Phỏng vấn KTS Yoshiharu Tsukamoto | Atelier Bow-Wow: “Thú cưng” và “Sản xuất ở Tokyo”

669

Văn phòng kiến trúc Atelier Bow-Wow (Tokyo, Nhật Bản) được sáng lập năm 1992 bởi hai KTS Yoshiharu Tsukamoto và Momoyo Kaijima, nổi tiếng với Kiến trúc bản địa và các nghiên cứu về đô thị. Atelier Bow-Wow đưa ra một khái niệm kiến trúc mới có tên “Kiến trúc thú cưng” (Pet Achitecture) dành cho những căn nhà có diện tích nhỏ và hẹp. Theo giải thích của Yoshiharu Tsukamoto và Momoyo Kajima: “Thú cưng luôn nhỏ bé, dễ thương và ngọt ngào”, do đó họ đã chọn cái tên này cho thể loại nhà đang dần trở nên phổ biến ở các đô thị lớn, khi mà việc quy hoạch đường xá đã biến nhiều khu đất trở nên méo mó.

Dưới đây là cuộc trò chuyện cùng KTS Yoshiharu Tsukamoto để hiểu thêm về công việc của Atelier Bow Wow (Bài phỏng vẫn được thực hiện bởi Mason White – Archinect.com)

KTS Yoshiharu Tsukamoto ( nguồn ảnh tại đây )

Tôi muốn bắt đầu với câu hỏi về “Made in Tokyo” và “Pet Architecture”. Anh đã thực hiện hai nghiên cứu này một cách độc lập hay lần lượt từng vấn đề một?

“Made in Tokyo” được thực hiện trước. Trong quá trình nghiên cứu cho “made in Tokyo”, chúng tôi đã tìm ra ý tưởng về Kiến trúc thú cưng ( Pet Architecture) – những ngôi nhà rất nhỏ trong thành phố. Trong “made in Tokyo” có một ngôi nhà được gọi là “Pet Architecture 001”

 

Nguồn ảnh tại đây

Đó là “ngôi nhà thú cưng” đầu tiên?

Vâng. Chúng tôi đã tìm thấy ngôi nhà này và nhận ra rằng chúng ta có cùng một loại nhà như thế này trên khắp Tokyo. Đó là những ngôi nhà luôn được tùy chỉnh bởi chính người sử dụng. Điều đặc biệt ở chúng là chỉ cho chúng ta thấy cách mọi người tạo ra không gian của riêng họ. Điều này khiến tôi rất hứng thú. Sau đó, tôi đã cố gắng để tìm các ngôi khác có đặc điểm tương tự.

Ở phần cuối của “Pet Architecture”, anh đã đề xuất một số concept của “kiến trúc thú cưng”. Ý nghĩa của chúng là gì?

Đó là một sự liên kết. Chúng tôi quan sát các “kiến trúc thú cưng” và phát triển một loại hình kiến trúc điển hình ở những địa điểm điển hình. Bằng cách sử dụng các nguyên tắc này, chúng tôi nghĩ rằng có thể tìm ra một loại “kiến trúc thú cưng” mới.

Pet Architecture (nguồn ảnh tại đây)

Một trong số đó nằm trên đường Kan 8 Loop phải không?

Khi chúng tôi đã thiết kế Mini House (1999), khu đất bên cạnh nó vốn không ổn định. Trên thực tế thì đó là đất dành cho việc mở rộng đường Kan-8 Loop. Dễ dàng hình dung được rằng việc này sẽ tạo ra nhiều khoảng trống còn lại bên cạnh con đường mới. Vậy nên sau đó chúng tôi đã mô phỏng một số kiến trúc thú cưng trên những khu đất bị phân mảnh này.

 

Pet Architecture #46: nhà hàng Kadokko (4.8 x 0.9 x 6.2m) Nguồn ảnh tại đây

Rõ ràng đây là một nghiên cứu rất cụ thể ở Tokyo, nhưng anh đã xem xét đến việc mở rộng nghiên cứu này sang các bối cảnh khác? Hay đây là một loại kiến trúc chỉ có ở Tokyo?

Tôi rất hứng thú với việc làm việc ở nhiều thành phố khác nhau. Mỗi khi được mời tham gia các sự kiện nghệ thuật tại những thành phố khác, chúng tôi luôn cố gắng tạo ra một không gian công cộng nhỏ để sử dụng trong khuôn khổ của một triển lãm nghệ thuật. Chúng tôi đến đó vài tháng trước khi triển lãm diễn ra và quan sát hành vi của thành phố và của thị dân. Từ đó, chúng tôi thiết kế một cái gì đó dựa trên những gì đã quan sát và tìm hiểu. Ví dụ, ở Biennale Thượng Hải (2002) chúng tôi đã thiết kế Furnicycle hay một không gian công cộng nhỏ khác thực hiện cho White Limousine Yatai (2003) ở Tsumari Triennale.

