Ngày môi trường thế giới và Kiến trúc môi trường

478

Thập niên 1970 ghi dấu ấn trong lịch sử phát triển của nhân loại với cuộc khủng hoảng dầu mỏ, và kéo theo là khủng hoảng năng lượng và một loạt hệ quả đi kèm như bùng nổ dân số, đô thị hóa ồ ạt, cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thiếu lương thực, nghèo đói, di dân, … trong đó nổi bật hơn cả là suy thoái môi trường.

Thiết lập sự kết nối cân bằng giữa Con người với Thiên nhiên

Thập niên 1970 ghi dấu ấn trong lịch sử phát triển của nhân loại với cuộc khủng hoảng dầu mỏ, và kéo theo là khủng hoảng năng lượng và một loạt hệ quả đi kèm như bùng nổ dân số, đô thị hóa ồ ạt, cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thiếu lương thực, nghèo đói, di dân, … trong đó nổi bật hơn cả là suy thoái môi trường.

Những nguy cơ nghiêm trọng và những thách thức to lớn đó đã đặt nhân loại vào một tình huống phải hành động vì sự tồn tại của mình cũng như quyết định tương lai của Trái Đất. Là tổ chức quốc tế lớn nhất, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thấy rõ vai trò của mình trong mọi vấn đề mang tính thời sự toàn cầu. Năm 1972, tại một hội nghị thượng đỉnh về môi trường sống, Liên Hợp Quốc đã ra quyết định lấy ngày 05 tháng 06 hàng năm là Ngày Môi trường Thế giới, và được tổ chức chính thức lần đầu tiên vào năm 1974, với khẩu hiệu “Chỉ Duy nhất Một Trái Đất” (Only One Earth).

Ngày 05 tháng 06 đã trở thành sự kiện hàng năm trên phạm vi toàn cầu và được tổ chức tại từng quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc với rất nhiều hoạt động cụ thể và phong phú. Đó là một dịp để mỗi quốc gia nhìn lại những gì đã làm được trong một năm vừa qua, tổng kết những bài học kinh nghiệm – cả thành công lẫn chưa thành công – trong việc bảo vệ cũng như cải thiện môi trường sống được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách hàng đầu ngày nay.

Mỗi năm ngày “Môi trường Thế giới” lại có một chủ đề riêng được thông qua từ trước. Năm 2017 này, chủ đề là “Kết nối Con người với Thiên nhiên” (Connecting People to Nature) (Theo World Environment Day, 2017) với thông điệp sau được nhấn mạnh: Con người là một thực thể tồn tại được trong Thiên nhiên theo những quy luật nhất định. Một khi những quy luật đó không được tôn trọng thì cái giá phải trả sẽ rất đắt và muốn phục hồi Thiên nhiên sau khi bị hủy hoại được như trước sẽ phải mất rất nhiều thời gian và tiêu tốn một nguồn lực xã hội khổng lồ.

Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là thiết lập sự kết nối cân bằng giữa Con người với Thiên nhiên, trong đó Con người tiếp tục khai thác Thiên nhiên để tồn tại và Thiên nhiên khi được Con người bảo vệ sẽ duy trì cuộc sống của Con người từ thế hệ này đến thế hệ khác. Đó thực chất là mối quan hệ tương tác hai chiều.

Kiến trúc môi trường và sự phát triển bền vững

Trở lại với những thách thức to lớn về môi trường mà nhân loại đang phải đối mặt suốt bốn thập niên qua, “phát triển bền vững” là lối thoát duy nhất và cũng là lựa chọn đúng đắn nhất để nhân loại đảm bảo một tương lai chắc chắn cho chính mình cũng như cho các thế hệ tiếp theo.

Phát triển bền vững đã được định nghĩa một cách chính thức là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng hoặc gây tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” trong bản báo cáo “Our Common Future” và còn được biết đến với tên gọi Báo cáo “Brundtland” (Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới của Liên Hợp Quốc, 1987).

