Quy hoạch ga HÀ NỘI- cao chưa hẳn đã có… tầm nhìn?

429

Sợ nhất là không có tầm nhìn hay chiến lược và chính quyền chỉ động não để tìm lý cớ cho các dự án một cách đột xuất khi có đồng tiền của nhà đầu tư?

Những tòa nhà cao tầng của khu Marunouchi xung quanh nhà ga lịch sử Tokyo

Xây dựng cao ốc 40 – 70 tầng ở ga Hà Nội, lợi và hại gì? 

Trước hết chúng ta phải nhận thức rằng tầng cao của công trình không đồng nghĩa tuyệt đối với mật độ bởi còn phụ thuộc tỷ lệ chiếm đất.

 Những khu dân cư chen chúc nhà ống ở Hà Nội có mật độ dân số tương đương các khu chung cư cao 30 tầng ở Singapore vốn có hệ số sử dụng đất chỉ là 3 lần (hệ số sử dụng đất là tỷ số giữa diện tích sàn xây dựng trên diện tích đất).

 Do đó để đánh giá xem quy mô xây dựng quy hoạch cho khu nhà ga Hà Nội là phù hợp hay chưa chúng ta cần biết rất nhiều thông tin khác như: hệ số sử dụng đất và dân số tăng bao nhiêu số với hiện tại và hệ thống hạ tầng mới bao gồm cả tuyến tàu điện ngầm tương lai có khả năng đáp ứng sự gia tăng về dân số (nếu có) hay không.

 Một đánh giá tổng thể về tác động của dự án lên hạ tầng, cả kỹ thuật và xã hội, cần được thực hiện.

 Thêm nữa, thời gian triển khai dự án phải tương thích với kế hoạch đầu tư vào hạ tầng để tránh các tác động tiêu cực lên khu vực hiện hữu. Cuối cùng, nếu quy mô dân số tăng cao, cả dân số ban đêm (cư dân) và ban ngày (ngừoi làm việc), thì chi phí nâng cấp hạ tầng cần phải tính vào chi phí đất và cần có chế tài để khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng như giảm số lượng chỗ đỗ xe.

Tôi cho rằng việc gia tăng mật độ xung quanh các nhà ga là điều rất cần thiết. Tuy nhiên cần nghiên cứu kỹ để phát triển theo mô hình TOD (phát triển hỗ trợ giao thông công cộng) trở thành giải pháp chứ không phải gánh nặng cho đô thị.

 Để thuyết phục dư luận và các nhà chuyên môn, gia tăng mật độ dọc các tuyến giao thông công cộng phải là một chiến lược tổng thể từ phía thành phố chứ không phải chỉ làm khi nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội kiếm lời. Đồng thời, những khu vực nằm ngoài các hành lang giao thông công cộng phải hạn chế mật độ đô thị.

 Tôi e rằng hiện nay các hành lang giao Thông công cộng, vốn được xác định từ trước, không ăn khớp với sự phân bố mật độ dân số vốn thay đổi do các quyết định dựa trên đặc thù từng dự án mà dư luận không khỏi nghi ngờ về động cơ phía sau. Do đó để thuyết phục người dân, các đề xuất của chính quyền cần dựa trên các nguyên tác và kế hoạch tổng thể.

Singapore sẽ phát triển khu vực xung quanh nhà ga đường sắt cao tốc Singapore – Kuala Lumpur ở khu vực hồ Jurong thành trung tâm thương mại tập trung (CBD) lớn thứ hai của đảo quốc sư tư. Tòa nhà Jurong Town Hall (bìa phải) nơi đã chứng kiến nỗ lực biến khu Jurong thành trung tâm công nghiệp hàng đầu ở châu Á sẽ được bảo tồn.

Lòng tin và tầm nhìn?

Không chỉ riêng ga Hà Nội, trước đây, khi Hà Nội có ý định cải tạo công viên Thống Nhất, xây bãi đỗ xe ngầm hay trung tâm thương mại dưới công viên này, cũng gây nhiều tranh cãi và vấp phải sự phản đối.

 Rõ ràng, với những công trình nội đô đã tồn tại lâu năm, đã xuống cấp, rất cần có sự cải tạo, xây mới, đồng thời cũng cần một sự quy hoạch rõ ràng hơn để tận dụng được diện tích, không bị lãng phí trong bối cảnh.

