Đào tạo theo hệ thống tín chỉ – Hướng tới đổi mới toàn diện

566

Với các ưu điểm nổi bật đề cao vai trò của người học, coi việc tự nghiên cứu và học tập của sinh viên là yếu tố then chốt giúp tiết kiệm chi phí và thời gian, nâng cao chất lượng giảng dạy, qua 5 năm đào tạo sinh viên theo hệ thống tín chỉ, Trường ĐHKT Hà Nội đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận. Tuy nhiên để có thể đổi mới đào tạo một cách toàn diện cả về chất và lượng, rất cần một lộ trình bài bản, toàn diện và thích hợp với đặc thù đào tạo trong từng giai đoạn cụ thể. Đó là ý kiến của PGS.TS Vương Ngọc Lưu, Q. Hiệu trưởng Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kiến trúc Việt Nam. 

PV: Qua 5 năm đào tạo theo học chế tín chỉ, xin ông cho biết đánh giá bước đầu về những kết quả mà trường ĐH Kiến trúc Hà Nội đã đạt được?

PGS.TS Vương Ngọc Lưu: Đào tạo tín chỉ đối với bậc đại học là một hình thức đào tạo được các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng từ thế kỷ 19, với các ưu điểm nổi bật là đề cao vai trò của người học, coi việc tự nghiên cứu và học tập của sinh viên là yếu tố then chốt giúp tiết kiệm chi phí và thời gian đào tạo, đáp ứng nhu cầu thực tiễn về trình độ lao động.

PGS.TS Vương Ngọc Lưu
PGS.TS Vương Ngọc Lưu

Cùng với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo kết luận của Hội nghị Trung ương 6 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương, trong xu thế đổi mới chung, qua 5 năm ứng dụng mô hình đào tạo mới tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, có thể nhận thấy đào tạo tín chỉ là một phương thức đào tạo tiên tiến cần được tiếp tục triển khai. Rất nhiều con số thống kê đáng khích lệ được ghi nhận như số sinh viên học lực khá tăng 25%.

Tuy nhiên, những thách thức phía trước vẫn còn nhiều, cần xây dựng phương hướng và nhiệm vụ đào tạo theo các mục tiêu, nhiệm vụ chi tiết và cụ thể, từng bước thực hiện thành công đổi mới toàn diện hình thức đào tạo. Để thích ứng với hình thức đào tạo mới, các cuộc họp và hội nghị bàn về quy chế đào tạo, công tác giảng dạy, công tác xây dựng chương trình đào tạo, công tác cố vấn học tập, công tác quản lý lớp và các môn học, công tác quản lý tiến trình tích lũy tín chỉ của sinh viên, công tác xây dựng và đưa vào triển khai phần mềm quản lý đào tạo… được quan tâm rút kinh nghiệm thường xuyên, góp phần quan trọng vào việc duy trì, từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy, ổn định và đổi mới công tác quản lý đào tạo, làm thay đổi đáng kể phương pháp giảng dạy của giáo viên. Các vấn đề còn tồn tại trong từng giai đoạn như khả năng tự học của sinh viên, phương pháp giảng dạy, giáo trình và tài liệu giảng dạy, cố vấn học tập, phần mềm quản lý đào tạo… đã được nhận diện rõ để có sự nghiên cứu rút kinh nghiệm và đổi mới từng bước tiến tới hoàn thiện ngày một tốt hơn quy trình dạy và học đối với hệ đào tạo tín chỉ. Qua từng năm thực hiện và rút kinh nghiệm, đã thấy rõ sự chuyển biến sâu sắc trong chất lượng đào tạo sinh viên như: năm 2008 – 2009, hoàn thành áp dụng chương trình đào tạo với đề cương các môn học được xây dựng và đổi mới căn bản; năm 2010, triển khai ứng dụng phần mềm quản lý đào tạo theo hình thức tín chỉ, được sử dụng ổn định cho đến nay giúp hình thành một quy trình chuẩn về đào tạo từ đăng ký môn học, theo dõi lịch thi, cập nhật điểm, các tính năng mới như nộp học phí qua tài khoản và quản lý dữ liệu bằng tốt nghiệp theo hệ thống phần mềm cũng sẽ được cập nhật tích hợp trong thời gian tới.