Trên tinh thần chung này, mỗi quốc gia có một chương trình nghị sự của riêng mình, và mỗi lĩnh vực kinh tế – xã hội của quốc gia đó lại có chương trình hành động khác nhau căn cứ trên các tính chất đặc thù của ngành nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững riêng và đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững chung.

Chẳng hạn như ngành nông nghiệp chú trọng phát triển các giống cây trồng – vật nuôi cho năng suất cao chất lượng tốt và không sử dụng quá liều lượng phân bón cũng như hóa chất thực vật bảo vệ để đảm bảo an ninh – an toàn lương thực, sử dụng hiệu quả quỹ đất canh tác cũng như tiết kiệm nguồn nước tưới tiêu, hạn chế hiện tượng sa mạc hóa. Các ngành khai khoáng, sản xuất điện năng, cấp nước sạch, giao thông vận tải, du lịch, … cũng đều đặt ra những mục tiêu và chiến lược phát triển bền vững của ngành mình.

Riêng đối với ngành xây dựng, lĩnh vực tiêu thụ năng lượng và phát thải khí CO2 bằng tất cả các ngành khác cộng lại cũng như sử dụng một tỷ lệ đáng kể nước (42%) và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác (48%) (theo Brian Edwards, 2001), “phát triển bền vững” được cụ thể hóa thành “quy hoạch bền vững” và ở phạm vi hẹp hơn là “xây dựng bền vững” hay “kiến trúc bền vững”. Trước những vấn đề có tính chất toàn cầu như suy thoái môi trường và tác động của biến đổi khí hậu, hoạt động thiết kế kiến trúc và xây dựng công trình cần thân thiện hơn với môi trường.

Thuật ngữ “kiến trúc môi trường” (environmental architecture) hay “kiến trúc thân thiện với môi trường” (environment-friendly architecture) được hình thành và phát triển từ giữa thập niên 1970, gần như luôn song hành với các vấn đề về môi trường và sinh thái của thế giới. Theo thời gian, phạm vi ảnh hưởng của kiến trúc môi trường ngày một sâu rộng và đã trở thành một trào lưu quốc tế, với rất nhiều quan điểm cũng như cách thức tiếp cận vấn đề khác nhau và thu được nhiều thành công cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Kiến trúc (thân thiện với) môi trường được hiểu là thể loại kiến trúc tìm kiếm các giải pháp giảm thiểu các tác động không có lợi về môi trường mà công trình gây ra bằng cách tiết chế và sử dụng có hiệu quả các nguồn vật liệu và tài nguyên thiên nhiên, trong đó có năng lượng là một vấn đề quan trọng hàng đầu, nhằm tạo lập không gian phát triển và duy trì hệ sinh thái. Kiến trúc môi trường sử dụng cách tiếp cận có ý thức đến các vấn đề năng lượng và bảo tồn sinh thái khi thiết kế môi trường xây dựng (Theo Randall Thomas, 2006).

Một định nghĩa khác về kiến trúc môi trường – theo từ điển Oxford của Vương quốc Anh ấn hành năm 2003 – là loại hình kiến trúc đề cập đến hoạt động thiết kế công trình nhằm tạo nên môi trường sống vận hành trên cơ sở tiết kiệm đến mức cao nhất việc sử dụng các nguồn tài nguyên. Điều này được phản ánh trong việc lựa chọn vật liệu và các phương pháp thi công cũng như cách thức vận hành công trình: sưởi ấm, làm mát, cung cấp điện, cung cấp nước, xử lý chất thải, … với mục tiêu duy trì sự tiện nghi cho môi trường sống của con người như một yếu tố cấu thành nên chất lượng cuộc sống, song lại hạn chế tiến tới không gây tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái.

Như vậy, có thể thấy rằng các định nghĩa tuy khác nhau về cách diễn đạt, bản chất của vấn đề được nêu lên lại rất giống nhau và “chụm”. Luôn có hai mặt song song tồn tại là chất lượng cuộc sống của con người và chất lượng môi trường thiên nhiên. Cả hai yếu tố này đều phải được coi trọng ngang nhau.

