Suy nghĩ về Quy hoạch & Xây dựng nông thôn vương quốc anh

330

Những vùng nông thôn có tiềm năng du lịch luôn là một lợi thế cho phát triển. Nhưng phát triển không đồng nghĩa với hiện đại hóa nóng vội. Đó là những đường lối khôn ngoan mà người Anh áp dụng không chỉ cho đất nước của chính họ mà còn là gợi ý về một mô hình phát triển bền vững hiện nay.

Kiến trúc nước ta hiện nay có nhiều nghịch cảnh rất dễ nhận biết.

Nghịch cảnh thứ Nhất là cảnh những người nông dân nghèo kéo ra thành thị để kiếm sống. Khi trở nên khấm khá, họ thường đem tiền về quê xây dựng những ngôi nhà hình ống như ở ngoài phố thị.

Nghịch cảnh thứ Hai, đáng lo ngại hơn nghịch cảnh thứ Nhất, bởi việc đô thị hóa bột phát, khi mà những người nông dân chất phác bán ruộng đất của mình để đổi lấy những món tiền “kếch sù” do một số chủ đầu tư từ thành phố đổ tiền mua đất “làm dự án”. Ban đầu họ không tránh khỏi sự ngỡ ngàng trước số tiền quá lớn đến một cách bất ngờ, để rồi chập choạng tự xây cho mình một ngôi nhà hình ống theo mẫu ở trên phố.

Nghịch cảnh thứ Ba là người nông dân bán đi ngôi nhà gỗ cổ truyền của cha ông để lại cho các đại gia trên phố. Tiền có được, anh em chia nhau mỗi người “lên” một ngôi nhà hình ống. Còn trong các khu đô thị mới, các đại gia tân thời cho dựng lại những ngôi nhà gỗ mua từ thôn quê trên các ô đất dự án như một thứ của để giành.

Chỉ với ba nghịch cảnh nêu trên thôi cũng đủ hình dung về “bộ mặt” của kiến trúc làng quê Việt Nam trong tương lai. Cứ đà này, chẳng còn lâu nữa, chúng ta có thể mất trắng đi những làng quê của mình. Giả sử đến lúc đó, có nhiều người sẽ giàu có hơn bây giờ và bỗng dưng nảy ra cái ý sống như “phú ông sành điệu” như một số đại gia có ăn, có học, thì việc khắc phục những hời hợt, non nớt của ngày hôm nay là không đơn giản và tiền của để làm được việc đó lại càng không nhỏ. Bởi vì, một kiến trúc nông thôn đẹp phải thật sự hòa nhịp với vẻ đẹp nhuần nhị, thuần phác của cả thôn làng Việt Nam, chứ không thể cộc lốc chỉ là một nóc nhà.

Những suy nghĩ này đưa chúng tôi trở lại những miền nông thôn hiện thời ở Vương quốc Anh xa xôi, vốn được coi là cái nôi của cách mạng công nghiệp của nhân loại, để tìm những bài học cấp thiết thông qua một sự so sánh.

Cuộc cách mạng công nghiệp khởi đầu từ nước Anh năm 1784 đã đưa đất nước này lên vị thế hàng đầu những quốc gia phát triển. Thế nhưng, đến nước Anh ngày nay, hình ảnh của những nhà máy có ống khói cao ngút trời như đã lìa xa vào dĩ vãng. Thay vào đó là hình ảnh một đất nước trong lành và ngăn nắp. Trong lành là vì sự sạch sẽ của môi trường sống từ trong nhà cho đến mọi nẻo đường đất nước. Ngăn nắp là vì mọi thứ đều như được sắp đặt vào đúng vị trí của nó, đều được chăm sóc tỉ mỉ bởi ý thức của con người về việc giữ gìn cho hôm nay và những thế hệ tương lai một môi trường sống không những hoàn hảo, thẩm mỹ mà còn đậm đà ký ức về bản sắc dân tộc, về quá khứ và lịch sử đất nước.

