Điều gì cản trở công trình tốt tại Việt nam

223

Song song với quá trình phát triển xây dựng trong vòng 10 năm vừa qua, quá trình thúc đẩy thực hiện công trình xanh là một mối quan tâm lớn của giới làm  nghề. Đã có rất nhiều cuộc hội thảo và các khóa đào tạo được tổ chức  nhằm hiện thực hóa ước mơ xanh của giới kiến trúc, xây dựng. Nhưng số lượng công trình xanh thực sự của  VN cho  tới nay chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Nguyên nhân thực sự của  việc này nằm ở đâu ?

946931_10151387701490957_584270416_n
Ths.KTS Trần Thành Vũ – Chuyên gia tư vấn tiết kiệm năng lượng iFC Worldbank Group

Có thể thấy ngay nguyên nhân đầu tiên là vấn đề của các rào cản kỹ thuật và năng lực thiết kế. Đội ngũ làm nghề tư vấn của Việt Nam hiện tại có rất ít đơn vị đủ năng lực thực hiện công trình  sử dụng năng lượng hiệu quả, công nghệ thiết kế tiên tiến nhất hiện nay là mô phỏng năng lượng công trình gần như chưa được biết đến. Tuy nhiên vấn đề này có thể giải quyết được thông qua đào tạo và có nhiều điều kiện để tự học nhờ internet.

Vấn đề khó nhất nằm ở các quy định về thiết kế cũng như quan niệm của các chủ đầu tư về lao động sáng tạo trong nghệ thuật và kỹ thuật. Phần lớn các chủ đầu tư, thậm chí các đơn vị thiết kế kiến trúc cũng không hiểu được, dù một chút công việc lao  động sáng tạo kỹ thuật (kết  cấu, hệ thống  cơ điện). Sáng tạo trong những lĩnh vực này thường đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn về chi phí đầu  tư và chi phí vận hành. Tuy vậy thực trạng cơ chế và quan niệm về làm thiết kế không có chỗ cho những sáng tạo kỹ thuật phát  triển. Đây là điểm hết sức đáng ngại xét trên  góc độ  phát triển bền vững lâu dài, cả về kinh tế, kỹ thuật, khoa học, môi trường.

Vấn đề căn bản trong mô hình tổ chức và quản lý thiết kế tại Việt Nam?

Để công trình xanh có thể phát triển mạnh thì cần phải giải quyết rất nhiều vấn đề thuộc về kỹ thuật và năng lực thực hiện thiết kế. Kèm theo những vấn đề này còn cần nhiều yếu tố đi kèm để phát huy và khuyến  khích thực hiện công trình xanh, nếu  không  làm được đầy đủ thì việc trang bị kiến thức và năng lực thiết kế cũng không  thể tạo nên sự chuyển biến lớn trong hoạt động xây dựng cơ bản.

Thiết kế với những hình ảnh bắt mắt - Ảnh minh họa
Thiết kế với những hình ảnh bắt mắt – Ảnh minh họa

Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, thực thi chính sách hiệu quả đối với công trình xanh, kết hợp với các chiến lược cấp quốc gia, chiến thuật phát triển cấp địa phương đã không chỉ làm cho công trình xanh, thành  phố phát triển như một trào lưu, mà thông  qua đó, hình thành một nền kinh tế xanh với các sản phẩm công nông nghiệp thân thiện môi trường. Có thể coi như đây là một sự xoay trục trong phát triển kinh tế. Bài học kinh nghiệm đó, với thực tế tại Việt Nam, chúng ta đang gặp phải  một số vấn đề  căn bản trong  mô hình tổ chức và quản lý thiết kế, những điểm này cản trở sự xuất hiện của các công trình thực sự có chất lượng, cản trở việc đóng góp chất xám, sự sáng tạo trong thiết kế xây dựng cơ bản. Giải quyết những vấn đề này là nền tảng thiết yếu cải thiện chất lượng công trình để tiến gần hơn tới công trình xanh.

