Định hướng quy hoạch phát triển hệ thống y tế Hà Nội

462

Thủ đô Hà Nội đã và đang là một trung tâm y tế quan trọng và lớn nhất của đất nước, nơi có số lượng lớn bệnh viện nhiều cấp, có đội ngũ cán bộ, chuyên gia y dược có trình độ và tay nghề cao với các cơ sở và phương tiện chữa bệnh hiện đại. Tuy nhiên, hệ thống này đang bộc lộ sự mất cân bằng về khả năng đáp ứng dịch vụ do vấn đề gia tăng dân số và nhu cầu về chất lượng chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân. Yêu cầu đặt ra là cần rà soát và quy hoạch lại hệ thống y tế Thủ đô đồng bộ, phù hợp với thực tế hiện tại cũng như nhu cầu phát triển trong tương lai. 

Hà Nội và hiện trạng công trình Y tế

Hệ thống y tế trên địa bàn Hà Nội dày đặc nhất trong cả nước, với nhiều loại hình khác nhau, đan xen với 32 cơ sở y tế do Bộ Y tế quản lý, trong đó có 16 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa có tổng diện tích 51,93 ha với 6.680 giường bệnh. Chiếm trên 60% số giường bệnh trên địa bàn Hà Nội, 16 viện nghiên cứu và thực nghiệm y dược, trong đó có 8 cơ sở nghiên cứu có thực nghiệm điều trị với 1.030 giường bệnh. Hà Nội hiện cũng có 18 bệnh viện và dự án bệnh viện khu vực tư nhân với tổng diện tích 62,9 ha, tổng số 5.970 giường bệnh. 665 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, trong đó có 522 phòng chẩn trị đông y và 106 cơ sở gia truyền. Tổng diện tích đất các cơ sở y tế trực thuộc Trung ương đang quản lý khoảng 74,02 ha, bình quân 2,52 ha/1 cơ sở điều trị… Tổng diện tích đất các cơ sở y tế thuộc TP.Hà Nội khoảng 68,91 ha, bình quân 1,77 ha/1bệnh viện; đa số các bệnh viện tại các huyện có quy mô diện tích khoảng 1,5 ha – 3,0 ha. Như vậy hệ thống các bệnh viện thuộc Hà Nội phần lớn có quy mô diện tích nhỏ và rất nhỏ, chiếm 86,1% (31/36 bệnh viện). Ngoài ra trên địa bàn Hà Nội  còn có 6 trường Đại học, Cao đẳng Y, Dược.

Về kiến trúc và quy hoạch, nhiều bệnh viện không được chú ý thiết kế hợp lý theo dây chuyền hoạt động thống nhất và đồng bộ theo một tầm nhìn phát triển dài hạn. Các bệnh viện phần lớn được thiết kế, quy hoạch để đáp ứng nhu cầu phục vụ khám và chữa bệnh trong giai đoạn ngắn hạn. Trong các giai đoạn tiếp theo, phần lớn được mở rộng, xây dựng một cách chắp vá, lộn xộn, thậm chí là tạm bợ.

Quá trình cải tạo các bệnh viện hiện nay cũng đã bộc lộ một số vấn đề phức tạp. Thiết kế kiến trúc và quy hoạch trong giai đoạn cải tạo và mở rộng đều được mô hình hoá và phân chia 4 khối chức năng cơ bản: Khối khám bệnh; Khối kỹ thuật nghiệp vụ; Khối điều trị nội trú; Khối hậu cần, hành chính. Một số bệnh viện đã quy hoạch thêm khu hạ tầng kỹ thuật, phân khu chức năng hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sử dụng và dây chuyền phục vụ của từng bệnh viện.

Rất nhiều bệnh viện lệ thuộc nhiều vào những công trình hiện trạng đã xuống cấp. Việc cải tạo chúng dù chi phí cao nhưng đôi khi làm sai lệch dây chuyền phục vụ. Với bệnh viện có mặt bằng nhỏ, để tăng quy mô giường bệnh, giải pháp là tăng chiều cao công trình. Việc này nhiều khi chưa phù hợp với dây chuyền bệnh viện. Đồng thời việc bố trí sân, vườn, cây xanh, đường nội bộ, bãi đỗ xe, sân tập ngoài trời cho bệnh nhân đều không đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu. Mặt khác, nhiều quan điểm mới trong xây dựng bệnh viện hiện đại như kết hợp chữa bệnh và điều dưỡng, đưa bệnh viện trở thành một tổ hợp dịch vụ công cộng… chưa có điều kiện thực hiện.