Xin gửi tới bạn đọc Việt Nam những ấn tượng sâu đậm nhất mà chúng tôi từng ghi nhận được qua quan sát thực tế ở những miền nông thôn của nước Anh hôm nay.

1. Ở châu Âu nói chung, ở Vương quốc Anh nói riêng, phương tiện giao thông công cộng nổi bật nhất cho các vùng nông thôn là xe bus (ở thành phố, thị trấn); coach (xe điện – tương tự như xe tốc hành hay xe đò ở Việt Nam); và cuối cùng là tàu lửa (train). Xe hơi cá nhân là loại phương tiện phổ biến mà mỗi gia đình đều có. Từ thực tế này, các nhà ga trung chuyển và các cấp đường bộ được kết nối thành một hệ thống liên hoàn, chặt chẽ. Có nghĩa là mỗi nhà ga xe lửa đều kết nối khăng khít với những phương tiện giao thông khác và ngược lại. Kết quả là việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng trở nên hết sức thuận tiện và đương nhiên được mọi tầng lớp dân chúng ủng hộ.

Bên cạnh đó, hệ thống đường bộ cũng được kết nối đến từng ngôi nhà để mọi người có thể lái xe đến các tuyến giao thông chính của địa phương và quốc gia.

Điểm rất đặc sắc là mỗi một trạm dừng của coach thường chỉ được đánh dấu bằng một biển báo, còn tất cả các nhà, trạm, ban bệ quản lý cồng kềnh, tốn kém… như hình dung thông thường của chúng ta đều không hiện hữu. Chi phí đầu tư cũng vì vậy mà giảm đáng kể.

Phải nói rằng chính hệ thống giao thông hoàn chỉnh, hợp lý và rất tiết kiệm này đã đưa thành thị về tới thôn quê và ngược lại. Sự tiết kiệm ở một nước nghèo thì dễ hiểu hơn ở một nước giàu. Hay nói khác đi, cái gì cần thiết thì sẽ được đầu tư và đầu tư tối đa; cái gì không thực chất thì chính quyền và các doanh nghiệp nước Anh không chi một xu.

Trong quá trình đô thị hóa nông thôn, mạng lưới giao thông vi mô (cấp độ thôn, làng, cụm nhà ở…) là quan trọng nhất. Vì vậy, không thể tùy tiện xóa bỏ những lối đi bé nhỏ, ngoằn ngoèo, vốn là một nét đặc sắc của không gian làng quê xưa, để thay bằng những con đường trải nhựa thẳng tắp như trong phố thị. Những con đường quanh co với những cây cổ thụ, những khóm đá có tự ngàn đời phải được tuyệt đối giữ gìn. Vì đó chính là những hình dạng, đường nét, hình khối chỉ có ở những địa điểm rất xác định, không hề lặp lại ở những địa điểm khác. Cho nên, để thực hiện tốt việc này, mỗi một thôn làng cần phải có một nhạc trưởng để hướng dẫn việc làm đường sá, cầu cống sao cho có thể giữ được nét đặc trưng cho thôn làng của mình. “Nhạc trưởng” này chính là luật lệ rõ ràng và ý thức thượng tôn pháp luật của người dân.

Chất lượng của mạng lưới đường xá trong mỗi thôn làng có thể được nâng cấp bằng những vật liệu mới, thậm chí được tráng nhựa, nhưng hình dạng và đặc điểm riêng của nó thì không được thay đổi. Mạng lưới thông tin liên lạc sẽ được cung cấp đồng bộ với việc nâng cấp của mạng lưới đường sá.

Bên trên vừa nói tới mạng lưới hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn nước Anh, nhưng thực chất là cũng là nói tới điều kiện tiên quyết để giữ gìn cảnh quan nơi thôn dã. Dọc những con đường làng ngoằn ngoèo, bé nhỏ là những ngôi nhà xinh xắn bên trong bờ tường thấp phủ rêu xanh cổ kính. Để có được hình dung tốt nhất về một làng quê thì những vật liệu xây dựng mới và việc xây dựng những hình thức kiến trúc xa lạ cần hết sức hạn chế. Từ những người thường dân cho đến giới trí thức ở châu Âu và ở nước Anh đều rất có ý thức tôn thờ vẻ đẹp do thời gian đem lại. Trong góc nhìn này, hai vấn đề tưởng như trái ngược lại bên nhau êm đềm tồn tại, đó là: sự cũ kỹ, lâu đời và sự sạch sẽ, vệ sinh. Một công trình kiến trúc, một cảnh quan làng quê tuy cổ xưa nhưng sạch sẽ, ngăn nắp, tinh khiết thường đem lại cảm giác về sự thanh cao.

