Phục sinh – niềm kiêu hãnh của quá khứ

337

Đường Lâm không chỉ nổi danh với di tích làng cổ, mà còn là vùng đất văn hóa xứ Đoài, với lịch sử hào hùng, mảnh đất 2 vua, nơi sản sinh ra nhiều nhân kiệt. Và để sống dậy niềm kiêu hãnh đó, phải tìm ra căn nguyên hình thành nên một Đường Lâm như thế.

Kiêu hãnh Đường Lâm xưa

Đường Lâm xưa thuộc tỉnh Sơn Tây, tỉnh Hà Đông, cách Hà Nội hơn 50 km. Đường Lâm là một trong những ngôi làn hiếm hoi của vùng đồng bằng Bắc Bộ còn tồn tại đến ngày nay với đầy đủ dấu vết văn hóa, lịch sử, kiến trúc. Nằm trong Sơn Tây, trước đây là một thành phố quân sự, vì sao Đường Lâm lại là một địa danh văn hóa? Làng Bát Tràng là nơi sản xuất giao thương rất tốt về ngành hàng gốm sứ, tích tụ kinh tế lớn giúp người dân có điều kiện đầu tư cho các công trình kiến trúc. Hay như làng Cựu với nghề may mặc, làng Cự Đà với dệt vải, bông sợi, làng Ước Lễ với nghề giò chả – đều là những những ngôi làng nổi tiếng nhiều ngôi nhà cổ đẹp bởi được những người con có tài doanh thương, tháo vát tích tụ tiền bạc từ mọi miền đất nước đem về quê xây dựng. Rõ ràng không thể có làng nghèo mà có nhiều nhà đẹp. Và Đường Lâm cũng không phải ngoại lệ. Vì sao Đường Lâm có nhiều nhà cổ. Là vì Đường Lâm có thế hệ của những người đầu thế kỷ đủ tiền để mua gạch tốt, gỗ tốt. Liệu có phải nền kinh tế nông nghiệp, làm tương, làm chum có thể giúp người dân giàu có để xây nên nhà cổ hay không? Có phải làng quê truyền thống Bắc Bộ mỗi người vài sào ruộng, sống trong ốc đảo có thể làm nên Đường Lâm hôm nay không?

Thực tế Sơn Tây bao bọc một vùng đất rộng lớn từ Đan Phượng là vùng tích tụ những đồn điền lớn. Rất có thể, Đường Lâm được cấu trúc như chúng ta nhìn thấy ngày nay là từ những năm 20 – 30 của thế kỷ trước, thời điểm có những cuộc cải cách hương chính rộng rãi khắp Bắc Kỳ. Việc cấu trúc làng xã biến đổi rất nhiều vào lúc đó. Nếu xem lại niên đại của các cổng làng cổng xóm xứ Đoài xưa thì phần lớn được xây dựng vào thời kỳ ấy bởi sự tiếp biến những chi tiết kiến trúc thuộc địa như đắp vẽ, hình thức kết cấu gạch đá, có cả xi măng, những vòm lớn… Nó cũng phải vượt qua những thử thách khốc liệt của những năm chiến tranh thời kỳ 1947-1950 và chắc chắn sẽ bị người Pháp triệt hạ nếu là làng liên quan đến kháng chiến. Để có thể tồn tại như Đường Lâm ngày nay, đó là ngôi làng có sự phát triển khá ổn định về mặt kinh tế chính trị trong suốt một thời gian dài.