Giờ học đồ án tại xưởng, sinh viên khoa Kiến trúc - ĐH Kiến trúc Hà Nội
Giờ học đồ án tại xưởng, sinh viên khoa Kiến trúc – ĐH Kiến trúc Hà Nội 

PV: Việc chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ đòi hỏi phải có sự thay đổi tương thức về chương trình, phương pháp đào tạo…

PGS.TS Vương Ngọc Lưu: Đúng vậy. Nhà trường đã cơ bản hoàn thành xây dựng chương trình đào tạo, đề cương môn học, tài liệu học tập. Nhận thức rõ chương trình đào tạo là nhân tố tiên quyết trong sự thành công của công tác đào tạo đặc biệt là mô hình đào tạo tín chỉ, việc điều chỉnh chương trình trong những năm qua đã được thực hiện rõ nét, hiện tại trường đã xây dựng được chương trình đào tạo cho 12 chuyên ngành. Nhà trường đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đề cương môn học của tất cả các ngành đào tạo làm căn cứ thống nhất nội dung, chương trình giảng dạy và tài liệu học tập tích cực của sinh viên. Năm 2010 – 2011, nhà trường đã tổ chức biên soạn lại Đề cương môn học và ban hành làm tài liệu giảng dạy chính thức từ năm 2011.

Hầu hết giảng viên đã nhận thức được về phương pháp giảng dạy tín chỉ và đổi mới tích cực như: Phương pháp nêu vấn đề, ra tình huống, thảo luận nhóm, thực tập môn học được tăng cường. Phần lớn giảng viên đã ứng dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại. Các hình thức kiểm tra đánh giá đa dạng như tự luận, vấn đáp, chấm điểm người học qua hình thức chấm điểm chuyên cần, điểm giữa kỳ, điểm hết môn được ưu tiên ứng dụng với đa số môn học.

Sinh viên có cơ hội tốt hơn để nắm bắt được đầy đủ nội dung, yêu cầu học liệu và tiến trình giảng dạy kiểm tra – đánh giá sinh viên thông qua Đề cương môn học. Sinh viên đã bắt đầu chuyển từ trạng thái học thụ động đến trạng thái chủ động nắm bắt được toàn bộ thông tin về môn học: học nội dung gì, học như thế nào và cần phải làm gì để thực hiện được nhiệm vụ học tập. Đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy tính thích ứng và tích cực học tập của sinh viên. Thái độ học tập của sinh viên chuyển biến tích cực như đã chủ động phản ánh ý kiến cá nhân về giảng dạy của giáo viên và các điều kiện dạy – học của nhà trường. Đa số sinh viên đã thành công trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập cá nhân.

Giờ học Mỹ thuật sinh viên khoa Kiến trúc  - ĐH Kiến trúc Hà Nội
Giờ học Mỹ thuật sinh viên khoa Kiến trúc – ĐH Kiến trúc Hà Nội 

PV: Vậy, đâu là những tồn tại chính và hướng khắc phục như thế nào, thưa ông?

PGS.TS Vương Ngọc Lưu: Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, chất lượng đào tạo vẫn là vấn đề cần được tiếp tục cải thiện và nâng cao. Do thời lượng chương trình đào tạo giảm, phương pháp giảng dạy và đánh giá chưa thay đổi nhiều, do sinh viên chưa quản lý được kế hoạch học tập và chưa có phương pháp học tập phù hợp, dẫn đến số lượng sinh viên tốt nghiệp so với số lượng sinh viên thực tuyển giảm mạnh so với đào tạo niên chế. Đây là vấn đề cần được lưu tâm và có các biện pháp đánh giá đối với sinh viên ngay trước và sau khi tốt nghiệp để kiểm chứng.