Phương pháp thiết kế

Trong những năm vừa qua, thực hiện thiết kế tại Việt Nam có những sự chuyển dịch đáng kể trong ứng dụng công nghệ tin học nhằm nâng cao năng suất lao động, điển hình có thể kể đến  công cụ hỗ trợ thiết kế như Autocad, Revit, AutoCad Architect, Architcad, 3dsmax. Tuy nhiên phần lớn những công cụ thiết kế này chủ yếu đóng vai trò thay thế cây bút tờ giấy, đóng vai trò tăng tốc độ thực hiện bản vẽ thiết  kế. Xu hướng gần đây hơn nữa bắt đầu sử dụng các phần mềm phân tích đơn giản, kém chính xác dạng Ecotect, Vasari để phân tích thiết kế và thể hiện trong giai đoạn concept và bảo vệ phương án…

Một số ít đơn vị đã đủ năng lực thiết kế năng lượng công trình  – Viện kiến trúc nhiệt  đới đã là đối tác của VGBC về thẩm tra mô phỏng   năng lượng bên trong công trình
Một số ít đơn vị đã đủ năng lực thiết kế năng lượng công trình – Viện kiến trúc nhiệt đới đã là đối tác của
VGBC về thẩm tra mô phỏng năng lượng bên trong công trình

Như vậy có thể thấy hiện thực chung của việc ứng dụng tin học trong thiết kế chỉ nhằm biểu diễn một số kết quả nghiên cứu cho giai đoạn thiết kế sơ bộ nhằm bảo vệ phương án. Ngay sau khi ký hợp đồng, các đơn vị thiết kế tập trung vào triển khai thật nhanh các bản vẽ thiết  kế, không còn  tiếp tục nghiên cứu tối ưu hóa thiết kế nữa. Việc này ảnh hưởng lớn tới chất lượng công trình, giảm khả năng ứng dụng công nghệ, gây lãng phí đầu tư, sử dụng nhiều năng lượng, tăng phát  thải CO­­2. Các nghiên cứu tính toán với số liệu thực sự về môi trường, về tiện nghi sử dụng, về  cắt giảm chi phí đầu tư trong  giai đoạn phát triển dự án đang bị coi nhẹ, thậm chí hoàn toàn không có thời gian để thực hiện, mục tiêu thiết kế chỉ cốt cho công trình đứng vững, miễn sao  đủ mát tại môi trường bên trong, bấp chấp vượt công suất hệ thống HVAC có thể lên tới 50 – 70% so với mức cần thiết (15% là mức khuyến cáo). Công nghệ sử dụng thật sự trong giai đoạn này hầu như không có gì thay đổi so với 20 năm trước, làm việc theo lối mòn để đảm bảo tiến độ  thực hiện dự án là cách làm phổ biến nhất.

Việc nâng cao năng lực và nhận thức để thực hiện đầy đủ các nghiên cứu này là hết  sức cần  thiết. Hiện tại cũng đã có một số đơn vị đi đầu về năng lượng và tối ưu hóa thiết kế các hệ thống  năng lượng muốn đưa các khái niệm thiết kế mới vào quy trình tối ưu hóa thiết kế tại Việt Nam. Năng lực đã có nhưng công trình thực hiện dù chỉ 1 phần những nghiên cứu tối ưu hóa này hầu như chưa tồn tại.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao các nghiên cứu sâu với lợi ích kinh tế, môi trường rất lớn lại không  được thực hiện, công tác quản lý thiết kế và đầu tư hiện nay đang có vấn đề gì dẫn đến tình trạng như vậy? Liệu thể có xảy ra tình trạng lãng phí chất xám sau khi bỏ rất nhiều công sức đào tạo một đội ngũ chuyên gia và tư vấn đủ để thực hiện tối ưu hóa các công trình phức tạp. Rất có thể sẽ như vậy.

