Chọn con đường xây đắp lò đào tạo kiến trúc sư

166

“Nói đến khái niệm “lò” là nói tới sự định hình sản phẩm, sự ổn định của chúng với thời gian, sự tín nhiệm về thương hiệu. Lò duy trì bền lâu, ngoài những bí quyết, là nhờ truyền nghề. Lò đào tạo kiến trúc sư, được gọi tên như vậy, là bởi có nhiều liên tưởng với cái lò làm nghề truyền thống. Lò có ra “lò” hay không phụ thuộc ở chất lượng đào tạo, ở cách thức và cái riêng biệt trong dạy nghề, ở năng lực và cá tính sáng tạo của học trò được tôi luyện bởi cái lò ấy…”

1

Dạy nghề kiến trúc bao gồm bốn phần: tri thức văn hóa nền tảng, kiến thức chuyên môn, tư duy sáng tạo chuyên biệt, kỹ năng tác nghiệp. Sinh viên kiến trúc có thể học vài chục môn, với sự giảng dạy của chuyên gia thuộc nhiều bộ môn. Song, đòi hỏi cao nhất và mục đích cuối cùng là họ phải làm chủ cho được bốn mảng cơ bản cấu thành người làm nghề kiến trúc.

MG_6383_512x768-333x500

Sự chủ động sáng tạo con đường đi riêng của mỗi cơ sở đào tạo chính là từ đây: khắc phục tình trạng sinh viên học nhiều, nhưng lại nắm không sâu và hiểu không thấu, hấp thụ không nhuyễn, khi hành nghề lúng túng và thiếu chuyên nghiệp. Đã có rất nhiều nỗ lực cải tiến, song rõ ràng là chất lượng đào tạo chưa thỏa đáng. Do những hạn chế từ quá khứ và những rào cản khó bề giải tỏa của thực tại, chúng ta chỉ còn có thể chấp nhận sự lựa chọn một hướng đi thái cực, song bất đắc dĩ và khả thi. Đó là hướng đi theo phương châm: “Gọn, Tinh, Chắc, Mũi nhọn và Thiết thực”.

Phương châm “Gọn” được hiểu là sự giảm thiểu những kiến thức thứ yếu và ít liên quan, tập trung vào những kiến thức cơ bản và cốt lõi nhất, vào cái tối thiểu hàm lượng thông tin, mà sinh viên bắt buộc phải làm chủ, để dùng làm hành trang cho cuộc đời hành nghề.

Phương châm “Tinh” được hiểu là sự chiết suất và truyền đạt tới sinh viên những gì là tinh hoa của văn hóa, của nghệ thuật kiến trúc, của các kiệt tác và của các kiến trúc sư bậc thầy. Một khi thấu và đi từ cái “tinh”, người sáng tạo kiến trúc sẽ có cơ máy đến với cái “tinh” trong suy nghĩ, trong biểu đạt, trong tác phẩm.

Phương châm “Chắc” được hiểu là sự chuyển tải kiến thức để sinh viên hiểu tường tận và sâu xa, từ đó nắm vững và nắm thật chắc. Kiến thức, một khi được tiêu hóa và hấp thụ nhuần nhuyễn, sẽ mở cửa cho sự thu nạp thêm kiến thức mới và, đặc biệt, làm đất để sản phẩm sáng tạo nảy sinh. Độ chắc chỉ có thể khi kiến thức đã có sự gạn và cô, đã được làm gọn và tinh.

Phương châm “Mũi nhọn” được hiểu là sự gạn chắc và tuyển lựa những kiến thức có định hướng, có mục tiêu nhắm tới, là cái lò xo có sức bật, là năng lượng sản sinh. Quỹ tri thức không tản mạn, bổ sung nhanh, trở nên bất tận. Nên chăng ưu tiên giúp sinh viên thu nạp kiến thức một cách không thụ động, học được cách tư duy chủ động, sắc và nhọn, mục tiêu hóa.

