Cập nhật thông tin & đào tạo thiết kế bệnh viện

360

Các nguồn thông tin về thiết kế bệnh viện được cung cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng như Vụ Kiến trúc Quy hoạch, Viện Kiến trúc Quy hoạch Đô thị – Nông thôn (Bộ Xây dựng) và chuyên ngành y tế như Viện trang thiết bị và công trình y tế (Bộ y tế), các Hội nghề nghiệp, các trường đại học và viện nghiên cứu, các tổ chức tư vấn thiết kế, các tổ chức cung cấp thiết bị và đầu tư xây dựng công trình y tế trong và ngoài nước.

Hiện nay, ở Việt Nam có 106 bệnh viện đa khoa cấp tỉnh trở lên, dự báo đến năm 2030 tăng lên 145 bệnh viện, với chi phí đầu tư xây dựng lớn (trung bình 2.500 tỷ đồng/bệnh viện). Chỉ tính riêng TP Hà Nội, quy hoạch đến năm 2030, chi phí cho xây dựng bệnh viện lên tới gần 44.000 tỷ đồng, với quy mô từ 500 đến 1000 giường; Trong 10 năm đầu của thế kỷ 21, bằng các nguồn vốn khác nhau, nhiều bệnh viện đa khoa đã và đang được xây dựng ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh như Phú Thọ, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đã Nẵng, Lâm Đồng, Sóc Trang, An Giang, Long An, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Cần Thơ… Ngoài ra còn có các bệnh viện lớn của ngành công an, quân đội và các bệnh viện chuyên khoa, chuyên ngành khác.

Đặc biệt, với chủ trương xã hội hóa ngành y tế, hàng loạt bệnh viện quốc tế được đầu tư hoàn chỉnh, với chất lượng cao như bệnh viện Việt – Pháp (Hà Nội), bệnh viện Pháp – Việt (TP HCM), bệnh viện Việt – Mỹ, Vinmec, An Sinh (Hà Nội), bệnh viện Đa khoa quốc tế Phúc Lâm (Hải Dương), bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng, bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc (TP HCM), bệnh viện đa khoa quốc tế Miền Đông (Bình Dương)… và nhiều bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tư nhân quy mô 100 – 300 giường khác trong cả nước góp phần to lớn trong việc giảm tải các bệnh viện công, nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh cho nhân dân.

Tuy nhiên về số lượng vẫn thiếu, về chất lượng chưa đồng đều, các bệnh viện hiện còn nhiều tồn tại về tổ chức không gian, triển khai công nghệ điều trị tiên tiến, đảm bảo môi trường… từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám chữa bệnh.

Trước nhu cầu phát triển về số lượng và chất lượng các bệnh viện, đòi hỏi phải có những chính sách, định hướng phù hợp, trong đó có vấn đề cập nhật thông tin và đào tạo thiết kế bệnh viện.

CUNG CẤP VÀ TIẾP NHẬN THÔNG TIN

Các nguồn thông tin về thiết kế bệnh viện được cung cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng như Vụ Kiến trúc Quy hoạch, Viện Kiến trúc Quy hoạch Đô thị – Nông thôn (Bộ Xây dựng) và chuyên ngành y tế như Viện trang thiết bị và công trình y tế (Bộ y tế), các Hội nghề nghiệp, các trường đại học và viện nghiên cứu, các tổ chức tư vấn thiết kế, các tổ chức cung cấp thiết bị và đầu tư xây dựng công trình y tế trong và ngoài nước. Việc cập nhật thông tin bao gồm cung cấp thông tin và tiếp nhận thông tin. Ở một số trường hợp, hoạt động này vừa là cung cấp thông tin, vừa là cơ hội để tiếp nhận thông tin. Trong thời đại bùng nổ thông tin, có rất nhiều phương tiện, hình thức và nội dung thông tin. Cho nên việc lựa chọn cách thức để cập nhật thông tin có hiệu quả là điều khó khăn nhưng rất cần thiết. Hơn 10 năm qua, các tổ chức trên đã có nhiều đóng góp cho việc thông tin và cập nhật thông tin về thiết kế bệnh viện, ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm; xuất bản các ấn phẩm, giới thiệu các công trình, sản phẩm. Tuy nhiên sự phối hợp giữa các đơn vị với nhau, về số lượng cũng như chất lượng thông tin và kết quả đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc phát triển về số lượng và chất lượng thiết kế các bệnh viện.