Vậy vì sao Đường Lâm nay bị thoái biến nhanh chóng và người dân nguyện trả lại nhà nước cái vinh dự đã được tôn vinh? Cần xem rõ căn nguyên. Thứ nhất, những nguồn gốc sinh thành nên Đường Lâm đã không còn tồn tại nữa: nguồn lực không còn, cấu trúc xã hội không còn, không còn tích tụ về kinh tế, văn hóa, xã hội và chỉ còn lại những hình ảnh xưa cũ may mắn sót lại để chúng ta ngắm nhìn. Tức là yếu tố nội tại không còn mà thay bằng yếu tố ngoại lai, sự ca ngợi từ bên ngoài, sự tò mò của những người ghé thăm chốc lát. Ít ai để ý làm thế nào để người dân Đường Lâm giàu lên, làm thế nào để có một nguồn thu nhập tốt hơn. Ngay cả nguồn thu từ khách du lịch cũng cần tính toán cụ thể xem có mang lại lợi ích gì cho người Đường Lâm? Khi mà lợi ích từ du lịch không có, khi mà duyên cớ sinh thành không còn, thì có nói bao nhiêu cũng chỉ là sự chủ quan của người đứng ngoài. Điều cần nhìn nhận về Đường Lâm đầu tiên không phải là cái nhìn thuần túy về mặt thẩm mỹ kiến trúc, không thuần túy về mặt văn hóa, mà hoàn toàn đơn giản về mặt sinh kế, với yếu tố văn hóa lịch sử trượt bên cạnh, song song, đôi khi còn hướng về hai phía khác nhau: hướng của nhà bảo tồn văn hóa đôi khi, hay hoàn toàn không đồng điệu với nhu cầu sinh kế của người dân.

 

Bản đồ quy hoạch xây dựng bảo tồn phát triển làng cổ Đường Lâm
Bản đồ quy hoạch xây dựng bảo tồn phát triển làng cổ Đường Lâm

Nếu nói đến cấu trúc làng thì cấu trúc làng Đường Lâm là một thiết chế phong kiến, hình thành chính bởi bối cảnh kinh tế – chính trị – xã hội phong kiến. Cấu trúc ấy bị rộn ràng biến đổi trong cải cách ruộng đất, bằng hợp tác hóa nông nghiệp những năm 60. Làng có đình, có chùa, có những thiết chế phong kiến đương nhiên phải có cả địa chủ, phú ông, những thành phần có tiếng nói trong xã hội cũ. Chính trong lúc ấy Đường Lâm được biết đến bởi rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học từ Mỹ thuật Đông Dương, với nhiều sự ca ngợi vang lên từ thập kỷ 1940. Đến nay, tiếp tục sống với  dư âm của lời ngợi ca ấy (với tần suất nhiều hơn, được các phương tiện truyền thông kích hoạt), người làng gắng gượng vượt qua khó khăn với niềm tự hào thực tế là không còn nữa. Vì vậy Đường Lâm bị phá rất nhanh. Sự tàn phá đầu tiên di sản, trớ trêu thay lại khởi sự từ những khoản chi đầu tiên từ ngân sách nhằm bảo vệ di sản, từ thập kỷ 1990. Những khoản đầu tư vội vàng, thiếu nghiên cứu về văn hóa kiến trúc, lịch sử trong trùng tu di tích, bê tông hóa đường đi lối lại, chăng dây lắp cột điện… đang “góp phần” làm hỏng không gian truyền thống.

Đình Mông Phụ, Đường Lâm
Đình Mông Phụ, Đường Lâm

Vị trí của người Đường Lâm thế nào trong ngôi làng của mình? Đường Lâm xưa trong thiết chế phong kiến, do người làng làm chủ. Những gia đình thế lực tập hợp lại bầu ra lý trưởng. Lý trưởng vận hành việc làng. Việc lớn như xây đình, xây chùa… được lý trưởng tập hợp bô lão tiên chỉ trong làng hưng công và sử dụng nguồn lực của địa phương. Trong khi giờ đây, ngay cả việc tu sửa cho ngôi làng cũng hoàn toàn là yếu tố ngoại lai, cần một khoản tiền lớn hoàn toàn từ việc trông chờ đâu đó rót ngân sách. Vị trí của người dân bị xem nhẹ khi thực hiện các công việc của làng. Chưa kể, sự trùng tu, đôi khi thay đổi mới tinh đến ngỡ ngàng, không dính dáng gì tới niềm tự hào xưa cũ của một ngôi làng. Không được tham gia việc làng, không đóng góp công sức cho quá trình tu bổ (thực tế nhiều khi thô bạo), sao người dân có trách nhiệm bảo tồn di sản? Và khi nói họ phải hi sinh cho việc kiếm lợi nào đó, là đòi hỏi vô cùng phi lý, thiếu công bằng, hơi tàn nhẫn.