Hai khái niệm được sử dụng phổ biến trong giới hàn lâm, được bàn luận một cách rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày và trở nên quen thuộc với công chúng trong mấy năm gần đây nhờ sự hỗ trợ tích cực của các phương tiện truyền thông là “Kiến trúc Xanh” và “Kiến trúc Bền vững”. Trong thực tế, nếu không đi sâu vào nghiên cứu học thuật mà chỉ dừng lại ở mức độ phổ biến kiến thức cho cộng đồng, thì hai khái niệm/thuật ngữ này thường được dùng lẫn cho nhau và việc dùng đan xen hai khái niệm/thuật ngữ đó có thể được chấp nhận.

Sự khác biệt của kiến trúc xanh và kiến trúc bền vững

Đối với những người làm công tác nghiên cứu lý thuyết, phát triển lý luận và thực hành nghề nghiệp chuyên môn, thì việc phân biệt “Xanh” với “Bền vững” trong kiến trúc lại trở nên cần thiết. Tuy nhiên, không có nhiều tài liệu đề cập và phân tích sự khác biệt này một cách thấu đáo. Tiến sỹ Nirmal Kishnani, Giảng viên Kiến trúc tại Đại học Quốc gia Singapore, tác giả của cuốn sách “Greening Asia – Emerging Principles for Sustainable Architecture” là một trong số ít học giả đã đi sâu phân tích và làm rõ sự khác biệt đó.

Theo Tiến sỹ Nirmal Kishnani, về mặt định nghĩa thì “Xanh” không hoàn toàn giống với “Bền vững”. “Xanh” là một thước đo có tính tương đối, một luận điểm mang nghĩa ít gây hại hơn. Một công trình được cho là “Xanh” nếu công trình đó tiêu thụ hoặc phát thải ít hơn một mức nào đó được ấn định từ trước. Còn tính “Bền vững” thì thực tế khó đo đạc hơn. Vẫn chưa có một phép đo lường đơn giản nào gói gọn tính bền vững trong công trình.

Bền vững có nghĩa là sinh sống được trong khả năng cung cấp của hành tinh, với tốc độ tiêu thụ hoặc phát thải không nhanh hơn so với những gì có thể được thay thế hoặc sửa chữa một cách tự nhiên. Nói cách khác, đó là không gây hại. Thiết kế bền vững bắt đầu bằng sự hiểu biết đầy đủ về mối liên hệ qua lại giữa công trình và môi trường. Bền vững đòi hỏi phải có tầm nhìn mang tính quốc tế, chính luận và có mối liên hệ qua lại, trong đó những vấn đề sinh thái được quan tâm cùng với các nhu cầu về xã hội và kinh tế của các cộng đồng dân cư.

Sự khác biệt căn bản giữa “Xanh” và “Bền vững” là ranh giới hệ thống mà trong đó một công trình được coi là đang vận hành. Một hệ thống được định nghĩa bởi các giới hạn mà trong đó các yếu tố của hệ thống đó tương tác với nhau (Theo Nirmal Kishnani, 2012).

Như vậy, qua phần biện luận của tác giả cuốn “Greening Asia”, có thể thấy rằng một công trình “ít gây hại hơn” là một bước đệm để có thể đạt tới “không gây hại”. Hay nói khác đi “kiến trúc bền vững” là cấp độ phát triển cao hơn của “kiến trúc xanh”. Theo tư duy logic, để đạt một thành tích cao cần phải vượt qua những ngưỡng ở mức độ thấp hơn được nâng dần. Còn nếu xét về bản chất, “kiến trúc bền vững” là khái niệm tổng thể và phức hợp hơn “kiến trúc xanh”, vì bao hàm tính bền vững về mặt xã hội, trong khi đó “kiến trúc xanh” tập trung chủ yếu vào khía cạnh kỹ thuật và công nghệ với vai trò nâng cao giải pháp thiết kế kiến trúc.