Đó chỉ là những thử nghiệm cho triển lãm. Tuy nhiên đến hiện tại, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể đưa chúng vào một vài bối cảnh thực tế.

Pet Architecture #15: Đại lý bất động sản Aoyama (0.8 x 10 x 2m) Nguồn ảnh tại đây

Anh nghĩ rằng điều gì làm nên một không gian công cộng tốt đối với những không gian công cộng quy mô nhỏ?

Chất lượng của không gian công cộng phụ thuộc ở sự tham gia của con người. Nếu tất cả những người tham gia chỉ là “khách hàng” thì đó không phải là không gian công cộng thực sự. Ví dụ, trong một khu mua sắm có rất nhiều người tụ tập và nói chuyện. Thoạt nhìn thì đó có vẻ là một không gian công cộng. Nhưng thực chất, những người đó chỉ là khách hàng, họ không có bất kỳ trách nhiệm nào trong việc duy trì không gian. Tôi nghĩ rằng việc đơn giản chỉ là “ở” trong một không gian tập thể khác với việc “tham gia” vào một không gian chung với những người khác. Bên trong cơ thể mỗi chúng ta có những cơ chế riêng về cảm thụ không gian công cộng. Trong các dự án về không gian công cộng ở quy mô nhỏ, chúng tôi luôn cố gắng kích hoạt cơ chế này để các cá nhân có thể tham gia vào một số bối cảnh nhất định. “Micro” – có nghĩa là nhỏ, đồng thời cũng là cá nhân. Không gian công cộng nhỏ nhất có thể là không gian công cộng chỉ dành cho một người.

Made in Tokyo #29 (Nguồn ảnh tại đây)

Có vẻ như ý tưởng về sự tuỳ chỉnh rất quan trọng đối với anh. Trong “kiến trúc thú cưng” kiến ​​trúc tùy chỉnh để phù hợp với bối cảnh hay trong một không gian công cộng nhỏ, các cá nhân tùy chỉnh theo môi trường xung quanh. Đây có phải yếu tô vượt trội trong các thiết kế của anh?

Tôi đã học được rất nhiều từ “kiến trúc thú cưng”. Chúng biểu thị một không gian thú vị được tạo bởi sự cư trú trong một quãng thời gian. Nó kết nối hai chủ thể khác nhau trong kiến ​​trúc: một là nhà thiết kế, kiến ​​trúc sư, và một là người sử dụng.

Trong thế kỷ 20 hai chủ thể này luôn đối đầu nhau. Không gian sống của ai đó được gọi là không gian của sự biểu hiện, luôn trái ngược với sự biểu hiện của không gian – là những gì được nhà quy hoạch đô thị hoặc kiến ​​trúc sư quy hoạch hoặc thiết kế. Henri Lefebvre đã đề xuất vị trí thứ ba với ý tưởng thực hành không gian. Đây chính xác là từ của ông ấy đã sử dụng trong bài viết của mình.

Khi chúng tôi làm nghiên cứu về Tokyo, tôi chưa biết đến nghiên cứu này của Lefebvresau. Về sau, qua nhiều cuộc thảo luận tôi mới biết rằng nghiên cứu của chúng tôi rất gần với suy nghĩ của Lefebvre.

Sự cư trú của con người là một vấn đề hết sức quan trọng. Cho dù đang thiết kế loại công trình nào, chúng tôi vẫn thường đề xuất một công trình không có sự ngăn chia mà tạo ra một không gian liên tục được phân vùng, tăng cường sự thực hành không gian.

Và sử dụng cầu thang để tăng cường tính liên tục?

Vâng, sử dụng cầu thang và các cốt sàn. Thay vì tạo ra một sự phân chia mạnh mẽ giữa các phòng, chúng ta sử dụng cảm giác chiếm chỗ để tạo nên một khớp nối tinh tế trong sự liên tục của không gian. Vậy nên khi đi vòng quanh, người sử dụng sẽ đối diện với nhiều vùng không gian khác nhau. Điều này rất thú vị, nó có nghĩa chúng ta cần có sự giúp đỡ của người sử dụng để hoàn thiện thiết kế của mình.