Bệnh viện Bãi Cháy, Tp Hạ Long, Quảng Ninh

Trên nguyên tắc, tất cả các cá nhân và tổ chức có liên quan đến thiết kế bệnh viện đều phải được tiếp cận thông tin về thiết kế bệnh viện. Nhưng do mức độ chuyên sâu và nhu cầu của từng đối tượng khác nhau nên phần lớn chỉ tìm hiểu thông tin khi cần thiết. Tuy nhiên đối với các chuyên gia đi sâu về thiết kế bệnh viện (kể cả trong tư vấn thiết kế cũng như trong đào tạo) và những tổ chức chuyên thiết kế hoặc thiết kế nhiều về bệnh viện, các cơ quan quản lý nhà nước về thiết kế xây dựng bệnh viện cần phải được thường xuyên cập nhật thông tin bằng những hình thức và nội dung chuyên nghiệp như việc xây dựng, ban hành và sửa đổi tiêu chuẩn quy phạm; giới thiệu và phê bình công trình kiến trúc bệnh viện trong và ngoài nước; giới thiệu các đơn vị tư vấn có nhiều kinh nghiệm và thành tựu trong thiết kế bệnh viện; các công nghệ y học hiện đại và trang thiết bị y tế tiên tiến và mối quan hệ với tổ chức không gian kiến trúc trong thiết kế bệnh viện; những đổi mới và áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý công trình bệnh viện; những kỹ thuật và công nghệ, vật liệu xây dựng mới liên quan đến thiết kế bệnh viện; mở rộng và nâng cao chất lượng các ấn phẩm, sách, tạp chí chuyên ngành về bệnh viện; tổ chức và tham gia các Hội nghị, Hội thảo, Triển lãm để cập nhật thông tin về thiết kế bệnh viện (như Hội thảo về thiết kế bệnh viện ở Mỹ tại TP Hồ Chí Minh tháng 6/2012), Hội chợ trang thiết bị y tế châu Á (Medical fair Asia) tổ chức thường niên tại các nước trong khu vực, triển lãm thiết kế về thiết kế bệnh viện khu vực Trung Đông (6/2012)… nhằm mục đích hình thành đội ngũ chuyên gia và tổ chức tư vấn chuyên nghiệp về thiết kế bệnh viện như đã có ở một vài đơn vị tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Thiết lập một mạng lưới cung cấp và cập nhật thông tin thường xuyên thông qua các tổ chức như câu lạc bộ, hiệp hội, cơ quan phát hành, tổ chức tiếp thị, hội nghị, hội thảo…

Một yêu cầu quan trọng của việc cập nhật thông tin trong thiết kế bệnh viện hiện đại là cung cấp, trao đổi và tạo lập các thông tin để giúp cho việc thiết kế bệnh viện đảm bảo các tiêu chí mới nhất về “bệnh viện thân thiện với môi trường”, “bệnh viện khách sạn”, “bệnh viện xanh”“hướng tới sự bền vững”. Đây là những khái niệm mới trong kiến trúc nói chung, đặc biệt là trong thiết kế bệnh viện như các bệnh viện chất lượng cao, bệnh viện quốc tế đang triển khai thực hiện, bước đầu có hiệu quả và uy tín. Ngoài ra sự phát triển của công nghệ thông tin và trang thiết bị y tế hiện đại giúp việc tổ chức không gian, dây chuyền hoạt động và kể cả quản lý bệnh viện từ các khâu nhỏ nhất đến toàn bộ hệ thống trở thành một bệnh viện thông minh (Smart hospital). Điều đó làm cho bệnh viện không những đảm bảo tiện nghi mà còn tăng được hiệu quả, chất lượng phục vụ đến từng cá nhân trong cộng đồng.

Cuối cùng là việc cập nhật thông tin trong thiết kế bệnh viện còn phải đảm bảo sự phù hợp với điều kiện khí hậu tự nhiện, kinh tế xã hội, trong đó có thói quen tập quán và văn hóa cộng đồng của người Việt Nam.