Hình 1: Tòa nhà Một Liên Hợp Quốc tại Hà Nội – ví dụ về “công trình xanh” về năng lượng (Nguồn: http://www.epower.com.vn/vn/du-an/718_toa-nha-xanh-chung-lien-hop-quoc.html)

Luận điểm này được minh họa bằng ví dụ cụ thể: Tòa nhà làm việc mới của Liên Hợp Quốc tại Hà Nội được khánh thành năm 2015 là dự án xây dựng đầu tiên tại Việt Nam đạt được chứng chỉ Lotus Vàng của Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam, khi tiết kiệm 25% năng lượng cho việc chiếu sáng.

Việc khai thác năng lượng mặt trời qua các tấm pin đặt trên mái đóng góp khoảng 10% vào tổng năng lượng tiêu thụ của công trình, và theo tính toán tòa nhà này tiết kiệm 22% năng lượng so với một công trình tương tự không áp dụng các giải pháp thiết kế kiến trúc hiệu quả về năng lượng (Theo Văn phòng Liên Hợp Quốc tại Việt Nam và E4G). Như vậy, công trình này mới chỉ được coi là “công trình xanh” về mặt năng lượng, vì hãy còn phụ thuộc 90% vào các nguồn cung cấp năng lượng khác từ bên ngoài với đầu vào là nhiên liệu hóa thạch.

Trong khi đó tòa nhà Zero Energy (Trung hòa Năng lượng) của Viện Môi trường Xây dựng (BCA) Singapore hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2009 nhờ những giải pháp thiết kế thông minh và áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất đã chủ động hoàn toàn trong việc sản sinh năng lượng từ năng lượng mặt trời. Không những tự đáp ứng toàn bộ nhu cầu tiêu thụ năng lượng của mình đã được tiết chế (ở mức 42 kWh/m2năm), công trình này còn đóng góp một phần năng lượng tạo ra vào lưới điện chung để cung cấp cho các công trình khác trong cùng mạng lưới chưa chủ động 100% về mặt năng lượng.

Như vậy, xét về tiêu chí năng lượng thì tòa nhà Zero Energy của Viện Môi trường Xây dựng Singapore đạt tiêu chí “công trình bền vững”, khi hoàn toàn khai thác năng lượng sạch cho nhu cầu sử dụng và do đó không gây ô nhiễm môi trường và cũng không phát thải CO2 – tác nhân chính thúc đẩy quá trình Trái Đất ấm lên.

Hình 2: Tòa nhà Zero Energy Viện Môi trường Xây dựng (BCA) Singapore – ví dụ về “công trình bền vững” về năng lượng (Nguồn: http://inhabitat.com/tour-singapores-greenest-building-bca-academys-zero-energy-headquarters/)

Tài liệu tham khảo

  1. World Environment Day http://worldenvironmentday.global/
  2. Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới của Liên Hợp Quốc (1987), Báo cáo Brundtland http://www.un-documents.net/our-common-future.pdf
  3. Brian Edwards (2001), Green Architecture, Wiley, New York, trang 5
  4. Randall Thomas (2006), Environmental Design:An Introduction for Architects and Engineers, Taylor and Francis, London, trang 4
  5. Oxford Dictionary (2003), Environmental Architecture
  6. Nirmal Kishnani (2012), Greening Asia – Emerging Principles for Sustainable Architecture, BCI Asia, trang 7 – 8
  7. Văn phòng Liên Hợp Quốc tại Việt Nam                                 http://www.un.org.vn/vi/feature-articles-press-centre-submenu-252/3325-new-un-house-becomes-viet-nam%E2%80%99s-first-gold-rated-green-building.html
  8. Trang thông tin Cơ sở Dữ liệu và Mạng lưới Công trình Xanh Việt Nam E4Ghttp://e4g.org/gb_case_study/toa-nha-xanh-mot-lhq/

KTS Nguyễn Quang Minh

Bộ môn Kiến trúc Dân dụng – Khoa Kiến trúc và Quy hoạch – Đại học Xây dựng