Bệnh viện Thanh Nhàn – Hà Nội

Về giao thông: Các bệnh viện tuyến 3 và tuyến 2 tại Hà Nội phần lớn nằm trong khu vực các quận nội thành, các bệnh viện được tiếp cận với mạng giao thông đô thị rất thuận lợi, tuy nhiên xe cấp cứu từ các tỉnh ngoài đến thường không thông suốt do hiện tượng tắc nghẽn giao thông đô thị.

Về cấp nước, cấp điện: Các bệnh viện cần được cấp nước đầy đủ và đảm bảo về chất lượng. Phần lớn các bệnh viện được cấp nước từ mạng lưới cấp nước thành phố chiếm 68%. Còn lại, một số bệnh viện sử dụng kết hợp nước ngầm tự xử lý.

Về xử lý chất thải y tế: Theo số liệu của Sở Y tế Hà Nội 2/2009 có 11 bệnh viện đa khoa cấp thành phố có trạm xử lý nước thải cục bộ. Còn lại các bệnh viện đa khoa khác nước thải được xử lý bằng Cloramin B. Tại cấp Trung ương có 13 cơ sở y tế có trạm xử lý nước thải cục bộ. Nhiều bệnh viện, cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa có trạm xử lý nước thải, dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường (nước thải y tế trở nên bức xúc, gây nguy hại cho người bởi những vi trùng, động vật nguyên sinh gây bệnh, virut…).

Cùng với đó có tới 90% số bệnh viện  xử lý chất thải rắn y tế ngoài khu vực bệnh viện. Một số bệnh viện có lò đốt rác thải y tế. Ước tính tổng khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh là 30,9 tấn/ngày. Trong đó lượng chất thải rắn y tế nguy hại là: 7,18 tấn/ngày, chiếm 23% tổng lượng chất thải rắn phát sinh.

Định hướng quy hoạch phát triển hệ thống y tế Hà Nội

Mục tiêu cơ bản quy hoạch mạng lưới bệnh viện công lập thuộc thành phố Hà Nội: Xây dựng và phát triển hệ thống các bệnh viện công lập ở Hà Nội hoàn chỉnh và đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở đủ sức đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân Thủ đô. Hệ thống bệnh viện công lập đủ khả năng hỗ trợ những tỉnh lân cận và cả nước trong việc phát triển và ứng dụng kỹ thuật cao trong y tế. Quy hoạch phát triển hệ thống bệnh viện công lập Hà Nội trở thành Trung tâm y tế có uy tín trong khu vực Đông Nam Á. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ở tất cả các bệnh viện công lập của Hà Nội, có khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu y tế khẩn cấp trong các tình huống xảy ra thiên tai, thảm họa, thương vong, ngộ độc hàng loạt trên địa bàn thủ đô và khu vực lân cận, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phối hợp hoặc chi viện y tế đột xuất phục vụ an ninh, quốc phòng. Tập trung quy hoạch di chuyển các bệnh viện điều trị bệnh truyền nhiễm khỏi khu vực nội thành, nơi đông đúc dân cư đến khu vực thích hợp. Giãn mật độ bệnh viện chuyên sâu tuyến Thành phố (tuyến 2) và Trung ương (tuyến 3) trong nội thành Hà Nội. Xây dựng mạng lưới bệnh viện đa khoa (tuyến 1) đạt tiêu chuẩn hạng III tại các khu/cụm dân cư quận, huyện và đô thị vệ tinh. Các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa Thành phố (tuyến 2) đạt tiêu chuẩn hạng II trở lên. Các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa Trung ương (tuyến 3) đạt tiêu chuẩn hạng I hoặc hạng đặc biệt. Sắp xếp, bổ sung, điều chỉnh các khoa trong bệnh viện. Đầu tư nâng hạng một số bệnh viện cấp Thành phố; nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh; nâng cao chuyên môn kỹ thuật; đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị; đa dạng hoá các loại hình hoạt động trong bệnh viện.