Nhìn chung, nhân tố người học và giảng dạy là những điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện thành công của công tác đào tạo nói chung, đặc biệt là hệ thống đào tạo tín chỉ. Tiếp tục coi công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ hàng đầu quyết định đến mọi mặt hoạt động đào tạo. Tập trung các nhiệm vụ đổi mới nội dung công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên cả về phương pháp giảng dạy, thiết kế bài giảng, thực hành các kỹ thuật sư phạm trong giảng dạy và kiểm tra đánh giá. Chuẩn hóa các vị trí công tác, các quy trình nghiệp vụ, các tiêu chí đánh giá chất lượng công việc và nhân lực để chuyên nghiệp hóa hoạt động giảng dạy, quản lý và phục vụ giảng dạy. Xây dựng các chính sách tạo động lực thúc đẩy giảng viên, cán bộ sáng tạo, truyền tải cái mới, cái tốt, phù hợp với đào tạo theo tín chỉ. Tiếp tục tiến hành rà soát, đánh giá, phân loại đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ giảng dạy theo đề án đã được phê duyệt về các góc độ: trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, khả năng sư phạm… để có thể  xây dựng đội ngũ cán bộ làm nghề giỏi, cán bộ quản lý tinh thông nghề nghiệp, sử dụng được tối đa vai trò của đội ngũ cán bộ và giảng viên trong đào tạo tín chỉ. Xây dựng các tiêu chí đánh giá và phân công cự thể các vị trí giảng dạy như giảng viên chính, trợ giảng để có thể thực hiện được việc hướng dẫn sinh viên tự học tốt nhất.

Hệ thống đề cương môn học qua thực tế đào tạo đã bộc lộ rõ các khuyết điểm nhất định. Một số mục không cần thiết, vẫn còn nhiều nội dung chi tiết, ba mục tiêu về trình độ: “nhớ – hiểu – đánh giá, vận dụng” và 3 yêu cầu cấp độ: “phải biết – nên biết – có thể biết” chưa xác định rõ như trong chuẩn đầu ra trong đa số đề cương hiện có, chưa có địa chỉ các trang mà sinh viên phải đọc trong các tài liệu bắt buộc và tài liệu tự chọn. Tiến hành rà soát xây dựng lại đề cương các môn học, nội dung các môn học nhằm đạt được yêu cầu cập nhật được kiến thức thực tế và hiện đại cần thiết nhất để truyền tải cho sinh viên, đảm bảo được chuẩn đầu ra.

Đào tạo tín chỉ mà không có tài liệu như ra trận mà không có vũ khí. Song song với rà soát chương trình đào tạo, cần xây dựng hệ thống về tài liệu giảng dạy đồng bộ. Mỗi một môn học cần có một bài giảng làm tài liệu cung cấp cho sinh viên trong quá trình đào tạo. Bài giảng này được thẩm định bởi hội đồng khoa học Khoa và được ban hành như tài liệu lưu hành nội bộ cung cấp tới sinh viên dưới nhiều hình thức. Ngoài truyền tải những kiến thức cơ bản nhất, các tài liệu khác như giáo trình, sách tham khảo, tài liệu hướng dẫn sinh viên học tập cần được chuẩn bị và cung cấp cho sinh viên đầy đủ.  Khẩn trương biên tập lại đề cương môn học và lấy đó làm tài liệu bắt buộc trong hoạt động dạy và học. Tiếp theo cần nghiên cứu rà soát và điều chỉnh lại Chương trình đào tạo hiện có và xây dựng thêm các chương trình mới.

Về cơ sở vật chất và tài chính, thời gian vừa qua cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều thiếu thốn, đã ảnh hưởng tới việc triển khai đào tạo tín chỉ. Tăng cường cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng để thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ thành công. Thời gian tới, tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính để tăng cường nguồn lực tài chính phục vụ cho công tác đào tạo, xây dựng mới và tăng cường trang thiết bị cho các xưởng thực hành, các phòng thí nghiệm. Tiếp tục hoàn thiện và từng bước nâng cấp phần mềm quản lý đào tạo. Bố trí các phòng làm việc bộ môn để giảng viên có điều kiện làm việc và trao đổi hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu.