Phương châm “Thiết thực” được hiểu là việc dạy sinh viên những kiến thức cần hơn cả cho nghề, những kiến thức cho phép họ đáp ứng đủ và nhạy các nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, phương châm này có phần mâu thuẫn với quan điểm và đòi hỏi của đào tạo đại học, – tính hàn lâm, tính cơ bản. Trong hoàn cảnh hiện nay, khi các kiến trúc sư ra trường thường chưa đủ khả năng hành nghề một cách chuyên nghiệp, khi bản thân thầy giáo cũng chưa hẳn đã vững vàng trong hành nghề kiến trúc lẫn trong hành nghề sư phạm, thì có lẽ vẫn phải chọn hướng đào tạo thiết thực, bên cạnh sự chú trọng tính hàn lâm, ở mức độ khả thi.

2

Việc thực hiện phương châm “Gọn, Tinh, Chắc, Mũi nhọn và Thiết thực”, nên bắt đầu từ giáo trình rồi tiến đến giáo khoa. Chẳng hạn, các môn lịch sử kiến trúc, nhập môn lý luận và kiến trúc, văn hóa và kiến trúc, thiết kế công trình công cộng, thiết kế nhà ở, v.v…cần được biên soạn lại, trên cơ sở quan điểm cung cấp kiến thức gọn, tinh, chắc, mũi nhọn và thiết thực. Cốt lõi của giáo trình thu gọn phải là cái khung sườn thật chắc và thật gắn kết về phương pháp luận, một cái khung sườn dễ dàng được sinh viên thu nạp, lưu giữ trong bộ nhớ. Các kiến thức chính yếu hoặc không thể thiếu khuyết cần được ghép nạp vào bộ khung sườn ấy, theo thang bậc và cấp độ thông tin sắp xếp thứ tự và chặt chẽ. Một khi kiến thức được cung cấp ở dạng cấu trúc hóa trong mối quan hệ cái này để ra cái nọ, cái sau là hàm số của cái trước, sẽ tạo cho học trò những cái khung kiến thức, chắc và mạch lạc. Trật tự chính là phương tiện để chiếm lĩnh tri thức, công cụ hóa tri thức.

small_17673

Một giáo trình, ví dụ, về lịch sử kiến trúc, trước tiên phải thiết lập chuỗi tiến hóa kiến trúc song cùng với tiến hóa xã hội. Sau đó là, ở mỗi giai đoạn lịch sử, làm rõ mối quan hệ tự nhiên và qua lại giữa công năng – điều kiện tự nhiên – điều kiện lịch sử và thượng tầng xã hội, chúng tác động thế nào, chi phối thế nào hình thái kết cấu và hình thái kiến trúc, chi phối thẩm mỹ của công trình kiến trúc. Về mỗi giai đoạn lịch sử và mỗi giai đoạn phát triển kiến trúc, học trò cần hiểu và ghi nhớ những hiểu biết đó, neo víu vào những công trình hoặc các tác giả tiêu biểu.

Một ví dụ khác, do kiến trúc của người Việt cho tới thời cận đại là kiến trúc gỗ, việc dạy lịch sử kiến trúc dân tộc nên tập trung làm cho sinh viên hiểu rõ bản chất của vật liệu gỗ, sơ đồ kết cấu cùng hình thái kiến trúc sản sinh ra từ gỗ – chung quy là dạy về ngôi nhà gỗ, cơ bản và muôn thuở của văn minh kiến tạo Việt, sự biến hóa từ nó sang các thể loại và qua các triều đại. Cuối cùng là sự đúc rút ra: kế thừa cái gì ở kiến trúc nhà gỗ, ở tinh thần kiến trúc gỗ và kiến trúc Việt truyền thống nói chung.

Xem những giáo trình, những sách giáo khoa hiện nay, ta ngại ngùng về sự ôm đồm, sự cầu toàn trong khối lượng kiến thức và thông tin mà sinh viên phải thu nạp. Họ có thể học thuộc để sát hạch lấy điểm, song họ sẽ chóng quên, lại càng không dễ dàng huy động vào việc. Kiến thức cần được chuyển giao cho học trò ở cấu trúc dạng cái cây: rễ – gốc – thân – cành – lá. Vốn kiến thức ngay ngắn ấy sẽ giúp cho họ, khi tác nghiệp, bật ra tức thì cái lò xo của sự sáng tạo: ý tưởng – hình tượng – kiến trúc.