Atelier Bow-Wow, House Tower (2006). (3 x 6 x 11.5m) Nguồn ảnh tại đây

Anh có thể nói thêm một chút về địa điểm xây dựng không? Trong cả “made in Tokyo” và “Pet Architecture”, anh đã nhìn vào sự phức tạp của thành phố khi tạo ra những mảnh đất độc đáo thông qua các không gian còn lại. Vậy làm thế nào để anh thiết kế trên những lô đất này khi mà nghiên cứu bản thân chúng là một việc và thiết kế theo một nhiệm vụ cụ thể là một việc khác? Bạn làm thế nào để giải quyết các vấn đề về ánh sáng , điểm nhìn, lối tiếp cận…?

Đối với các khu đất nhỏ như vậy, điều quan trọng là cần xem lại việc bạn hiểu thế nào là view nhìn, khung cảnh. Nếu chúng ta giữ quan niệm truyền thống về view nhìn thì sẽ không thể tạo ra bất kì một ô cửa sổ nào trên những mảnh đất như vậy cả.

Bởi vì tất cả những gì chúng ta nhìn thấy là hàng xóm ở cách đó 1m?

Yeah [cười]. Hoặc là khoảng trống giữa các tòa nhà. Nhưng, tôi rất thích việc mở một cửa sổ lớn về phía hàng xóm. Cây cối sẽ luôn xuất hiện ở đó, dù ít dù nhiều và trở thành một phần của khung nhìn.

Trở thành phần cảnh quan giữa các ngôi nhà?

Vâng.

Đó sẽ là “Pet landscape” chăng?

Atelier Bow-wow, Bow-wow House 2006 Nguồn ảnh tại đây

Yeah [cười]. Điều quan trọng là tận hưởng khung nhìn dù đó là cảnh quan thiên nhiên hay chỉ là một bức tường. Việc này giúp chúng ta nuôi dưỡng một cách khác để cảm nhận môi trường xung quanh.

Việc quy hoạch và cấp phép xây dựng ở Tokyo diễn ra như thế nào? Nếu một khu vực bao gồm toàn các tòa nhà liền kề với hành lang tiếp cận mỏng hay ngôi nhà của bạn được bao quanh cả bốn mặt với lối tiếp cận hẹp thì có là hợp pháp?

Khu đất có 2m mặt tiền là tối thiểu để có thể xây dựng được.

Anh cảm thấy nhiều thách thức hơn đối với việc thiết kế trên một khu đất nhỏ còn sót lại trong không gian đô thị hay một địa điểm tự do như trung tâm văn hóa Hanamidori (2005)?

Cả hai đều là những thách thức. Trung tâm Văn hoá là thách thức tạo ra sự thừa không gian tối đa.

Ý của anh là?

Bạn có biết sự dư thừa hiện đang được sử dụng trong công nghệ thông tin để mô tả mức độ an toàn của mạng không? Ví dụ, một máy không thể làm việc khi có một phần thiếu sót. Nhưng cấu trúc của một mạng lại khác. Nếu một phần ngừng hoạt động thì các bộ phận khác vẫn hoạt động bình thường. Đây là sự tương phản giữa máy và mạng. Ngày nay, xã hội Nhật Bản ngày càng được kiểm soát và điều tra kĩ lưỡng hơn. Mỗi không gian cần được xác định với một mục đích rõ ràng từ ban đầu. Vì vậy, nếu bạn làm một cái gì đó khác với mục đích ban đầu, nó sẽ gần như là tội ác vậy. Tất cả những việc đó nhằm giúp môi trường sống trở nên an toàn hơn.

Tuy nhiên, cách làm cho môi trường an toàn hơn cũng làm cho môi trường yếu hơn do những tai nạn bất ngờ. Tốt hơn là nên có sự dư thừa trong không gian công cộng. Trung tâm Văn hóa Hanamidori được thiết kế để trưng bày cảnh quan. Nhưng trên thực tế, rất khó để thể hiện cảnh quan tự nhiên bên trong tòa nhà.

Vì vậy, chúng tôi phải tạo nên một tổng thể càng mở càng tốt. Chúng tôi quyết định xây dựng một công trình mở, được hỗ trợ bởi không gian giảng đường, phòng lưu trữ và văn phòng. Không gian còn lại có thể được sử dụng cho các hội thảo, thư viện và triển lãm. Trên thực tế thậm chí có một bữa tiệc cưới đã từng diễn ra ở đây. Đó là đám cưới của một trong những nhân viên công ty xây dựng tòa nhà này.

Vậy nên nó rất linh hoạt?

Vâng, rất linh hoạt.

`Nguồn: archinect.com 

Biên dịch: Hà Giang