Một số giải pháp góp phần phát triển bền vững các đô thị du lịch biển Việt Nam

903

Thế kỷ 21 là “Thế kỷ của biển và đại dương”. Khai thác vùng biển đã trở thành chiến lược của hầu hết các quốc gia nhằm tìm hiểu và bảo đảm các nhu cầu về nguyên, nhiên vật liệu, thực  phẩm, phát triển du lịch và không gian sinh tồn cho tương lai.Việt Nam là quốc gia bên bờ tây của Biển Đông có vùng biển lớn, bờ biển dài và  rộng.Theo công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, thì Việt Nam có một vùng biển gấp ba diện tích đất liền, khoảng một triệu km2. Vùng biển Việt Nam có một vị trí địa kinh tế chính trị rất quan trọng và giàu tiềm năng phát triển, đặc biệt là ngành du lịch.

Kiến Việt xin giới thiệu tới quý bạn đọc những tham luận sâu sắc được trình bày tại Hội nghị Ban chấp hành và hội thảo Kiến trúc du lịch biển đảo Việt Nam tại Phú Quốc vừa qua.

Việc khai thác biển ngày càng được tăng cường, nhưng còn mang tính tự phát, cát cứ, bộc lộ nhiều nhược điểm và tiềm ẩn những nguy cơ phát triển không bền vững. Nhiều dự án quy hoạch du lịch sinh thái biển đã được lập, nhưng còn thiếu sự kết nối và không có hệ thống theo một chiến lược thống nhất.

Quy hoạch chi tiết khu đô thị du lịch Cái Giá – Đảo Cát Bà – Hải Phòng

Tổ chức lãnh thổ và quy hoạch các đô thị biển, trong đó có những đô thị du lịch biển là một trong những đề tài lớn nhằm thiết lập công cụ điều tiết vĩ mô và biện pháp quan trọng nhất trong chiến lược khai thác và phát triển bền vững, toàn diện vùng biển Việt Nam trong thế kỷ XXI.Tuy nhiên, các cơ sở khoa học của công tác này còn hạn chế và chưa được quan tâm đúng mức.

Vùng biển Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược quan trọngnằm ở rìa bán đảo Đông Dương, có chiều dài bờ biển 3260 km, ôm ba mặt lãnh thổ: Đông, Nam, TâyNam; bình quân 100 km2 đất liền /1km bờ biển (gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới).Trên một số tuyến hàng hải quốc tế chính qua biển Đông, trong đó có tuyến qua eo biển  Malayxia, có tàu bè qua lại nhiều nhất thế giới. Trong tương lai, nếu kênh KRA ở Thái Lan được xây dựng, sẽ thu hút một số thuyền biển lớn qua đây. Vùng biển Việt Nam sẽ trở thành “Cầu nối” quan trọng để phát triển thương mại và giao thương quốc tế. (Dẫn theo Biển và đảo ViệtNam, tr.59)

Hình1 – Phạm vi các vùng biển theo Luật biển quốc tế(1982)

Vùng biển Việt Nam  là “minh đường”, “cửa mở lớn” và là “mặt tiền” của Việt Nam, một số nước trong khu vực. Đất liền Việt Nam hẹp về chiều ngang, nơi xa biển nhất khoảng 500 km. Có nhiều vũng, vịnh thuận lợi cho việc xây dựng các hải cảng: Đã xây dựng hơn 80 cảng biển lớn với năng lực vận tải gần 100 triệu tấn/năm.Có hậu phương lớn: Lào, bán đảo Đông Dương, Thái Lan, Miến Điện và Tây Nam Trung Quốc phục vụ trung chuyển gắn với đường xuyên Á, là nơi cung cấp các nguồn lực cho phát triển Dầu khí: Trữ lượng dự báo 10 tỷ tấn, trong đó trữ lượng khai thác là 2 tỷ tấn. Năm 2002, Việt Nam đúng thứ 3 trong khu vực về khai thác dầu khí (sau Indonesia và Malayxia), với các khu công nghiệp dầu khí-Dung Quất, Cà Mau, Nghi Sơn-Thanh Hóa và Long Sơn-Vũng Tàu.Tài nguyên hải sản phong phú với trữ lượng >4,2 triệu tấn, hàng năm có thể khai thác 1,6 -1,7 triệu tấn cá, 60-70 ngàn tấn tôm, 30-40 ngàn tấn mực.

