nước rút, bảo vệ được tài sản và tính mạng người dân. 

Mô hình được dự án áp dụng tại Tân Hóa, Minh Hóa, Quảng Bình.

b. Nguyên lý hoạt động

Nhà phao (nhà bè) được hình thành với mẫu thiết kế là khung nhà bằng thép để giảm trọng lượng khung nhà. Mặt bằng có tiết diện hình vuông để tăng khả năng cân bằng lực tác động của sóng và gió lên căn nhà so với tiết diện hình chữ nhật. Sàn lát ván gỗ, vách thưng ván gỗ hoặc tôn kẽm. Độ cao thiết kế vừa phải sinh hoạt và không lớn hơn ½ chiều rộng sàn, lợp 4 mái dốc tôn kẽm để giảm ảnh hưởng của gió. Có hành lang ngoài để tránh va đập trực tiếp vào thân nhà, nâng cao tính cân bằng và là không gian thao tác khi nhà phao gặp vật cản cũng như là không gian tránh lũ cho gia cầm và gia súc nhỏ. Cửa ray trượt được sử dụng để thao tác khi gió lùa mạnh. Cửa chính và cửa sổ có ô kính để quan sát tình hình bên ngoài. Dưới gầm sàn nhà được bố trí các thùng phuy nhựa hoặc sắt làm hệ phao nổi giúp nâng toàn bộ nhà, người và tài sản bên trong nổi lên, hạ xuống theo mức lũ và được neo giữ bằng hệ dây neo 5 điểm. 

c. Bản vẽ mô hình

2.3.2. Nhà phao gắn liền với nhà xây

a. Khu vực áp dụng

Thời gian ảnh hưởng của lũ từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch tuỳ từng năm. Mô hình được áp dụng cho khu vực thường chịu 3-4 cơn lũ với mức nước lũ từ 1,2-8m, mỗi đợt lũ ngâm lâu từ 3-10 ngày, có bão lớn, có chỗ nước chảy xiết. 

Dự án đã áp dụng mô hình này tại Hà Tĩnh.

b. Nguyên lý hoạt động

Mô hình nhà phao gắn liền với nhà xây là một gian nhà phao đặt trên sàn gác và gắn liền với ngôi nhà xây. Gian nhà này có cơ cấu nổi vượt trên mức nước ngập với mức nổi tối đa trên 10m so với sàn tầng trệt. Mô hình có khung nhà phao trượt đều trên 4 cọc thép ở 4 góc, đồng thời còn là điểm neo chân cho khung nhà.

c. Bản vẽ mô hình

3. Một số kiến nghị của Quỹ Sống bền vững

Trong bối cảnh diễn biến thiên tai và biến đổi khí hậu ngày càng trở nên phức tạp, Quỹ Sống bền vững có một số kiến nghị về vai trò của các bên như sau:

3.1. Vai trò của chính quyền địa phương
  • Cần có hệ thống dự báo sớm các nguy cơ, tác động của thiên tai đến người dân ở các khu vực thường xuyên hoặc có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi thiên tai. 
  • Xây dựng các kịch bản mang tính địa phương: Hiện nay các biện pháp chuẩn bị, phòng tránh, khắc phục hậu quả sau thiên tai đều giống nhau ở các vùng trong cả nước, và thiếu các kịch bản mang tính địa phương nhằm chủ động và rút ngắn thời gian tìm kiếm cứu nạn, nhiều người cùng thực hiện được, hạn chế việc thiếu hụt lực lượng chuyên trách. Ví dụ như sạt lở ở các vùng núi phía Bắc là dạng đứt gãy của địa chất khối, lượng sạt lở thường là mảng lớn kết hợp đá lăn và sạt lở ở nhiều điểm, việc khắc phục sự cố cần có máy móc và nhiều thời gian. Nhưng sạt lở tại các khu vực miền Trung, Tây Nguyên là kiểu các lớp địa chất trượt lên nhau khi đất ngậm đủ nước, loại này khối lượng sạt lở lớn, thường theo dòng, các khe có sẵn có đặc điểm để dự báo, sạt lở diện tích rộng lớn. Nếu áp dụng chung một hướng khắc phục thì sẽ không hiệu quả về mặt tìm kiếm cứu nạn. 
  • Xây dựng và triển khai các kế hoạch, chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu. 
  • Là cầu nối hỗ trợ các dự án triển khai thành công tại địa phương; tạo điều kiện và cung cấp thông tin các nguồn vốn vay, các khoản ưu đãi để người dân có cơ hội tiếp cận.

3.2. Vai trò của Kiến trúc sư

  • Hỗ trợ kiến thức chuyên môn cho người dân địa phương hoặc các tổ chức trong lĩnh vực nhà ở cho nhóm hộ nghèo, cận nghèo, thu nhập thấp. 
  • Thông qua các hoạt động cá nhân hoặc hoạt động của hiệp hội ngành, đề xuất hướng phổ cập các kiến thức xây dựng cơ bản đến các khu vực dân cư trũng về kiến thức kiến trúc. 
  • Những KTS có tiếng nói trong xã hội hoặc thông qua Hội KTS đề xuất ý kiến chuyên môn, tham gia vào quá trình xây dựng các quy định liên quan đến mảng kiến trúc kể cả khi quy định này để điều chỉnh về lĩnh vực khác nhưng có liên quan.
  •  Đề xuất Hội KTS thường xuyên tổ chức các hội thảo, nghiên cứu chuyên sâu về kiến trúc và biến đổi khí hậu trong thời đại mới. 

3.3. Vai trò của doanh nghiệp

  • Các doanh nghiệp cần nhận thức những rủi ro của biến đổi khí hậu, phối hợp với chính quyền địa phương để thúc đẩy các kế hoạch hành động của chính phủ và các doanh nghiệp để giảm thiểu rủi ro. 
  • Có các chiến lược hợp tác với các tổ chức dân sự xã hội có chung mục tiêu để giải quyết các vấn đề xã hội.

3.4. Vai trò của người dân

  • Chủ động trong công tác chuẩn bị và ứng phó khi thiên tai xảy ra.
  • Cùng chung tay hợp tác với chính quyền địa phương, các đơn vị, nguồn lực hỗ trợ khác để đảm bảo an toàn và thích ứng với diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu.

3.5. Vai trò của các tổ chức xã hội

  • Hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương bởi thiên tai và biến đổi khí hậu.
  • Hợp tác với chính quyền địa phương, kết hợp và tận dụng nguồn lực từ doanh nghiệp, các chuyên gia và các tổ chức xã hội dân sự khác.

Ths. Đỗ Thị Quyên – Quản lý chương trình Nhà chống lũ

KTS. Đinh Bá Vinh – KTS kiêm Quản lý địa bàn miền Trung chương trình Nhà chống lũ

KTS. Nguyễn Duy Tùng – KTS địa bàn miền Trung chương trình Nhà chống lũ

XEM THÊM:

Bình luận từ Facebook