Bên trong mỗi ngôi nhà, hầu hết đồ dùng bằng gỗ có tuổi thọ vài trăm năm vẫn luôn được ưa dùng và được đánh giá cao hơn hẳn so với đồ đạc tân thời làm bằng kim loại hay bằng nhựa. Mọi người đều rất thích thú, tự hào về những món đồ “cũ kỹ, thô kệch” đó. Nó là thứ không thể thiếu được ở một quán bar trong nhà hay trên vỉa hè.

2. Ra khỏi một thành phố lớn của nước Anh, chúng ta lập tức bắt gặp những cánh đồng cỏ xanh mướt, bất tận và một khung cảnh nông thôn cổ xưa như trong truyện cổ tích. Có thể nói, cách thức quy hoạch cho những không gian này như cố tình gìm lại dòng chảy của thời gian để lưu lại cho con người hiện đại những khung cảnh của ba, bốn trăm năm về trước. Ngoài một hệ thống giao thông tuyệt vời, hoàn chỉnh, len lỏi đến từng nóc nhà cổ kính, gần như không thể thấy được bóng dáng của công cuộc công nghiệp hóa và đô thị hóa được khởi đầu từ cách đây đã hơn 200 năm. Tuy nhiên, các tiện ích dịch vụ công cộng luôn được phân bố đầy đủ để đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng ngày của mọi tầng lớp dân chúng. Đó là các trạm bưu điện, cửa hàng tạp hóa nhỏ và vừa, các siêu thị mini của hệ thống bách hóa Tesco mà giá cả thống nhất trên toàn quốc.

Đáng chú ý nhất là tuy những thôn dân sống ở xa thành phố nhưng không hề có cảm giác bị “lạc hậu” so với thành thị. Vì phương tiện giao thông hàng ngày của họ là ô tô cá nhân, xe bus, xe lửa… Nơi đâu cũng có internet, cable truyền hình, điện thoại; các cuộc mua sắm lớn đều thực hiện ở siêu thị, và phương thức thanh toán thông dụng đều thông qua thẻ tín dụng. Người sống ở thôn quê cũng đã từ lâu quen với việc sử dụng các máy ATM hiện diện khắp nơi, họ không giữ tiền mặt ở nhà mà gửi trong ngân hàng. Ở khắp mọi nơi trên nước Anh, ngân hàng, siêu thị, công sở, trường học… mới là các kiến trúc phổ biến chứ không phải nhà máy nhả khói lên trời.

Đề cập đến những vấn đề trên, chúng tôi muốn mô tả cái lối sống hiện đại ở nông thôn nước Anh hiện nay về thực chất không còn khoảng cách biệt “đáng lo ngại” giữa nông thôn và thành thị. Phải chăng việc xóa bỏ sự cách biệt này cũng chính là mục tiêu mà đất nước ta đang phấn đấu. Chúng tôi cho rằng chính nhờ việc rút ngắn khoảng cách này sẽ giúp cho làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị sẽ thuyên giảm theo nguyên tắc “ly nông bất ly hương” – một khẩu hiệu rất có ý nghĩa trong việc hoạch định chính sách kinh tế quốc gia và quy hoạch không gian.

3. Đến thăm các làng quê của nước Anh ngày nay, người ta khó lòng nhìn thấy một kiến trúc hiện đại với vật liệu bê tông cốt thép và nhôm, kính. Đâu đâu cũng là những mái nhà lợp ngói hoặc rơm rạ phủ dày (cottage), cửa sổ nhỏ với những mảng tường dày bằng gạch hoặc sa thạch (sandstone) được gọt đẽo bằng tay từ vài trăm năm trước.

