Kiến trúc xanh công nghệ thấp – Phần 2: Thực tế ở Việt Nam

1640

Tiếp nối phần 1, kiến trúc xanh công nghệ thấp ở Việt Nam được thể hiện rõ ở các công trình kiến trúc truyền thống. Trong khi kiến trúc xanh công nghệ cao chú trọng các kỹ thuật tiên tiến và hiện đại thì kiến trúc xanh công nghệ thấp lại dựa chủ yếu vào những giải pháp được đúc rút từ kinh nghiệm truyền thống về tổ chức môi trường ở tại một khu vực cụ thể.

Kiến trúc xanh công nghệ thấp ở Việt Nam – Bài học từ quá khứ

Nhà ở nông thôn truyền thống Bắc Bộ là sự kết tinh của nhiều kinh nghiệm xây dựng rất có giá trị trong quá khứ của người Việt xưa sau một quá trình định cư tại vùng châu thổ Sông Hồng. Đó là mô hình quen thuộc VAC (Vườn – Ao – Chuồng), được đánh giá là một hệ sinh thái khép kín khá hiệu quả. Chất thải từ chuồng trại được ủ làm phân bón cho vườn. Khí phát sinh trong quá trình ủ là một nguồn chất đốt cho bếp nấu. Vườn cây và vườn rau, ao cá và chuồng trại chăn nuôi cung cấp thực phẩm cho khu bếp chế biến làm thức ăn. Thức ăn thừa từ bếp có thể được tận dụng cho gia súc hoặc cá ăn.

Để ngôi nhà mát mẻ trong mùa hè, người xưa đã chọn làm nhà hướng nam hoặc hướng đông nam, với cửa đi chính phía trước thường xuyên được mở rộng đón gió và cửa sổ sau nhà cũng được thiết kế để gió thoát ra.

Để tăng cường hiệu quả làm mát về mùa hè, ao cá được bố trí về phía đông nam, khi gió chủ đạo thổi qua sẽ làm hơi nước bay hơi, hạ nhiệt độ không khí xuống vài ba độ.

Để chống nóng, ngăn bức xạ mặt trời buổi trưa và buổi chiều, cây bóng mát với tán cao và rộng được trồng thành hàng hoặc cụm trên hướng tây. Mái nhà được lợp bằng rơm rạ và sau này bằng ngói ta hai lớp cách nhiệt khá tốt, lại có thêm hai khe thông thoáng hai đầu hồi nhà để gió mát thổi qua, tản bớt hơi nóng tích tụ dưới mái.

Kết cấu chịu lực chính làm bằng tre, gỗ, … là những vật liệu có sẵn tại chỗ, rất sinh thái. Ngoài ra, tùy điều kiện từng vùng, một số vật liệu tự nhiên khác như đá vôi, đá ong, … cũng được khai thác để xây dựng nhà ở.

Để chống nắng xiên và mưa hắt, một khoảng hiên rộng được kéo ra phía trước nhà. Trong nhiều trường hợp còn có thêm các tấm che chắn đan bằng tre được dựng hoặc gá lắp vào cột hiên. Các lối đi từ cổng vào sân và toàn bộ sân được phủ bóng mát bởi các giàn tre có trồng các loài thực vật dây leo như bầu, bí, mướp, thiên lý, …

Để ngăn gió lạnh mùa đông, các cây có lá bản rộng như chuối được trồng với mật độ dày phía sau nhà, làm chệch hướng gió mùa đông bắc không thổi vào nhà, cửa sổ sau nhà được đóng kín để giữ ấm.

Để thu nước mưa trong phạm vi khuôn viên, một chiếc ao rộng được đào, kết hợp thả cá, tăng gia cải thiện bữa ăn. Đất đào ao dùng luôn tại chỗ để tôn nền nhà cao hơn cốt sân 30 – 50 cm tránh mưa ngập.

Sân phía trước khá rộng, được lát gạch để phơi nông sản và dành cho các hoạt động tập trung đông người như cúng giỗ, cưới hỏi, lễ tết, …

Cây cối trồng quanh nhà như cây ăn quả, cây bóng mát, tre nứa, … sau nhiều năm đem lại giá trị kinh tế lớn có thể cung cấp gỗ và vật liệu dùng trong xây dựng, đóng đồ đạc.

Những yếu tố trên, như đã phân tích, cho thấy chúng thực sự đơn giản nhưng lại đáp ứng tốt một cách đáng ngạc nhiên các tiêu chí thiết kế sinh thái ngày nay đang được khuyến cáo áp dụng nhưng chưa mấy thành công trong kiến trúc hiện đại.