Nhân nào quả nấy

Thiết kế phí tại Việt Nam là một sự khác biệt rất lớn so với mức trung bình trên thế giới. Không  rõ quy định dạng này xuất hiện từ đâu và từ lúc nào,  chỉ biết rằng sự khác biệt này đã trở thành  thói quen với tất cả các đơn vị thiết kế trong cả nước. So sánh với mức thiết kế phí tại Pháp và Mỹ, mức áp dụng tại Việt Nam hiện tại chỉ bằng từ 0,1  – 0,17  lần  (8 -12%  tại Pháp,10 – 17% tại Mỹ).

Định mức thiết kế phí phức tạp và thấp  hơn từ 7 đến 10 lần so với các nước khác
Định mức thiết kế phí phức tạp và thấp hơn từ 7 đến 10 lần so với các nước khác

Mức thiết kế phí tại Việt Nam còn có nhiều khoản chi khác làm hao  hụt và mức chi phí thực sự đến được tới những người trực tiếp tham  gia thiết kế còn lại rất nhỏ, tạo thành mặt bằng chung về lương tại các văn phòng kiến trúc khá  thấp. Để có thể đảm  bảo được đời  sống và duy trì hoạt động tại thành phố, các văn phòng kiến trúc phải có việc thường xuyên, đây là điều đã xảy ra trong thời kỳ bùng nổ bất động sản.

Các đơn vị thiết kế làm việc bận  rộn, thậm chí với cường độ mà kiến trúc sư tại các nước phát triển không thể tưởng tượng nổi, công việc chính là triển khai bản vẽ để đảm bảo tiến độ nộp hồ sơ và đưa thiết kế ra công trường (kết cấu, kiến  trúc, MEP). Các công việc như vậy thực ra cũng chỉ đủ để đảm bảo đời sống của các văn phòng.

11-19-2013 3-46-23 PM

Tích lũy thực tế để thực hiện các công việc khác như  nâng cao năng lực, đề phòng rủi ro thị trường thường là rất nhỏ. Bằng chứng là đã có nhiều văn phòng kiến trúc nội đóng cửa, các văn phòng nước ngoài rút khỏi Việt Nam trong thời kỳ hiện tại. Chính vì lý do đó mà việc tìm kiếm các kiến thức mới, phương pháp thiết kế mới, ứng dụng phát  minh, sáng chế cũng đồng thời bị hạn chế theo vì không  thể có đủ chi phí để thuê chuyên gia, đặc biệt trong lĩnh vực kết cấu mới và năng lượng…

Tuy rằng thiết kế phí thấp như vậy nhưng vẫn có bộ phận kiến trúc sư, kỹ sư cố gắng hoàn  thành  tốt công việc 1 cách sáng tạo, tìm  kiếm các giải pháp mới, nhưng phần lớn các giải pháp này khi đưa vào thực tế đều vô cùng khó khăn.

Vì sao vậy? Vấn đề  thiết kế phí chỉ là một nửa của vấn đề làm hạn chế sáng tạo trong thiết kế. Quan niệm về các bước thiết kế và nhận thức của các đơn vị quản lý dự án chính là nguyên nhân  ngăn chặn việc đưa các sáng tạo kỹ thuật vào công trình. Đáng tiếc là các sáng tạo này nếu được sử dụng đúng chỗ, có thể đem lại lợi ích rất lớn cho đơn vị đầu tư bất động sản.

Sự phân phối thiết kế phí theo các giai đoạn thường như sau:  10 – 15%  cho giai đoạn thiết kế  cơ  sở. 10  – 15%  cho giai đoạn thiết kế kỹ thuật (có thể điều chỉnh theo thỏa thuận), 40 – 45% cho giai đoạn triển khai hồ sơ thi công. Phần còn lại nằm trong thiết kế ý tưởng, lên kế hoạch và thanh toán sau khi vận hành công trình.