Về tài nguyên du lịch, vùng biển Việt Nam có tiềm năng vô cùng lớn với hơn 300 bãi biển lớn, trong đó có 25 bãi biển đạt quy mô quốc tế, trong đó đang khai thác trên 30 bãi thu hút 14 triệu khách quốc tế, cảnh quan thiên nhiên đẹp, khí hậu ôn hòa, môi trường văn hóa xã hội đa dạng phong phú. Có nhiều di sản văn hóa lịch sử có giá trị: Vịnh Hạ Long, Nha Trang, tài nguyên khoáng sản đa dạng: Than (Cẩm Phả); sắt (Thạch Khê); Titan (Kỳ Anh); cát (Khánh Hòa, Văn Hải, Ba Đồn, Nam Ô, Hòn Gốm, Thủy Triều); đá vôi xi măng (Hoành Bồ, Kim Sơn, Hoàng Mai, Bố Trạch, Hà Tiên).

Là địa bàn thu hút đầu tư và thúc đẩy hậu phương phát triển:

– Tăng trưởng kinh tế: >10% năm, gấp 1,15 lần cả nước;

– Đóng góp >40% GDP của cả nước; Tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 10 triệu lao động; Phục vụ cho 3 vùng kinh tế trọng điểm, khoảng 755 đô thị, trên 100 khu công nghiệp, khu chế xuất và 15 khu kinh tế.Là “địa bàn chiến lược an ninh, quốc phòng”;28/63 tỉnh, thành phố ven biển;1/2  dân số cả nước sống ven biển; 3000 hòn đảo, trong đó có 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng; Là lá chắn và tiền đồn đối mặt trực tiếp với các mũi xâm lược của địch.

Là không gian sinh tồn lý tưởng của nhiều dân tộc Việt Nam từ lâu đời

Hình 2- Sơ đồ đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam
(Theo Cục Đo đạc và bản đồ Nhà nước vẽ tháng 7 năm 1982)

Thực trạng phát triển  các đô thị du lịch biển Việt Nam

Các đô thị bố trí tại vùng biển của Việt Nam là 129 đô thị trong đó:

– Đô thị cấp quốc gia (thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đà Nẵng): (03);
– Đô thị cấp vùng (Hạ Long, Huế, Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Quy Nhơn):(06) ;
– Đô thị cấp khu vực (Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí, Sầm Sơn, Cửa Lò, Hà Tĩnh, Đồng Hới, Đông Hà, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Cam Ranh, Phan Rí, Hàm Tầm, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Gía, Hà Tiên):(22);
– Đô thị cấp cơ sở (thị trấn): (80);
– Đô thị mới (Vân Đồn, Nhơn Hội, Long Hải, Chu Lại, Vân Phong, Điện Nam- Điện Ngọc, Vạn Tường, Chân Mây, Kỳ Anh, Nghi Sơn, Quảng Yên, Phát Diệm, Vạn Tường): (13);
– Đô thị đảo (Phú Quốc, Côn Đảo, Cát Bà, Trường Sa, Hoàng Sa):(05);

Hình 3- Bản đồ mạng lưới các đô thị Việt Nam 

Nhận xét

1. Phân bổ và phát triển các đô thị biển khá đồng đều dọc theo 3260 km bờ biển.

2. Địa điểm xây dựng: Tại vùng cửa sông ven biển, vịnh, nơi có điều kiện xây dựng hải cảng, phát triển du lịch, khai thác tài nguyên biển và quĩ đất dồi dào.

3. Chức năng:

– Đô thị du lịch biển: 16- (12%)

– Đô thị có chức năng tổng hợp, trong đó có tính chất du lịch biển: 115- (87%)

– Đô thị di sản quốc gia, quốc tế: 03 (2%)

4. Phần lớn các đô thị du lịch biển đã được lập quy hoạch và được quản lý xây dựng, phát triển theo qui hoạch được duyệt.

5. Tại vùng biển khơi, các đô thị du lịch chưa phát triển. 

Những vấn đề còn tồn tại và một số giải pháp góp phần phát triển bền vững đô thị du lịch biển Việt Nam

Sự phát triển bền vững các đô thị du lịch biển Việt Nam còn nhiều vấn đề tồn tại.

1.Các nhóm tiêu chí đánh giá của WB

– Chất lượng cuộc sống;

– Sự lành mạnh về tài chính;

– Khả năng cạnh tranh;

4- Năng lực quản lý đô thị.