  Vậy, chúng ta nên ứng xử với các công trình này như thế nào để hài hòa lợi ích, kể cả những giá trị lịch sử, nhân văn?

Tôi nghĩ tranh luận hay phản đối của dự luận với những dự án này có nội dung khác nhau: Mối lo về dự án ga Hà Nội là sự gia tăng mật độ đột ngột trong nội đô, về dự án công viên Thống Nhất là việc chiếm dụng không gian xanh công cộng vốn đã khan hiếm của thành phố cho mục đích thương mại.

Tuy nhiên có một điểm chung dễ nhận thấy trong phản ứng của dư luận đối với hai dự án trên cũng như nhiều dự án khác là lòng tin.

Tôi nghĩ rằng lòng tin chính là trở ngại lớn nhất đối với nhiều dự án công hiện nay. Việc thiếu lòng tin của công chúng đối với những dự án sử dụng nhiều ngân sách hay những ý tưởng “lạ tai” có cơ sở từ tình trạng tham nhũng và sự liên kết giữa công chức tha hóa và các nhóm lợi ích cho mục đích tư lợi thay vì công ích.

Việc thiếu lòng tin này đồng thời cản trở những dự án tốt nhưng táo bạo và sáng tạo. Để giải quyết tình trạng này thì chỉ có cách nhà nước thay đổi quy trình thực hiện các dự án trong đó mục tiêu và kế hoạch/quy hoạch được chủ động thực hiện bởi nhà nước vì lợi ích chung rồi sau đó mới tìm nhà đầu tư phù hợp thông qua đấu thầu công khai. Các dự án cũng cần có sự tham vấn cộng đồng và đặc biệt là có đại diện cộng đồng trong ban quản lý hoặc đơn vị chịu trách nhiệm đấu thầu như đã thực hiện trong một dự án quy mô lớn mà mình tham gia ở Myanmar từ 3 năm trước.

 Trở lại câu hỏi của bạn về cách ứng xử đối với những công trình và tiện ích hiện hữu của thành phố, mình nghĩ chúng ta cần phải làm rõ một khái niệm là “quy hoạch” hay “thiết kế” không đồng nghĩa với xây dựng mới hay thay đổi chức năng.

Chúng ta đang hiểu sai là quy hoạch thường được áp dụng với những khu vực mới hoặc để thay đổi khu vực cũ. Điều này hoàn toàn không chính xác. Quy hoạch có thể để nâng cao hiệu quả của các chức năng hiện hữu và thiết kế có thể để bảo tồn hiện trạng.

Quy hoạch là hoạt động thường xuyên của mọi đô thị ở mọi nơi trên thế giới dù rằng dân số tăng, không tăng hay thậm chí giảm. Mỗi khi đô thị có khả năng đối mặt với một vấn đề gì đấy trong tương lai như giảm dân số dẫn đến nhiều nhà ở và công sở để trống như Detroi, hoặc dân số già dẫn đến cần nhiều thêm nhà dưỡng lão và dịch vụ chăm sóc y tế như ở Nhật hay biến đổi khí hậu, hay quá trình phát triển kinh tế bị chậm lại,v.v…. thì đều cần có chiến lược và giải pháp quy hoạch để thay đổi tinh hình một cách tích cực hay giảm thiểu mặt tiêu cực của thách thức.

Do đó việc quy hoạch các khu vực kể cả những khu vực có tính văn hóa, lịch sử là cần thiết. Quan trọng là thành phố có tầm nhìn phát triển chung được sự đồng thuận tương đối của người dân và tầm nhìn đó có được thể hiện qua từng hành động quy hoạch cụ thể một cách nhất quán.

Nếu mục tiêu của thành phố là gia tăng dân số sống xung quanh nhà ga để sử dụng phương tiện công cộng thi cần có quy hoạch cho tất cả các khu xung quanh nhà ga chứ không chỉ ga Hà Nội, đồng thời hạn chế gia tăng mật độ ở những khu nằm ngoài bán kính phục vụ của nhà ga đường sắt đô thị. Nếu mục tiêu chung của thành phố là gia tăng khoảng xanh thì công viên cần được mở rộng, cần xây mới thêm nhiều công viên và thậm chí quy định tỷ lệ phủ xanh trong từng dự án đô thị.

Sợ nhất là không có tầm nhìn hay chiến lược và chính quyền chỉ động não để tìm lý cớ cho các dự án một cách đột xuất khi có đồng tiền của nhà đầu tư.

Đỗ Dũng