Mục tiêu quy hoạch mạng lưới khám chữa bệnh ngoài công lập là thực hiện tốt công tác xã hội hoá đầu tư phát triển hệ thống khám, chữa bệnh tại Thủ đô Hà Nội. Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020 – 2030 đạt tỷ lệ 20 – 30% giường bệnh ngoài công lập. Công tác quy hoạch chủ yếu phát triển và mở rộng mạng lưới các bệnh viện tư nhân trên địa bàn cả về số lượng bệnh viện, số giường bệnh. Đặc biệt, phát triển loại hình bệnh viện 100% vốn nước ngoài để tăng đầu tư vào lĩnh vực kỹ thuật hiện đại. Ưu tiên phát triển bệnh viện tư nhân, các khoa, các phòng bán công trong bệnh viện công lập, các phòng khám đa khoa tư nhân ở ngoại thành và các dịch vụ y tế tư nhân sử dụng công nghệ y học cao, hiệu quả khám chữa bệnh lớn, ít gây ô nhiễm môi trường.

Các tiêu chí tập trung phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch định hướng phát triển không gian Vùng và Thủ đô Hà Nội như: Có vị trí địa hình cảnh quan thích hợp; Có khả năng mở rộng cho tương lai; Không cản trở phát triển đô thị trung tâm; Có khả năng kết nối giao thông thuận lợi với đô thị; Có khả năng sử dụng chung các tiện ích của đô thị; Phát triển các cơ sở y tế gắn với giữ gìn và bảo vệ môi trường bền vững.

Tiêu chí di dời, chuyển đổi chức năng và xây dựng cơ sở mới tại địa điểm phù hợp đối với các bệnh viện: Điều trị các bệnh truyền nhiễm, nằm trong khu vực mật độ dân cư quá dày đặc; Có tính chất độc hại, mức độ lây nhiễm cao, lượng chất thải y tế lớn không có khả năng xử lý. Bệnh viện đa khoa có khoa lây không đủ điều kiện cách ly theo quy định. Các cơ sở cũ được chuyển đổi thành các cơ sở nghiên cứu hoặc dịch vụ khám chữa bệnh chủ yếu phục vụ dân cư đô thị trung tâm.

Tiêu chí xây dựng cơ sở 2: Nằm trong khu hạn chế phát triển, có mức độ gây quá tải về hạ tầng cao; Quy mô quá nhỏ, không có điều kiện mở rộng và cải tạo để đáp ứng chỉ tiêu và quy mô giường bệnh; Cơ sở có tính chất tạm bợ, không ổn định, không có điều kiện phát triển. Có nhu cầu phát triển lớn cần quỹ đất lớn xây dựng tại khu vực phát triển mới của thành phố, cơ sở hiện tại chưa đầu tư xây dựng lớn. Các cơ sở cũ được nâng cấp, cải tạo, chuyển đổi thành các cơ sở nghiên cứu hoặc dịch vụ khám chữa bệnh chủ yếu phục vụ dân cư đô thị trung tâm.

Tiêu chí quy hoạch các bệnh viện tuyến TW: Không xây dựng mới trong Đô thị trung tâm; Cách trung tâm thành phố trong bán kính từ 25 – 30 km2; Xây dựng tại các khu vực đầu mối giao thông và hành lang kinh tế cấp vùng và quốc gia nhằm thuận lợi cho các hoạt động mang tầm quốc gia và quốc tế; Có không gian cảnh quan thoáng rộng, đảm bảo quỹ đất xây dựng, có khả năng liên kết với các cơ sở y tế lân cận có thể tận dụng trang thiết bị, cơ sở hạ tầng cũng như hỗ trợ trong trường hợp cần thiết; Kết nối thuận lợi với Đô thị trung tâm, gần đường các quốc lộ chính để đảm bảo phục vụ cho nhân dân Thành phố cũng như các tỉnh thành lân cận khám bệnh và điều trị.

Tiêu chí quy hoạch các bệnh viện tuyến Thành phố: Xây dựng gắn kết theo phân bố không gian các bệnh viện tuyến TW và tuyến quận/ huyện/ thị xã nhằm thuận lợi chuyển giao kỹ thuật giữa các tuyến và đảm bảo phục vụ thuận lợi cho nhân dân thành phố.