2.Các vấn đề còn tồn tại

– Chưa có một nhận thức đầy đủ và một khái niệm rõ ràng về đô thị du lịch cũng như các điều kiện để công nhận đô thị du lịch: Điều 31,32,33. Mục 2_Luật Du lịch năm 2005; Điều 11_Nghị định số 92/2007/NĐ_CP ngày 01tháng 06 năm 2007 của Chính phủ. Nghị định số 42/2009/NP-CP ngày 07 tháng 05năm 2009 về phân loại đô thị của Chính phủ.

– Thiếu một chiến lược thống nhất về tổ chức lãnh thổ và phát triển hệ thống đô thị du lịch biển

– Không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lọai qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, qui hoạch phát triển du lịch, qui hoạch sử dụng đất đai, qui hoạch môi trường với qui hoạch đô thị.

– Sự chỉ đạo nhất quán của Chính phủ, cán bộ ngành và chính quyền của 28 tỉnh, thành phố trực thuộc TW có biển.

– Cơ sở khoa học để xây dựng mô hình và các giải pháp cấu trúc đô thị sinh thái du lịch biển Việt Nam.

– Thiếu những định hướng phát triển, và quản lý kiến trúc- cảnh quan, môi trường, khai thác tài nguyên biển dẫn đến diện mạo kiến trúc thiếu bản sắc, sự phát triển không gian tùy tiện mất trật tự về xây dựng và sử dụng đất dọc theo 3260 km ven biển và biển.

-Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu: Nước biển dâng, ngập úng; Nhiệt độ tăng; Thiên tai;

Hình 4a – Kịch bản ngập úng do  biến đổi khí hậu ĐBSCL/Nguồn: Bộ tài nguyên môi trường

Hình 4b- Chuẩn sai NĐTB năm

Một số giải pháp chủ yếu phát triển bền vững các đô thị du lịch biển Việt Nam

Đề xuất 1: Xây dựng các tiêu chí và các điều kiện công nhận đô thị du lịch.

Có thể dựa vào Luật du lịch năm 2005 và các văn bản pháp luật về du lịch và đô thị;Kinh nghiệm quốc tế dùng làm căn cứ đề xuất. Từ đó, đặt ra các điều kiện cơ bản đề một đô thị được gọi là đô thị du lịch:

–   Có tài nguyên du lịch hấp dẫn trong ranh giới đô thị hoặc khu vực liền kề;

–   Ngành du lịch có vị trí quan trọng trong việc tạo lập cơ sở kinh tế, trong đó tỷ lệ thu nhập từ du lịch trên tổng số thu nhập của các ngành dịch vụ;

–   Tỉ lệ lao động làm việc trong ngành dịch vụ du lịch lớn;

–   Tỉ lệ khách du lịch trên qui mô dân số tối thiểu là 40%

–   Có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ phục vụ nhu cầu khách du lịch;

–   Có các sản phẩm du lịch phong phú phục vụ cho nhu cầu đa dạng của khách du lịch.

(Tham luận trình bày tại Hội thảo Kiến trúc du lịch biển Việt Nam do Hội kiến trúc sư Việt Nam tổ chức tại Phú Quốc ngày 16/11/2012)

Đề  xuất 2: Tổ chức lãnh thổ và sắp xếp lại mạng lưới đô thị du lịch biển cả nước.

Dựa vào hệ thống các vùng kinh tế-xã hội;Qui hoạch phát triển du lịch;Định hướng qui hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam làm căn cứ đề xuất

+ Từ đó đề xuất hình thành  bốn vùng du lịch biển:

– Vùng Bắc Bộ: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình;

– Vùng Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế;

– Vùng Nam Trung Bộ: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Trung Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận;

– Vùng Nam Bộ: Barịa-Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang;

+ Quy hoạch sử dụng đất hợp lý các vùng du lịch biển, gồm 04 khu vực sau:

– Khu vực tiền phương gồm: Biển và thềm lục địa;

– Khu vực ven biển khoảng 1000m-1500m, gồm: bờ biển, cửa sông dành để bố trí cảng, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, bãi tắm và vùng bảo vệ thiên nhiên;

– Khu vực xây dựng đô thị khoảng 3-5 km: dùng để bố trí các khu chức năng đô thị như: (các khu du lịch, nghỉ dưỡng, các khu nhà nghỉ cuối tuần, các khu trung tâm dịch vụ, các khu trung tâm chuyên nghành, các khu dân cư);

– Khu vực hậu phương bao gồm: Vùng trung chuyển giữa đô thị du lịch biển với hậu phương và hậu phương cảng, nơi dành để bố trí các đô thị vệ tinh, giao thông đối ngoại và vùng bảo vệ thiên nhiên – cân bằng sinh thái, các tour, trung tâm và đô thị du lịch đồng bằng, miền núi.