Với một lối sống ở trình độ “đô thị hóa” cao như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng từ bao giờ và tại sao chính phủ Vương quốc Anh nói riêng và các quốc gia châu Âu nói chung lại vạch ra một chính sách hợp lý như thế cho cả đô thị và nông thôn của họ.

Nếu không có một chính sách rõ ràng và kịp thời giữ gìn từng ngôi nhà cổ từ cách đây cả mấy trăm năm, thì việc xây dựng mới theo phương thức “đô thị hóa bột phát” tràn lan chắc chắn sẽ là một cơn lũ quét sạch dấu tích của thời gian, của lịch sử và cao hơn nữa là của ký ức. Một khi các ngôi nhà cổ và khung cảnh hồn nhiên của những chốn thôn dã kia đã bị “phân lô hóa”, đường xá bị “bàn cờ hóa”… thì nếu có muốn hồi phục, phục dựng rõ ràng là sẽ tốn kém vô kể để ngắm nhìn, để cảm nhận cái chất “thôn dã giả tạo” và nhiều lắm thì cũng chỉ để phục dịch cho cái dịch vụ “du lịch rẻ tiền” mà thôi.

Một vấn đề then chốt là chính sách đó rất được quần chúng ủng hộ và chấp hành triệt để. Đây là một vấn đề mang tính hai mặt: người dân rất có ý thức tự giác chấp hành và chính quyền có một hệ thống luật lệ chặt chẽ, hợp tình, hợp lý. Nhìn lại tình hình quản lý trật tự quy hoạch – xây dựng ở nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây, chúng ta càng thấy rõ khoảng cách này với những quốc gia tiên tiến.

Có thể chắc chắn rằng một địa danh nổi tiếng chính là nhờ vào việc ở đấy đang tồn tại một di tích cổ (ancient monument). Khách hành hương, du lịch thường tìm đến những địa danh đó để thưởng lãm và sự thành công trong khai thác các di tích đó không thể bỏ qua vai trò chủ đạo của hệ thống chính quyền và các cơ quan chức năng (bảo tồn, du lịch, văn hóa, lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật…). Vì nếu các cơ quan chức năng này không tham gia một vào việc hình thành các biện pháp khai thác các khu di tích đó một cách hữu hiệu thì dân chúng không thể tự động đảm trách được. Trong lĩnh vực này, Chính phủ Anh đã rất có “tinh thần trách nhiệm” đối với di sản văn hóa của đất nước họ.

Cách làm này có 2 mặt: Bảo tồn được di tích bằng chính tiền do nó tạo ra; nhưng con người luôn là chủ nhân của mọi quá trình khai thác và thu lợi được từ chính di tích.

Họ đã rất có ý thức trong việc giữ gìn một môi trường sống thôn dã như những gì nó từng có từ 400 – 500 năm về trước. Môi trường đó ngày nay tuy đã được hiện đại hóa tối đa (điện, nước, truyền hình cable, điện thoại, internet tốc độ cao, hệ thống các dịch vụ tiêu dùng, các siêu thị mini, trạm xe bus công cộng…) nhưng sắc thái thôn dã, cái vỏ xưa cũ của vật liệu truyền thống trên từng ngôi nhà, con đường làng quanh co, uốn lượn vẫn như đưa ta trực tiếp trở về với quá khứ. Nói tóm lại, nông thôn không bị cuốn trôi theo tiến trình ĐTH, mà là một hình ảnh hoàn hảo, hoàn thiện hơn của truyền thống. Cách làm này cho ta thấy dường như trong quá khứ, cha anh của họ đã xây dựng nên những môi trường sống thôn quê cùng với tất cả các sản phẩm của nền văn minh đương đại, chỉ trừ có việc bê tông cốt thép hóa kiến trúc.

TS.KTS LÊ THANH SƠN

Nguồn ảnh: Tác giả, Internet
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam số 7/2010