Để đảm bảo kỷ cương học tập, đối với trò và thầy, công tác thanh tra khảo thí và đảm bảo chất lượng cần được đổi mới và hoàn thiện phương pháp từng bước. Hiện nay, công tác khảo thí chất lượng, phương pháp dạy và phương pháp kiểm tra – đánh giá chưa đáp ứng được yêu cầu của đào tạo tín chỉ. Nếu công tác đánh giá không công bằng sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ tiêu cực trong thi cử. Các vấn đề về hệ thống ngân hàng câu hỏi chưa xây dựng, các đề thi chủ yếu là tự luận với yêu cầu chủ yếu là học thuộc, hình thức đề thi trắc nghiệm hầu như chưa có, các biện pháp đảm bảo chất lượng đào tạo chưa triển khai mạnh mẽ, đồng bộ và cần sớm được khắc phục. Đẩy mạnh hoạt động của phòng thanh tra khảo thí và đảm bảo chất lượng. Cần có quy định chặt chẽ cho việc thanh tra đào tạo kết hợp với thưởng phạt nghiêm minh, thậm chí có đào thải để từng bước nâng cao chất lượng việc dạy và học. Tăng cường đội ngũ cán bộ cho công tác khảo thí theo hướng chuyên trách và giao nhiệm vụ trực tiếp.

Về công tác sinh viên, trong thời gian tới, ngoài việc duy trì hoạt động bình thường của hệ thống lớp khóa học và các yêu cầu của công tác rèn luyện sinh viên, công tác sinh viên phải có những đặc điểm mới. Đổi mới đội ngũ cố vấn học tập theo hướng chuyên nghiệp hóa. Xây dựng đội ngũ cố vấn học tập có thể kiêm nhiệm lên tới 50% để có thể chuyên tâm trong lĩnh vực công tác của mình. Có không gian cơ sở vật chất đồng bộ để phục vụ công tác hiệu chỉnh, tư vấn cho sinh viên. Xây dựng một bộ phận tư vấn chuyên nghiệp toàn bộ các vấn đề chế độ chính sách, chương trình, hạn chế tồn tại và sai sót trong công tác tư vấn sinh viên còn gặp phải thời gian qua. Xây dựng mạng lưới sinh viên, thống kê tình hình việc làm sinh viên của sinh viên sau tốt nghiệp. Tổ chức các khóa học kỹ năng mềm cho sinh viên. Đổi mới cơ cấu tổ chức, chức năng của bộ phận công tác sinh viên để đáp ứng tốt 2 yêu cầu sau: tư vấn – hỗ trợ cho sinh viên và quan hệ doanh nghiệp phục vụ đào tạo. Đổi mới nội dung, phương pháp công tác của ban cán sự lớp khóa học để nâng cao hiệu quả của hoạt động tập thể, góp phần tạo dựng mối quan hệ giữa sinh viên cùng ngành học. Phối hợp với tổ chức Đoàn thanh niên, Hội sinh viên phát triển câu lạc bộ chuyên môn, câu lạc bộ sở thích trong sinh viên. Nghiên cứu đổi mới mô hình hoạt động của Đoàn thanh niên và hội sinh viên cho phù hợp. tăng cường hình thức câu lạc bộ, các hình thức có tính xã hội hóa, tự nguyện gắn kết, tập hợp và giáo dục sinh viên.

Những ưu việt của mô hình tín chỉ với đào tạo kiến trúc sư và xu thế chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ là tất yếu. Tuy nhiên, đây là cả một quá trình lâu dài, liên tục và có tính tuần tự từng bước. Rất cần một lộ trình thực hiện bài bản và chuyên sâu tránh áp dụng một cách máy móc các mô hình đào tạo tín chỉ của nước ngoài, có tính đến các yếu tố đặc thù đào tạo trong nước và chuyên ngành kiến trúc quy hoạch. Cùng với việc tiếp tục hoàn thiện phương thức tổ chức đào tạo hiện thời, cần chuẩn bị cho sự thích ứng với nền giáo dục đại học trong nước và quốc tế vốn luôn biến động và phát triển không ngừng. Chúng ta tin tưởng rằng, với nhận thức của đúng đắn, sự quyết tâm cao của toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên sự nghiệp đào tạo của nhà trường sẽ tiếp tục phát triển lên một tầm cao mới với phương thức đào tạo mới tiên tiến – phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hoàng Phương (thực hiện)

Nguồn ảnh: Phạm Tân
Theo Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 10/2013