Hạn – Mặn gay gắt tại ĐBSCL: Né thời vụ để giảm thiệt hại

116

Đến thời điểm này, dù chưa tới đỉnh điểm mùa khô, hạn – mặn đã diễn ra gay gắt ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có nơi mặn đã vào sâu đất liền trên dưới một trăm ki-lô-mét, kèm theo nguy cơ gây thiệt hại hoa màu và thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng cho người dân vùng ven biển. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Ths. Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL về nguyên nhân, phương án khắc phục trước mắt, và chiến lược ứng phó lâu dài với tình trạng này.

Hạn - Mặn gay gắt tại ĐBSCL: Né thời vụ để giảm thiệt hại
Ths. Nguyễn Hữu Thiện (ảnh nhỏ), chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL.

PV: Như ông đã biết, dù chưa là đỉnh điểm của mùa khô, nhưng hạn – mặn đã diễn ra gay gắt ở ĐBSCL. Ông có thể phân tích nguyên nhân do đâu?

Ths. Nguyễn Hữu Thiện (NHT): Chuyện hạn – mặn mùa khô năm nay, chúng ta đã dự báo từ tháng 7-2019 và hiện nay diễn ra đúng như dự báo. Nguyên nhân chính là do từ đầu năm đến tháng 9-2019, có hiện tượng El Nino diễn ra trên toàn lưu vực sông Mê Công làm lượng mưa thấp, cho nên mực nước sông Mê Công đã hạ thấp kỷ lục trong hơn nửa thế kỷ, ngay trong mùa lũ. Về ảnh hưởng của thủy điện Mê Công, thủy điện khác với thủy nông ở chỗ thủy điện không làm mất đi tổng lượng nước mà chỉ tích rồi xả để phát điện. Bản thân thủy điện không tự gây ra thiếu nước, nhưng khi gặp tình huống mưa ít thì việc tích xả của chuỗi đập thủy điện sẽ làm chậm đường đi của nước, làm tình hình gay gắt càng gay gắt hơn.

Hạn – mặn của ĐBSCL bây giờ gay gắt hơn ngày xưa cũng một phần vì hệ thống tự nhiên của đồng bằng đã bị thay đổi. Các ô đê bao khép kín để canh tác lúa ba vụ chiếm không gian hấp thu lũ nên nước không vào đồng được, chảy tuột ra biển trong mùa nước. Đến mùa khô khi dòng Mê Công yếu thì bản thân ĐBSCL đã không còn nhiều nước, nên mặn lấn sâu hơn.

PV: Liệu tình trạng này có phải là dấu hiệu cảnh báo ĐBSCL sẽ ngày càng cạn kiệt nguồn nước?

Ths. NHT: Chúng ta cần phân biệt năm cực đoan và năm bình thường. Năm nào El Nino mạnh thì mưa ít. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) thì khả năng xảy ra cực đoan sẽ thường xuyên hơn, nhưng dù sao cực đoan vẫn không phải là tình hình chung cho tất cả các năm. Do đó, trong ứng phó cần chia làm hai loại: ứng phó tình huống đối với năm cực đoan và chiến lược dài hạn cho ĐBSCL thì phải dựa vào xu hướng của các năm phi cực đoan. Chúng ta không nên khẳng định rằng ĐBSCL sẽ càng ngày càng cạn kiệt nguồn nước và cũng không nên vì vậy mà hốt hoảng và dùng những năm cực đoan làm chuẩn cho chiến lược dài hạn.

PV: Vậy theo ông, cần có giải pháp thích ứng như thế nào để vừa ứng phó được với những biến động thất thường, vừa bảo đảm được sự phát triển bền vững cho khu vực này?

Ths. NHT: Với năm cực đoan thì cách tốt nhất là né để tránh thiệt hại, bằng cách dịch chuyển mùa vụ để tránh đỉnh điểm hạn – mặn vào cuối tháng ba và đầu tháng tư tới đây. Cần hiểu đặc điểm từng vùng. Các vùng mà bản chất nó là mặn như vùng bán đảo Cà Mau thì không nhận nước từ sông Cửu Long. Vùng này ngọt trong sáu tháng, có thể canh tác lúa được là nhờ lớp nước mưa trên bề mặt, chứ đất bên dưới vẫn mặn. Do đó, trong những năm mưa ít, đến đỉnh điểm mùa khô, lớp nước mưa ở trên không còn, thì dùng công trình ngăn mặn từ biển vào là không hiệu quả vì mặn là từ dưới đất lên. Đặc biệt, những vùng ngọt hóa, tức là những vùng “cơi nới”, ngọt hóa một cách nhân tạo bằng công trình thì năm nay sẽ dễ bị tổn thương nhất vì không đủ nước ngọt để duy trì nên sẽ quay trở lại bản chất mặn cố hữu trong mùa khô. Do đó, đối với các vùng này thì phải chấp nhận mặn vào mùa khô trong những năm cực đoan và nên né thời vụ. Vùng cây trái, vùng giữa đồng bằng thông thường có nước ngọt quanh năm thì năm nay sẽ bị mặn bao vây. Tuy nhiên, vẫn có thể thích ứng bởi vì nước mặn vào sâu trong những giờ nước lớn (triều cao) trong ngày, đến giờ nước ròng (triều thấp) thì nước biển lùi ra, nước sông từ trên xuống vẫn có thể lấy được nước ngọt.