ĐÀO TẠO ” KTS CỦA BỆNH VIỆN “

Việc đào tạo chuyên gia chuyên ngành bao gồm đào tạo, đào tạo lại và đào tạo nâng cao. Hiện nay ở Việt Nam có trên 20 cơ sở đào tạo kiến trúc sư, hàng năm có hàng nghìn kiến trúc sư ra trường. Ngoài phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, các kiến trúc sư ra trường phải có đầy đủ những kiến thức cơ bản, nắm vững phương pháp luận thiết kế kiến trúc, có tư duy sáng tạo và kỹ năng nghề nghiệp; có kiến thức ban đầu về thực tiễn và khả năng làm việc tập thể; có thể áp dụng thành thạo tin học trong chuyên môn và có trình độ ngoại ngữ thích hợp để giao tiếp và tham khảo tài liệu; có khả năng học tập lên cao để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ. Để đạt được mục tiêu đó trong điều kiện hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay đòi hỏi cả nhà trường, xã hội, gia đình và bản thân sinh viên phải có những cố gắng đổi mới và hội nhập để có thể đáp ứng nhu cầu sự nghiệp thiết kế kiến trúc nói chung. Đối với kiến trúc sư thiết kế bệnh viện nói riêng do tính đặc thù của chuyên ngành cần phải có thời gian tham gia thiết kế chuyên sâu về bệnh viện, tham khảo tài liệu, tham quan trong và ngoài nước, học tập nâng cao. Đặc biệt, cần có sự giúp đỡ của các chuyên gia có kinh nghiệm trong các tổ chức tư vấn chuyên sâu và có uy tín, kết hợp với điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư (kể cả việc quy định những tiêu chuẩn riêng của chuyên ngành) để việc đào tạo, bồi dưỡng và công nhận đội ngũ KTS chuyên ngành thiết kế bệnh viện đảm bảo chất lượng.

Về nội dung đào tạo, hiện nay quỹ thời gian trong đào tạo KTS không thể đưa hết nguyên lý thiết kế các loại công trình và các loại đồ án vào chương trình. Cho nên ngoài các nội dung thiết kế bệnh viện, có thể lồng ghép vào nguyên lý thiết kế kiến trúc và các đồ án quy mô nhỏ như trạm xá, phòng khám đa khoa (policlinic). Cần có những chuyên đề, các môn học tự chọn, tham quan các công trình bệnh viện có chất lượng, thực hành tại các xưởng thiết kế bệnh viện (đối với các sinh viên có nguyện vọng) đến các đồ án tốt nghiệp chuyên ngành (bệnh viện quy mô vừa và nhỏ). Cả lý thuyết và đồ án cần được cập nhật những kiến thức về thiết kế tiếp cận, kiến trúc thân thiện với môi trường, kiến trúc xanh, kiến trúc bền vững và các khái niệm về bệnh viện thông minh. Mô hình đào tạo kiến trúc sư ở Việt Nam hiện đang khác mô hình đào tạo của nhiều nước tiên tiến trên thế giới, ở đó thời gian đào tạo dài hơn nhưng tập trung nhiều cho việc đào tạo chuyên sâu, gắn liền với thực tập nghề nghiệp (nhiều nước chia thành hai giai đoạn cử nhân kiến trúc và kiến trúc sư với một năm thực tập nghề nghiệp giữa hai giai đoạn) và điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề KTS khắt khe hơn. Trong phương pháp giảng dạy và học tập, cần phát huy vai trò chủ động của sinh viên, tăng cường quỹ thời gian tự học và tự làm đồ án, tạo điều kiện về tài liệu tham khảo và các phương tiện như xưởng mô hình, phòng thí nghiệm chuyên ngành…

Về đào tạo nâng cao, có ít cơ sở đào tạo trình độ sau đại học và số ít KTS chuyên ngành bệnh viện tham gia. Hiện nay, số lượng tiến sỹ và nghiên cứu sinh chuyên ngành thiết kế bệnh viện trong cả nước chỉ có vài người và mới chỉ có một số ít thạc sỹ, học viên cao học theo chuyên ngành này cả trong và ngoài nước. Vì vậy việc đào tạo lại, đào tạo chuyên sâu và đào tạo nâng cao cho các KTS chuyên ngành thiết kế bệnh viện cần có kế hoạch để nâng cao về số lượng và có nội dung, chương trình phù hợp với đặc thù của chuyên ngành và yêu cầu về chất lượng đào tạo. Trong đào tạo sau đại học, các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ cần có ý nghĩa thực tiễn cao và có hàm lượng thông tin lớn, cập nhật. Ví dụ đề tài luận văn Thạc sỹ “Tổ chức không gian kiến trúc bệnh viện u bướu phù hợp với thiết bị, công nghệ điều trị mới” hay đề tài luận án Tiến sỹ “Mô hình bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh phù hợp với sự phát triển của trang thiết bị , công nghệ y học hiện đại” của học viên cao học và nghiên cứu sinh trường đại học Kiến trúc Hà Nội là những đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

PGS.TS.KTS Nguyễn Khắc Sinh
Nguồn ảnh: Phạm Tân
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam