Trước khi đưa ra giải pháp cần tư duy nhìn nhận bài toán quy hoạch của hình chữ S như sau:

1. Hiện nay quy hoạch và sự phát triển của Việt Nam chỉ/ luôn tập trung vào trục kết nối Bắc-Nam (trục từ trường vật lý “vào Nam ra Bắc”, trục tốc độ vận chuyển vật chất, mà bỏ ngơ trục Đông-Tây (là trục sự sống, trục sơn-hà hay trục Sơn Tinh- Thuỷ Tinh). Nhớ rằng cây cối hướng về phía đông bao giờ cũng tươi tốt nhất và trục Tây-Đông từ Núi xuống Biển là trục nước chảy và là trục của hệ sinh thái/ sự sống.

TS Ngô Anh Đào: "Từ ĐB Sông Mekong tới chữ S"
Các trục của chữ S
TS Ngô Anh Đào: "Từ ĐB Sông Mekong tới chữ S"
Minh hoạ về sự bỏ quên trục sự sống Đông-Tây ở vùng Hội An mà chỉ tập trung phát triển trục Bắc-Nam (từ Đà Nẵng – Hội An)

2. Theo logic này, cái dở tiếp của quy hoạch chữ S là toàn bộ dọc bờ biển bị cứng hoá hoặc bị “chặn nước mặn” bằng Đường bộ cao tốc hoặc Đê ngăn mặn theo kinh nghiệm Hà Lan – đây là biện pháp phản khoa học và phản tự nhiên/ chống lại sự tiếp xúc giữa hệ sinh thái ven bờ nước mặn với đất liền theo 1 diễn thế sinh thái tự nhiên của ven biển. Hậu quả là khi nước biển dâng và khi thiếu nước ngọt đổ xuống từ thượng nguồn, con người cuống lên tiếp tục xây đê và nâng cao công trình (cực tốn kém) và nông nghiệp bị hạn hán vì thiếu nước ngọt.

TS Ngô Anh Đào: "Từ ĐB Sông Mekong tới chữ S"
Vấn đề bờ biển và tiếp cận nước

3. Patterns hay hình thái phân bố không gian sử dụng đất/nhà cửa của dân ĐB sông Mekong rất bất lợi (so với ĐB sông Hồng): nhà cửa và đường giao thông luôn tản mát bám dọc theo bờ nước thay vì co cụm (cluster). Điều này hiển nhiên là đã đặt gánh nặng vật chất lên mối liên kết Bờ và Nước, không có khoảng lùi giao thoa, nên việc chi phí làm đường dọc 2 bờ sông/kênh rất tốn kém, trường hợp nhà dựng trực tiếp bên bờ sông mà không có khoảng lùi thì khi nước mặn xâm nhập, cấu trúc vật lý của đất yếu đi/ vỡ ra thì nhà sập rơi xuống sông hàng loạt là điều dễ hiểu.

TS Ngô Anh Đào: "Từ ĐB Sông Mekong tới chữ S"
Phân bố không gian ở ĐB sông Hồng
TS Ngô Anh Đào: "Từ ĐB Sông Mekong tới chữ S"
Phân bố không gian ĐB sông Mekong

4. Cơ cấu nông nghiệp và cây trồng, nuôi trồng thuỷ sản cũng rất sai: chỉ độc canh trồng lúa trên diện tích lớn, kênh mương thuỷ lợi toàn bằng bê tông, nên độ thoát hơi nước rất cao! Độc canh cây lúa lại ngốn nước, lại muốn tăng 2-3 vụ lúa/năm- nên khi thiếu nước ngọt thì lúa chết chắc! Lại nữa, các đìa tôm/ hồ tôm được quây lại ven sông nước lợ, ngày càng mọc lên như nấm, vô hình chung cũng tiếp tay cho các “công trình cứng” ngăn mặn, ngăn/phá huỷ một hệ sinh thái tự nhiên ven bờ nước.

5. Trên hết là hệ cây trồng rất có vấn đề: con người chỉ độc canh, dồn toàn bộ nguồn lực/năng lượng trồng cây mình muốn và thu lợi nhuận cao mà quên đi những quy luật và nguyên tắc vàng của thiên nhiên: tính đa dạng sinh học và tính tự điều tiết thông minh của hệ sinh thái. Cây lấy nước nhưng cây cũng giữ nước và 1 quần xã cây đa dạng thì lại như 1 nhà máy cung cấp nước thông thái, do đâu: cấu trúc bộ rễ cây và nguyên tắc trao đổi vật chất trong hệ thống của cây. Hiểu 1 cây, hiểu 1 khu rừng sẽ rút ra được bài học này, không sợ cây sẽ “khát nước”!

6. Đặc biệt là, sự hiểu biết và đối xử với Rừng ngập mặn (RNM) và Bờ nước của con người còn rất hạn chế. Đây cũng chính là cứu cánh cho vấn nạn “biến đổi khí hậu/ nước biển dâng/ hạn hán nước ngọt mà con người cần nắm lấy chiếc “phao” này.

Ngoài chức năng như lá phổi, hấp thụ CO2 gấp nhiều lần rừng trên đất, ngăn sóng và các tác động thiên tai vùng bờ biển và cửa sông nước lợ, RNM như quả thận lọc muối mặn từ nước biển. Trong một bài viết trước về Triết lý cây Bần trong 1 diễn thế sinh thái điển hình của ĐB sông Mekong, tôi có nhấn mạnh vai trò của cây Bần như 1 chiến binh tiên phong “chinh phục” chiến tuyến ngoài cùng của bờ nước, bồi đất cao dần tạo hậu phương vững chắc và lọc mặn cho cả 1 quần xã thực vật đằng sau nó phát triển trù phú, để rồi chính nó bị loại trừ phải tiến dần ra biển, chinh phục những vùng đất mới.

Đấy là giải pháp ngăn nước biển dâng và tạo “nước ngọt” cho hậu phương phía trong đó thôi?

Bài viết của Huy Nguyen về những giải pháp cho cơn khát nước của ĐB sông Mekong có đề cập đến những giải pháp Công trình và Phi công trình rất hữu dụng. Trong đó, giải pháp công trình bao gồm các kỹ thuật tạo các “bể chứa nước ngọt” hay các “bẫy” nước ngọt, từ quy mô lớn liên vùng tới quy mô cộng đồng/ hộ gia đình; ở góc khác, các giải pháp phi công trình bao gồm thay đổi cơ cấu nông nghiệp (chuyển đổi đất lúa vụ 3 sang nuôi tôm), giáo dục ý thức tiết kiệm nước của con người,.. đều rất nên cân nhắc.

Diện tích lúa sẽ giảm, tất nhiên rồi, và nền kinh tế nông nghiệp cũng không nên lấy thành tích xuất khẩu lúa gạo làm mục tiêu phấn đấu.

Thay đổi cơ cấu cây trồng và tạo nhiều rừng đa tầng để giữ nước thay vì tạo các hồ chứa trống hoác trên các cánh đồng mênh mông sẽ bốc hơi nước mạnh. Giảm diện tích trồng lúa và phải tăng diện tích cây trồng hoa màu, cây trái đa tầng tán, luân canh và xen canh – không độc canh- là điều thông minh nhất con người nên làm.

TS Ngô Anh Đào: "Từ ĐB Sông Mekong tới chữ S"
Nên và Không nên!

6 điểm nêu trên là những điều cơ bản kiên quan đến Tư duy và nhận thức của con người. Hy vọng đi kèm nó cũng chính là những Giải pháp hữu hiệu, thêm với các giải pháp trong bài Huy Nguyen đưa ra, không chỉ cho ĐB sông Mekong mà có thể cho cả chữ S nữa.

Ví dụ minh hoạ lát cắt lý tưởng cho cách sắp xếp không gian/ sử dụng đất cho 1 cụm dân cư ĐB sông Mekong.

TS Ngô Anh Đào: "Từ ĐB Sông Mekong tới chữ S"
1 lát cắt lý tưởng về phân bố không gian và sử dụng đất trồng cây cho 1 cụm dân cư ĐB sông Mekong
TS Ngô Anh Đào: "Từ ĐB Sông Mekong tới chữ S"
Minh hoạ 1 lát cắt phân bố không gian sử sụng đất (lý tưởng) cho 1 cụm dân cư ĐBSCL

Hà Nội, 11/03/2020 – TS Ngô Anh Đào