3

Nói đến khái niệm “lò” là nói tới sự định hình sản phẩm, sự ổn định của chúng với thời gian, sự tín nhiệm về thương hiệu. Lò duy trì bền lâu, ngoài những bí quyết, là nhờ truyền nghề. Lò đào tạo kiến trúc sư, được gọi tên như vậy, là bởi có nhiều liên tưởng với cái lò làm nghề truyền thống. Lò có ra “lò” hay không phụ thuộc ở chất lượng đào tạo, ở cách thức và cái riêng biệt trong dạy nghề, ở năng lực và cá tính sáng tạo của học trò được tôi luyện bởi cái lò ấy.

Kiến thức chuyên môn tiếp thu qua bài giảng và sách giáo khoa. Nghề lại học qua “truyền”. Thầy trực tiếp truyền cho trò kỹ năng tác nghiệp, thủ pháp kinh nghiệm hành nghề, quan niệm thẩm mỹ, cách thức chuyển ý tưởng thành hình hài kiến trúc. Thầy nhen nhóm và thổi bùng ngọn lửa sáng tạo nơi học trò, cuốn hút họ vào say mê nghề nghiệp và khát vọng thể hiện. Sách giáo khoa là sản phẩm đúc kết từ những cái chung. Thầy là hiện thân của sự đơn chiếc, là bản thể tư duy và sáng tạo không có phiên bản. Nghệ thuật đòi hỏi và sản sinh tính cách. Thầy và sự truyền nghề bởi người thầy khuôn đúc ở trò tính cách. Trong văn hóa Âu châu, người ta sử dụng từ “master”, ám chỉ người giỏi nghề ở mức bậc thầy, người tài nghệ, xứng đáng để theo học. Chúng ta phấn đấu để có những master trong nghề, master trong truyền nghề.

dsc_0297w-500x250

Ở ta lâu nay sử dụng cụm từ “cán bộ giảng dạy”. Về phương diện cơ chế, phương diện nhân sự, trong những hoàn cảnh lịch sử nào đó, nghe cụm từ ấy mà thấy yên tâm về sự bình đẳng giữa người cán bộ – công chức và người dạy học. Nhận thức cơ chế hóa về “thầy giáo – cán bộ” ấy lấn át, làm phai mờ bản chất sau xa và chuyên biệt của nghề “thầy”. Cải cách và chấn hưng giáo dục, nên chăng từ sự khôi phục vị thế danh giá và quyền lực đặc biệt của người thầy. Việc khôi phục vị thế của người thầy bắt đầu từ nhận thức sứ mệnh của người thấy, từ sự tăng sức hút của nghề dạy, mà trước tiên là chế độ đãi ngộ, là môi trường lành và mạnh của việc dạy và học. Nhũng điều này có vẻ như bất khả thi trong những ràng buộc chằng chịt của những định chế lối mòn và sự trì trệ của tư duy cố hữu. Có những cái khó chấp nhận hơn đã được chấp nhận, như thể sự cho phép ra đời những cơ sở đào tạo trung học và đại học ngoài công lâọ. Cố sao những đòi hỏi sống còn của việc dạy lại không tuân thủ những quy luật chung?

Chìa khóa của việc nâng cao chất lượng đào tạo kiến trúc sư có thể là sự hướng tới thiết lập cán cân hợp lý giữa kiến thức thu nhận qua bài giảng và sách giáo khoa với kiến thức và kỹ năng thu nhận qua truyền nghề, trực tiếp từ thầy. Để thực hiện sự cân bằng này, cần tới các điều kiện sau:

Tăng cường số lượng các người thầy đã trải qua hoặc đang hành nghề thiết kế kiến trúc, có kinh nghiệm từ thực tế, có những công trình và tác phẩm, đến với học trò từ nhu cầu chia sẻ tay nghề. Sự thiếu vắng những người thầy từ thực tế hành nghề làm cho việc học nghề của sinh viên phần nào tách lìa khỏi sự say mê, sự cuốn hút của môi trường sáng tạo, tách lìa họ khỏi thực tế sôi động, mà nghề kiến trúc phải đứng ngập mình trong đó. Tăng cường và khuyến khích những thầy trẻ tuổi, song lại có khả năng tư duy bứt phá, có cá tính mạnh, lôi cuốn được học trò.