Hình 5: Nhà ở nông thôn truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ (Nguồn: www.kientrucvietas.com)
Kiến trúc xanh công nghệ thấp ở Việt Nam – Thông điệp từ nhà cộng đồng thôn Suối Rè

Nhà cộng đồng thôn Suối Rè (Hòa Bình – Hà Nội) là công trình thể nghiệm kiến trúc công cộng theo xu hướng xanh đạt được bằng công nghệ thấp lồng ghép với mô hình kiến trúc xã hội (kiến trúc vì cộng đồng) mà kiến trúc sư Hoàng Thúc Hào và cộng sự thuộc Văn phòng Kiến trúc 1 + 1 > 2 kiên trì theo đuổi. Công trình đã gây tiếng vang lớn trong cũng như ngoài nước những năm 2010 – 2011 khi liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng kiến trúc uy tín và được giới chuyên môn đánh giá cao.

Nhà Cộng đồng thôn Suối Rè (Nguồn: www.archdaily.com)

Nhóm thiết kế đã vận dụng những kinh nghiệm xây dựng truyền thống của người Kinh và người Mường là hai dân tộc đã sinh sống lâu đời trong vùng, kết hợp với nghiên cứu kỹ địa hình và chế độ nắng cũng như gió của khu vực để tận dụng các yếu tố có lợi và từ đó cung cấp một không gian tập trung hội họp cũng như sinh hoạt văn hóa tinh thần đạt mức độ tiện nghi cao cho người dân, đồng thời gắn kết công trình một cách hài hòa với cảnh quan thiên nhiên. Khoảng sân rộng mở phía trước được sử dụng cho các trò chơi thể thao và các buổi biểu diễn văn nghệ. Không gian bên trong nhà dành cho các lớp mẫu giáo và cũng là nơi cộng đồng gặp gỡ trao đổi, sinh hoạt và giao lưu. Một khoảng không gian thông tầng hình trái xoan nối tầng dưới với tầng trên, kết hợp với các ô cửa lấy sáng từ bốn bên vào và từ trên mái xuống nên công trình được chiếu sáng tự nhiên tốt và hiệu quả thông gió tự nhiên cũng đạt mức tương tự.

Công trình này tận dụng địa hình dốc thoải của khu vực, được che chắn khỏi gió lạnh và khô trên hướng đông bắc vào mùa đông song lại đón được gió mát từ hướng đông nam vào mùa hè. Nước mưa được thu gom tại chỗ để tưới cây trồng quanh nhà và xả bồn cầu một nhà vệ sinh nhỏ gần đó. Công trình được xây dựng có sử dụng vật liệu sinh thái có sẵn trong vùng như đá kè chân tường, đất đắp vách, tre làm khung, lá cọ lợp mái, … tận dụng nguồn nhân công tại chỗ được tập huấn và vật lực từ một số doanh nghiệp tự nguyện đóng góp (Nguồn: Văn phòng Kiến trúc 1 + 1 > 2, Tài liệu thiết kế, 2010).

Nội thất công trình (Nguồn: www.archdaily.com)
Bản phân tích vật liệu sử dụng (Nguồn: www.inhabitat.com)
Bản phân tích năng lượng sử dụng (Nguồn: www.inhabitat.com)

Sau Suối Rè, nhóm thiết kế thu được những thành công tương tự với các bản thiết kế nhà cộng đồng khác như Tà Phìn (Lào Cai), Cẩm Thanh (Hội An) và Nậm Đăm (Hà Giang), là sự khích lệ và động viên to lớn đối với các kiến trúc sư khác mạnh dạn tìm tòi và thử nghiệm những mô hình khác nhau với cách tiếp cận đa dạng – liên ngành tới kiến trúc xanh công nghệ thấp, phù hợp với điều kiện thực tiễn của các địa phương và đem lại những lợi ích thiết thực cho cộng đồng, qua đó phát đi những tín hiệu tích cực cho nền kiến trúc Việt Nam trong một giai đoạn phát triển mới nhiều cơ hội song cũng không ít thử thách. Thông điệp mà các nhóm thiết kế này muốn gửi gắm là kiến trúc xanh công nghệ thấp hoàn toàn có thể được hiện thực hóa trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, và có thể được hỗ trợ một phần bởi công nghệ hiện đại trong điều kiện cho phép nhằm đạt mức hiệu quả cao hơn. Xu hướng sáng tác này cũng cho phép tái hiện hình ảnh của kiến trúc truyền thống trong bối cảnh xã hội hiện đại, góp phần, bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hóa dân tộc.

Tài liệu tham khảo

Nirmal Kishnani (2012), Greening Asia – Emerging Principles for Sustainable Architecture, BCI Asia, Singapore, trang 142

Văn phòng Kiến trúc 1 + 1 > 2 (2010), Nhà cộng đồng thôn Suối Rè, Tài liệu thiết kế

TS. KTS Nguyễn Quang Minh

Bộ môn Kiến trúc Dân dụng – Khoa Kiến trúc và Quy hoạch – Đại học Xây dựng