Những “hạt sạn” ở Đường Lâm

Đường Lâm có cấu trúc làng xóm khá hiện đại, được can thiệp, có tính tiếp biến và học hỏi. Đó là đường tổ chức ngăn nắp theo hình xương cá, bố trí nền nhà cao, sử dụng đường như thoát nước mặt, tổ chức đường làng, ngõ xóm ngăn nắp, chặt chẽ, có phân cấp. Ngay công trình Nhà Hội đồng hương chính vẫn còn đứng ngay chếch cửa Đình Mông Phụ… Tất cả đều khá hoàn chỉnh. Có thể nói, Đường Lâm có dáng dấp ngôi làng canh tân đầu thế kỷ 20 hơn, không thuần túy là ngôi làng thuần nông Bắc Bộ.

Giếng cổ làng Mông Phụ
Giếng cổ làng Mông Phụ

Đường Lâm mỗi ngày lại  xuất hiện thêm  những “hạt sạn”. Những ngôi nhà lá tưởng hợp với khung cảnh, được đặt ngay gần cổng làng là sự can thiệp thô bạo, trông rất gượng ép và làm giảm đi vị trí trang trọng của cổng làng. Cũng tại cổng làng với bến nước, cầu ao, hoa sen lại có hình ảnh tương phản cũ mới đến từ những công trình hành chính của địa phương (như nhà văn hóa, trạm y tế xã). Đường làng đổ bê tông không thể hấp dẫn bằng con đường lát gạch. Những không gian đôi khi tầm thường trên con đường dẫn vào làng có thể xử lý để đẹp hơn với đơn giản là cây xanh… Có thể thấy, ở Đường Lâm, bảo vệ di sản nặng về khẩu hiệu chính sách nhưng không có biện pháp cụ thể. Đơn giản như hệ thống biển hiệu đều không được chú ý (biển hiệu màu sắc sặc sỡ trên vải hoặc kim loại), rất tùy tiện nếu so sánh với những biển hiệu bằng gỗ, chạm khắc công phu ở Hội An. Nếu cho rằng đó là điều tất yếu trong hiện đại cuộc sống thì đó là biểu hiện của sự cẩu thả, sự thiếu linh hoạt của những nhà quản lý kém cỏi nhưng luôn sẵn những lý do đổ tại cơ chế, chính sách hay sự nhận thức hạn chế của người dân.

Câu chuyện Viễn Đông Bác Cổ trong tu sửa Văn Miếu Quốc Tử Giám là bài học rất mẫu mực. Văn Miếu với cấu trúc vườn Pháp rõ ràng nhưng không hề lộ liễu bởi tính đối xứng, sự thân thuộc không hề tách rời công trình. Nếu có sự sắp đặt hợp lý, thì dẫu mang nét phương Tây, vẫn phù hợp với cảnh quan. Kinh nghiệm cho thấy, trong bảo tồn di sản, Viễn Đông Bác Cổ đưa ra những phương thức phù hợp, còn Nhà nước hầu như chỉ can thiệp về mặt chuyên môn mang tính quản lý. Nguồn lực và tổ chức hoàn toàn thuộc về vai trò của cộng đồng, sự vào cuộc của các nhân sĩ, các nhà hảo tâm và được tổ chức tốt, quản lý nguồn lực chặt chẽ. Nay, bảo tồn Đường Lâm theo phong trào, dưới dạng dự án, thiếu đồng bộ, thiếu thiết chế giám sát của xã hội, thiết chế giám sát của các chuyên gia văn hóa. Khi đã rơi vào sự độc quyền quản lý của ngành văn hóa, can thiệp của xã hội và cộng đồng không tới được, sẽ để lại những hậu quả về chất lượng, vật liệu, kiến trúc. Hiếm có công trình nào trùng tu trong vòng 20-30 năm trở lại đây (trừ vài ví dụ lẻ tẻ như Đình Chu Quyến) xứng đáng được ca ngợi. Hầu hết chúng đều có vấn đề. Cần có cách nhìn kỹ lưỡng, được tham khảo rộng rãi bởi một thiết chế giám sát đủ mạnh mới tạo ra sản phẩm tốt. Nếu không, sự manh mún, sự “nhiều người nói huyên thuyên / ít người làm thực sự” và giải pháp chung chung thì muôn đời vẫn thế, càng nhiều tiền đầu tư vào trùng tu di sản thì di sản càng nhanh thoái biến.