Trong đào tạo kiến trúc sư, sau thời gian học những môn cơ sở và nhập môn, học trò phải được trao vào tay các thầy – kiến trúc sư, dẫn dắt họ liên tục trong hai, ba năm còn lại, từ đồ án đến đồ án, từ bài tập đến bài thi sáng tác. Tiến tới hình thức học nghề cấp tiến hơn, khi học trò có thể xin được theo thầy này thầy nọ. Khi ra trường, kiến trúc sư trẻ có thể tự hào là học trò của thầy nào, điều mà lúc này họ chưa nói được. Truyền nghề trước hết là truyền thứ “gien” và thứ “men” sáng tạo đặc trưng.

 08

Nên khuyến khích và xây dựng mô hình “xưởng” theo đúng nghĩa. Xưởng duy trì và dẫn dắt bởi một, hai người thầy. Thầy – trò là một tập thể học – luyện – sáng tạo, gắn bó và ổn định. Xưởng như thế trở thành cái lò nhỏ của cơ sở đào tạo là cái lò lớn. Tìm tòi và tính cách là những xúc tác cho sự vun đắp, định hình những khuôn mẫu dạy nghề kiến trúc. Đồng thời, xúc tác sự cạnh trạnh tự nhiên, sự lựa chọn cũng như sự phủ định từ đấy.

Bên cạnh việc học trò tiếp thu sự truyền nghề trực tiếp từ các thầy, có một hình thức khác nữa để kích thích ham muốn và ý chí của họ, đó là việc họ luôn “bị” hoặc “được” lôi cuốn vào những cuộc thử thách: thử hoặc thi phác thảo ý tưởng, tham gia các cuộc thi trong xưởng và khoa, các cuộc thi trong nước và quốc tế. Trước mỗi đồ án là một cuộc thi nhanh ý tưởng. Hễ xã hội đặt ra những nhu cầu, những vấn đề to tát như bảo vệ môi trường, như ứng phó với biến đổi khí hậu, quy hoạch phát triển đô thị, cải tạo kiến trúc nông thôn, nhà ở cho người thu nhập thấp, kiến trúc xanh,…đến những vấn đề thời sự bức xúc của kiến trúc, người thầy nhanh nhạy đưa sinh viên vào những cuộc thử thách tìm kiếm ý tưởng, đi kèm việc thảo luận những chủ đề đặt ra và việc lựa chọn những đáp số ưu việt. Việc cho sinh viên liên tục tập dượt, thử thách và kiểm nghiệm tài năng, vừa duy trì sự cuốn hút và sôi động trong học nghề, vừa giúp thầy phát hiện những mầm mống và hiểu hiện của tài năng ở học trò, dành sự quan tâm cho việc khơi mở con đường sáng tạo cho từng người. Các em hầu như ai cũng mê game online. Sao không thử biến việc dạy sáng tác thành một game?

Sinh viên kiếc trúc cần được khuyến khích tập hợp thành những nhóm, những tập thể có chung ham muốn và có chung ý tưởng sáng tạo, tạo cho họ thời cơ nói lên những tuyên ngôn nghề nghiệp của tuổi trẻ, để họ không ngần ngại bứt phá về phía trước. Sinh viên chủ động xông pha vào nghề sẽ đồng thời xúc tác sự chủ động ở các thầy. Thành công của đào tạo, của một lò đào tạo kiến trúc sư chính là sự gắn kết chặt chẽ, trong sự chuyển động thôi thúc mối quan hệ truyền nghề, từ Thầy sang Trò.

GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính / Năm 2011

*Bài viết được Kienviet.net đăng tải lại từ cuốn sách Văn hóa Kiến trúc.