Về chiến lược lâu dài, Nghị quyết 120 (NQ120) của Chính phủ về ĐBSCL chính là lời giải. Tuy nhiên, cần được bổ sung kèm theo dự phòng tình huống những năm cực đoan như năm 2016 và năm nay. Chìa khóa trung tâm của vấn đề ĐBSCL là thay đổi, chuyển hóa nền nông nghiệp ĐBSCL theo tinh thần NQ120 từ thuần túy sản xuất chạy theo số lượng sang tập trung vào chất lượng. Làm ít hơn, nhưng giá trị cao hơn, đa dạng hơn. NQ120 cũng xác định việc xoay trục chiến lược nông nghiệp sang ưu tiên thủy sản, hoa màu cây trồng khác, rồi mới tới lúa. ĐBSCL vẫn dư sức bảo đảm lượng lúa gạo cho an ninh lương thực, nhưng ưu tiên số một bây giờ không phải là làm ra thật nhiều lúa giá rẻ, mà tập trung vào chất lượng và thu nhập. NQ120 cũng chỉ rõ cần xem nước mặn, nước lợ, nước ngọt đều là tài nguyên chứ không chỉ là nước ngọt phục vụ tối đa hóa lượng lúa như trước đây.

Như vậy, cụ thể về lâu dài, cần giảm bớt một vụ lúa ở vùng đầu nguồn, để có thể hấp thu nước lũ, kèm theo là phù sa và tôm cá vào ruộng đồng để cải thiện đất đai và tăng lượng nước để cân bằng mặn – ngọt trong mùa khô. Đối với vùng ven biển thì nên chuyển dần sang canh tác theo mùa để phù hợp với quy luật thiên nhiên.

PV: Còn vấn đề nước sinh hoạt cho vùng ven biển vào mùa khô cần có giải pháp ra sao, thưa ông?

Ths. NHT: Nhu cầu nước ngọt cho sinh hoạt phải giải quyết riêng, bằng những phương tiện trữ nước tại gia đình, ao hồ cộng đồng theo kinh nghiệm dân gian và áp dụng công nghệ mới như bốc hơi, màng lọc na-nô, túi trữ nước, đường ống cấp nước. Chúng ta không nên lẫn lộn và nhập chung nhu cầu nước sinh hoạt và nước sản xuất rồi từ đó vì cái này mà làm cái kia. Công trình ngăn mặn để phục vụ sản xuất như trước nay không phục vụ cho nước sinh hoạt được vì các công trình làm nước tù đọng, tích tụ ô nhiễm trầm trọng sông ngòi cả vùng, khó có thể sử dụng cho sinh hoạt được mà vẫn phải sử dụng nước ngầm gây sụt lún đất.

PV: Để thực hiện cuộc chuyển đổi sản xuất nông nghiệp khu vực ĐBSCL theo Nghị quyết 120, theo ông cần tiến hành như thế nào?

Ths. NHT: Người dân ĐBSCL, trong quá trình khai phá miền đất mới này, có tính sáng tạo và thích ứng rất cao và rất giàu ý tưởng. Thế nhưng, để chuyển đổi được thì Chính phủ cần có hẳn một chương trình chuyển hóa nền nông nghiệp, để giúp người dân về mặt tổ chức, kỹ thuật, tài chính, chế biến sản phẩm, xây dựng thương hiệu, chuỗi giá trị, và tiếp thị tìm kiếm thị trường cao cấp hơn. Thị trường trong nước bây giờ cũng đòi hỏi chất lượng sản phẩm nông nghiệp cao hơn.

Năm nay ĐBSCL sẽ khó khăn và sẽ có thiệt hại, nhưng có thể sẽ không thiệt hại nặng như đợt hạn kỷ lục năm 2016 vì ngành nông nghiệp đã có cảnh báo sớm cho người dân.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hạn - Mặn gay gắt tại ĐBSCL: Né thời vụ để giảm thiệt hại
Huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre nhiều diện tích lúa thiếu nước ngọt trầm trọng. Ảnh: QUỐC TRUNG

Nguồn: nhandan.com.vn