Tỷ lệ phân phối thiết kế phí như vậy làm cho các đơn vị quản lý dự án, hay chủ đầu tư Việt Nam hiểu rằng thời gian và chất xám bỏ ra cho các giai đoạn tương ứng với số tiền mà họ phải thanh  toán. Thông thường đối với công trình lớn, các đơn vị quản lý dự án cho thiết kế trong khoảng 2 tháng với thiết kế cơ sở, tương tự với triển khai thiết kế kỹ thuật, bản vẽ thi công khoảng 4 – 6 tháng. Trong thực tế hành nghề giai đoạn bùng nổ bất động sản, tháng có thể rút xuống  thành  tuần  (2 – 2 – 4 tuần). Việc ép các đơn vị thiết kế làm việc gấp rút, coi nhẹ  giai đoạn thiết kế cơ sở là hành động hoàn  toàn sai lầm. Để một công trình được tốt và tối ưu hóa, phần lớn các yếu tố sáng tạo, cả trong kiến  trúc, kết  cấu, cơ điện đều phải được tính đến  ngay từ bước thiết kế cơ sở. Ở bước này việc triển khai bản vẽ không  quan trọng, bản  chất  của  giai đoạn thiết kế này  là các số  liệu tính toán và phương pháp thực hiện, so sánh hiệu quả kinh tế ngắn hạn và dài hạn của  các phương án. Các số liệu tính toán tối ưu hóa này khi thực hiện thiết kế tại Việt Nam lại đang bị coi nhẹ, chủ đầu đôi khi chỉ thanh toán theo độ dày của hồ sơ giao nộp.

Tại Nhật, Pháp và phần lớn các nước khác, giai đoạn thiết kế cơ sở thường kéo dài tối thiểu 6 tháng đối với công trình lớn có nhiều thiết bị, lên tới 1, thậm chí 2 năm đối với những công trình  quan trọng. Ở bước này chủ đầu tư không phải trả nhiều chi phí vì các đơn vị tư vấn không sử dụng nhiều  nhân công tham gia dự án, nhưng họ đều phải là các chuyên gia trong các bộ môn  chuyên ngành. Tại bước này, họ thực hiện tính toán, tối ưu hóa thiết kế, tối ưu hóa đồng vốn đầu  tư, tìm kiếm các giải pháp sáng tạo nhằm đưa ra các biện pháp tốt nhất theo đặc thù từng công trình. Tới cuối giai đoạn thiết kế cơ sở, mọi vấn đề của thiết kế hầu như đã được giải quyết, các số liệu đã được lên đầy đủ, đã tính toán chính xác chi phí đầu tư, ước tính chi phí vận hành công trình, lý giải đầy đủ tại sao chọn giải pháp này mà không  dùng giải  pháp kia…  Đây chính là  giai đoạn mà giá trị chất xám, sự sáng tạo, sự vận dụng các thành tựu công nghệ là lớn nhất. Tới các giai đoạn thiết kế tiếp theo phần lớn do các kỹ thuật viên thực hiện dưới sự giám sát của các chuyên gia, đầu tư chất xám ở giai đoạn này thực ra không nhiều và không tập trung như giai đoạn thiết kế cơ sở.

Như vậy có thể  thấy, quan điểm chưa đúng về các giai đoạn thiết kế sẽ gây ra những hậu quả về lâu dài mà không thể lường trước được. Nó làm nản lòng những người tâm huyết với nghề, họ có thể chấp nhận thiết kế phí thấp mà vẫn cống hiến và sáng tạo. Nhưng với cách làm việc như hiện nay, thời gian không cho phép họ làm việc theo đúng những gì họ có thể cống hiến. Cách đơn  giản nhất để nhận được thiết kế phí là làm theo lối mòn, theo các phương pháp cũ và an toàn.  Cột lớn, dầm lớn miễn sao chắc chắn, hệ  thống điều hòa lớn miễn sao bên trong công trình được  mát… Hệ quả là vốn đầu tư tăng, sử dụng nhiều vật liệu, công suất thiết bị tăng, chi phí tăng  theo, quá  trình vận hành cũng đòi hỏi sử dụng nhiều năng lượng và gây tăng chi phí vận hành.