+   Sắp xếp lại mạng lưới đô thị du lịch biển theo 4 vùng du lịch biển, trong đó:

– Vùng Bắc Bộ:Thành phố Hạ Long; thành phố Hải Phòng là hạt nhân;

– Vùng Bắc Trung Bộ: Thành phố Huế, Đồng Hới, Vinh- Cửa Lò và Thanh Hóa-Sầm Sơn là hạt nhân;

– Vùng Nam Trung Bộ: Thành phố Đà Nẵng, Nha Trang, Qui Nhơn, Phan Thiết là hạt nhân;

– Vùng Nam Bộ: Thành phố Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cà Mau và Rạch Giá- Phú Quốc là hạt nhân;

Hình 6- Các Vùng du lịch Việt Nam – Các tuyến điểm chủ yếu

3. Đề xuất 3. Mô hình cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển Việt Nam

–   Dùng các chủ trương của Chính phủ: Phát triển bền vững trên nền tảng đô thị sinh thái và Kiến trúc xanh;Cấu trúc địa mạo và phong thổ các vùng ven biển và biển;Cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển phát triển tự nhiên trên cơ sở tổng kết 16 đô thị du lịch biển Việt Nam;

–   Xu thế qui hoạch đô thị du lịch biển hiện đại.

+ Khái niệm du lịch sinh thái?

°     Dựa vào thiên nhiên;  các hệ sinh thái tự nhiên có  đa dạng sinh học cao ( Natural-based tourism)- (N)

°     Gắn với bản sắc văn hóa địa phương –(C)

°     Có sự tham gia của cộng đồng- (P)

Hình 8- Ba trụ cột của du lịch sinh thái

+ Các dự án qui hoạch phát triển du lịch sinh thái biển hấp dẫn hàng đầu thế giới từ năm 1970 đến nay

Đảo Phú Kẹt (Thái Lan)

Đảo Madivo,Bali(Indonesia)

Hình 9- Hình ảnh các khu du lịch sinh thái biển 

Các nguyên tắc qui hoạch đô thị du lịch sinh thái biển hiện đại  

Hạn chế:

          Kiểm soát chặt chẽ;

          Bảo tồn và nuôi dưỡng.

Các giải pháp qui hoạch theo kinh nghiệm thế giới

          Phân vùng cảnh quan môi trường: Vùng bảo vệ tuyệt đối từ 100-500 m;

          Khống chế phát triển bằng hai nhóm chỉ số: Sức chứa và thị trường thông qua các chỉ tiêu xây dựng các công trình phục vụ du lịch;

          Hạn chế chiều cao xây dựng, tăng diện tích cây xanh(40-60m2/người) và dành ít nhất 1/3 không gian cho bảo tồn;

          Phát triển và đa dạng hóa các loại hình du lịch sinh thái biển: Thể thao, nghỉ dưỡng, tắm biển, thăm quan, nghiên cứu;

          Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động du lịch và phát triển các sản phẩm du lịch;

          Tăng cường vai trò của các Hiệp Hội du lịch. 

Các nguyên tắc hoàn thiện mô hình cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển Việt Nam

+ Đô thị du lịch sinh thái biển là một hệ sinh thái gồm 2 phân hệ: Tự nhiên và Xã hội, được gắn kết với môi trường xung quanh tạo thành một thể thống nhất;

+ Đô thị du lịch là một hệ thống lãnh thổ du lịch gồm hai bộ phận chủ yếu cấu thành là: Môi trường với các điều kiện phát sinh nhu cầu du lịch (I) và hệ thống lãnh thổ du lịch(II);

1-Giao thông; 2- Khách du lịch; 3-Dân cư địa phương;4- Tài nguyên du lịch; 5- Hạ tầng cơ sở kỹ thuật và xã hội

Hình 10 –  Hệ thống lãnh thổ du lịch (M.Buchovarop, 1975) 

–   Các nguyên tắc hình thành cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển trong các điều kiện của ViệtNam:

+ Hạt nhân hoặc hệ thống lãnh thổ, du lịch là vùng ưu tiên phát triển các bộ phận cấu thành du lịch gồm: Các khu du lịch, các khu dân cư, tài nguyên du lịch, dịch vụ công cộng, hạ tầng kỹ thuật, không gian bảo tồn.