Giải pháp nào cho Đường Lâm ?

Trong thời đại công nghiệp hóa, nơi nơi rộn ràng và gấp gáp, khi xe máy và ô tô len lỏi khắp các đình làng, thì việc giữ lại những hình ảnh thơ mộng của ngôi nhà ngói 3 gian 2 chái, mái lợp ngói, có hiên, có giại, trước cau sau chuối, bụi tường vi, ao thả cá, chuồng chim bồ câu là đòi hỏi vô cùng xa xỉ. Trong khi các nhà khoa học còn đang băn khoăn đi tìm lời giải cho bảo tồn Đường Lâm, thì ngôi làng vẫn hằng ngày hằng giờ cũ /mới cọc cạch loay hoay với cuộc sống thường nhật.

Làm thế nào để khai thác một ngôi làng cạn kiệt sắp hết hơi đến nơi khi không chịu ném gì vào nữa mà chỉ nghĩ cách chắt nó ra? Có hai cách giải quyết. Một là bỏ tiền ra mua lại cả làng như nhiều cá nhân đã mua lại nhà cổ ở Hội An. Kinh nghiệm tại Hội An là cá nhân các doanh nhân thành đạt phố Hội thỏa thuận mua lại các ngôi nhà, biến chúng thành các cửa hàng tơ lụa, tạo nên một không gian khai thác du lịch kết hợp. Cách thứ hai đơn giản hơn rất nhiều là lập ra một ngôi làng mới, sau đó di dân làng cũ ra, và làng mới cũng được xây mới với những mô phỏng làng cũ (biết đâu đấy vài chục năm nữa lại có thêm một di sản). Người làng khi nhìn thấy làng mới với bóng dáng di sản sẽ tự nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ di sản để kiếm lợi từ khai thác du lịch. Ngay tại Hội An, so sánh các nhà cổ do tư nhân phục dựng một cách chau chuốt, vật liệu tốt  với những ngôi nhà phục chế vụng về, chất lượng thấp bằng vốn ngân sách, tiền viện trợ đã thấy tính hiệu quả của phương pháp bảo tồn.

Cái cách vốn chẳng làm nên sự thành công thì không thể làm thay đổi sự thất bại. Cho nên, nếu cần đầu tư, không nên dùng ngân sách, vì đó là miếng mồi ngon của tham nhũng, chứ không phải là cứu cánh. Chủ nhân Đường Lâm xưa là những người có thế lực, giàu có. Người Đường Lâm nay không thuộc tầng lớp ấy. Họ là những người đang sống bám lấy đất làng, trông vào cây lúa, nhưng cây lúa và sản xuất nông nghiệp đang bị bỏ rơi, rẻ rúng, tàn lụi bởi diện tích canh tác thu hẹp hay các công trình thủy lợi không phát huy do bị chia cắt. Đó là những duyên cớ để thấy cấu trúc Đường Lâm không còn tồn tại nữa và nếu cố gắng cấy ghép, diễn cảnh một làng cổ có tính cách sân khấu một cách khó khăn thì có một lối thoát khác dễ hơn nhiều là xây dựng một làng di sản ở bên cạnh, giữ lại một không gian ruộng vườn để làm cảnh quan. Quan trọng hơn cả là thay vì đầu tư ngân sách thì  hãy dành việc này cho những sáng kiến cá nhân nếu Đường Lâm thực sự đem lại lợi ích từ khai thác du lịch, bởi các nhà đầu tư tư nhân luôn có vô vàn sáng tạo kiếm tiền và rất có trách nhiệm với đồng vốn gắn liền với ruột gan của họ.

Điều cần nhìn nhận về Đường Lâm đầu tiên không phải là cái nhìn thuần túy về mặt thẩm mỹ kiến trúc, không thuần túy về mặt văn hóa, mà hoàn toàn đơn giản về mặt sinh kế, với yếu tố văn hóa lịch sử trượt bên cạnh, song song, đôi khi còn hướng về hai phía khác nhau: hướng của nhà bảo tồn văn hóa đôi khi, hay hoàn toàn không đồng điệu với nhu cầu sinh kế của người dân.

KTS Trần Huy Ánh

 

Theo Kientrucvietnam