Cũng chính vì cách làm và thiết kế phí như trên mà các công trình do nước ngoài thiết kế cũng đồng thời giảm  chất lượng theo. Nguyên nhân là các công ty nước ngoài với mức thiết kế phí thấp, một cách chính thức thì họ chỉ bỏ công sức làm concept với mục đích ký được hợp đồng, sau đó thuê  lại thầu phụ Việt Nam thực hiện với mức phí thấp, tất nhiên chất lượng kèm theo cũng khó có thể cao được, nhất là khi bị ép tiến độ thì việc thực hiện nghiên cứu sâu để tối ưu thiết kế là không tồn tại. Như vậy, chúng ta đã mua các thiết kế của nước ngoài với giá cao nhưng lại tự hại mình để không thể đạt được mức chất lượng mong  muốn, nhất là với các công trình lớn, nhiều thiết bị.

Giải pháp cho tình trạng ép tiến độ thiết kế trong giai đoạn này chỉ có thể giải quyết bằng luật để tạo điều kiện tăng hàm lượng chất xám cho các nghiên cứu thiết kế. Giải pháp đơn giản là yêu cầu chủ đầu tư sau khi ký hợp đồng thiết  kế và chuyển tạm ứng lần đầu, phải thông báo cho sở xây dựng biết thời điểm bắt đầu thiết kế. Sau đó tùy theo cấp độ công trình mà quyết định thời gian nghiên cứu, hết thời hạn này chủ đầu tư mới được quyền nộp hồ sơ xin cấp phép xây dựng.

Hậu quả

Quan niệm sai lầm về các giai đoạn thiết kế, kết hợp với định mức thiết kế thấp đến mức vô lý làm suy giảm chất lượng thiết kế một cách hiển nhiên. Chưa giải quyết được vấn đề này để các công trình trở nên tốt hơn thì khó có thể nói về một nền kiến trúc bền vững.

Chất lượng thiết kế hiện nay cho thấy một số hậu quả mà Việt Nam đang phải gánh chịu như sau:

Thẩm mỹ: Không có thời gian để hoàn thiện thiết kế thẩm mỹ công trình, các chi tiết bị lược  bỏ hay bị bỏ quên rất  nhiều. Ví dụ: đối với khí hậu Việt Nam,  các công trình thườn  xuyên bỏ qua các chi tiết hạn chế nước chảy trên bề mặt làm bẩn và xuống cấp công trình nhanh chóng.

Kỹ thuật: Không có đất để áp dụng công nghệ mới trong thiết kế và thi công suốt những năm  vừa  qua, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng.

Nền tảng khoa  học:  Khoa học công trình tụt  hậu,  không còn sách khoa học ứng dụng trong lĩnh vực này xuất hiện. Bao gồm các vấn đề hoàn  thiện công trình, vật liệu mới, kết cấu, năng lượng, âm học kiến trúc, nhiệt, chiếu sáng, năng lượng tái tạo, hiệu  năng vỏ bao  che… Các  chuyên gia phần lớn đều đã cao tuổi và khó  khăn khi tiếp cận với các thành tựu mới và sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ ứng dụng.

Chi phí: Tăng  giá thành đầu  tư và kết cấu, thiết bị, giảm chất lượng hoàn thiện. Tăng chí phí vận hành công trình.

Môi trường: Tăng sử dụng năng lượng, tăng phát thải CO­­2.

Ths. KTS Trần Thành Vũ

Chuyên gia tư vấn tiết kiệm năng lượng iFC Worldbank Group
Chuyên gia năng lượng tại Viện kiến trúc Nhiệt Đới ITA – HAU