+ Vành đai xanh;

+ Vùng dự trữ phát triển và cân bằng sinh thái;

+ Môi trường xung quanh với các điều kiện phát sinh du lịch và nuôi dưỡng đô thị du lịch.

+ Kết cấu hạ tầng giao thông diện rộng gắn kết với môi trường và thị trường du lịch

–      Kiến nghị  sơ đồ nguyên tắc hình thành cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển Việt Nam (hình11)

Đề xuất 4- Phát triển Kiến trúc đô thị du lịch biển có bản sắc riêng

  1. Căn cứ đề xuất

–      Thực trạng Kiến trúc đô thị du lịch biển;

–      Định hướng phát triển kiến trúc ViệtNam;

–      Lý luận và thực tiễn thiết kế đô thị.

  1. Nội dung đề xuất

–      Kiến nghị 1: Hình thành diện mạo kiến trúc tổng thể đô thị du lịch biển đặc trưng

–   Kiến nghị 2: Tạo lập hình ảnh Kiến trúc đô thị du lịch biển: Dễ đọc, dễ tưởng tượng , dễ nhận dạng với cấu trúc riêng;

+ Các yếu tố cấu thành cần được sắp xếp theo trật tự:

+ Các điểm nhấn(mốc không gian)

+ Các trọng điểm(trung tâm thu hút các hoạt động công cộng)

+ Các lưu tuyến(đường bộ, sông ngòi…)

+ Các quần thể kiến trúc đồng nhất:  Các khu chức năng: Nhà ở, công trình công cộng, công nghiệp, resort, công viên .v.v..

–   Các ranh, ngưỡng: Đường phân định giới hạn giữa các vùng và  khu chức năng hoặc  không gian trung chuyển;

–   Các mối quan hệ tương hỗ: Tỷ lệ xích và các  mối quan hệ tương hỗ giữa các

  Đề xuất 5:  Đối với đảo Phú Quốc

  1. Chiến lược phát triển Đảo là Ngành du lịch;
  2. Du lịch sinh thái là nền tảng xây dựng và phát triển bền vững Đảo;
  3. Không nên tập trung quá nhiều dân cư thường trú và tăng tỉ lệ đất phi nông nghiệp. Lưu ý đảm bảo 6 điều kiện để xây dựng Đảo thành đô thị du lịch sinh thái
  4. Nghiên cứu vận dụng các kinh nghiệm và mô hình qui hoạch đô thị sinh thái biển nổi tiếng thế giới để xây dựng đảo Phú Quốc trở thành một “ Đô thị du  lịch quốc tế tự do” nổi tiếng;
  5. Nghiên cứu một đề án riêng về phát triển kiến trúc và cảnh quan cho đảo Phú Quốc.

Tài liệu tham khảo: 

1. Luật Du lịch năm 2005- NXB chính trị quốc gia Hà Nội -Năm 2010;
2.Trần Trọng Hạnh. Quy hoạch phát triển bền vững các đô thị vùng ven biển Việt Nam (Báo cáo khoa học tại Đại học NaHon-TokyoNhật Bản năm 2006)
3.Trần Trọng Hạnh. Đô thị Việt Nam thế kỷ XXI-(Báo cáo tại Diễn đàn Arcasia thành phố Đà Nẵng ngày 17-20/2011);
4. Bùi Thị Hải Yến. Qui hoạch Du lịch -NXB giáo dục Việt Nam-Năm 2011
5.Nguyễn Viết Thịnh- Đỗ thị Minh Đức- Địa lý kinh tế- xã hội Việt Nam-Năm 2011;
6.Vũ Tự Lập – Địa lý tự nhiên Việt Nam – Tập 2 -NXB giáo dục Hà Nội –Năm 1978.

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995-2010, tr 96. Tổng cục du lịch 1994)

PGS.TS.KTS. Trần Trọng Hanh

Tham luận tại Hội nghị Ban chấp hành và hội thảo Kiến trúc du lịch biển đảo Việt Nam tại Phú Quốc