Tiêu chí quy hoạch các bệnh viện tuyến quận, huyện, thị xã: Mở rộng tại vị trí cũ và nâng cấp cơ sở vật chất; Xây dựng thêm cơ sở mới để phù hợp với thực tế phát triển. Gần khu trung tâm của quận, huyện, thị xã, đảm bảo bán kính phục vụ cho dân cư trên địa bàn; Thuận tiện liên hệ với trục đường liên huyện hoặc trục đường chính liên tỉnh đảm bảo thuận tiện cho người dân trong huyện đến khám và chữa bệnh. Xây dựng mạng lưới bệnh viện đa khoa khu vực (tuyến 1) đạt tiêu chuẩn hạng III tại các khu cụm dân cư quận huyện và đô thị vệ tinh căn cứ theo quy mô dân số từng khu vực, trên cơ sở đánh giá các cơ sở y tế hiện có, xác định quỹ đất, số giường bệnh, bổ sung các cơ sở xây dựng mới đảm bảo chỉ tiêu về y tế. Xây dựng các trung tâm y tế khu vực, tổ chức phân bố đều theo các khu vực, tạo được bán kính phục vụ phù hợp cho các khu dân cư.
    

Bản đồ QHCT không gian mạng lưới các công trình y tế TP Hà Nội

Định hướng quy hoạch không gian và sử dụng đất hệ thống cơ sở khám chữa bệnh hướng đến chia sẻ với các tỉnh lân cận về nhu cầu tăng giường bệnh phục vụ cấp vùng để giảm tải cho Hà Nội thông qua việc xây dựng các bệnh viện đa khoa cấp vùng và các trung tâm y tế chất lượng cao quy mô vùng tại một số địa phương phía Bắc. Xây dựng 5 tổ hợp công trình y tế đa chức năng, chất lượng cao, tầm cỡ quốc tế.

Quy hoạch thoát nước thải đạt chỉ tiêu phát thải cơ sở y tế trong khu vực đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh: 500 lít/giường/ngày, chỉ tiêu phát thải cơ sở y tế khu vực thị trấn và vùng nông thôn: 250 lít/giường/ngày. Dự báo tổng lượng nước thải tại các cơ sở y tế năm 2020 khoảng 6.195 m3/ngày.đêm, năm 2030 là 9.950 m3/ngày.đêm, trong đó khu vực đô thị trung tâm khoảng 5.770 m3/ngày.đêm, khu vực các đô thị vệ tinh khoảng 2205 m3/ngày.đêm và tại các bệnh viện khu vực ngoại thành khoảng 1.975 m3/ngày.đêm.

Quy hoạch mạng lưới y tế dự phòng: Hướng tới phát triển phủ kín mạng lưới y tế dự phòng trên toàn địa bàn Thủ đô. Giảm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng. Phát hiện sớm, khống chế kịp thời dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra; giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh, tật. Góp phần nâng cao thể chất, tinh thần, tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện chất lượng giống nòi.

Quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo bao gồm 6 cơ sở đào tạo đại học đóng trên địa bàn Hà Nội. Tính đến năm 2020 khả năng đào tạo cao đẳng và trung cấp là 22.700 trung cấp và  8.500 cao đẳng. Với khả năng đào tạo như vậy có thể cung cấp đủ nhân viên cho thành phố Hà Nội. Ngoài ra, cần xây dựng một số các cơ sở đào tạo chuyên sâu tại các cụm/ tổ hợp công trình y tế tại Sóc Sơn, Hòa Lạc và Phú Xuyên.

Định hướng quy hoạch không gian và sử dụng đất hệ thống cơ sở sản xuất, cung ứng thuốc chữa bệnh và trang thiết bị y tế: Hệ thống cơ sở sản xuất thuốc chữa bệnh và trang thiết bị y tế được quy hoạch trên cơ sở gắn với quy hoạch không gian hệ thống các khu, cụm công nghiệp và các tổ hợp công trình y tế đa chức năng trên địa bàn Hà Nội. Các cụm công nghiệp dược và trang thiết bị y tế được xây dựng với cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, gắn kết trong tổng thể khu công nghiệp hoặc các tổ hợp công trình y tế nhằm thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài và tiếp nhận các xí nghiệp nhỏ lẻ hiện đan xen trong các khu dân cư.

Quy hoạch phát triển hệ thống y tế Thủ đô đã thể hiện tầm nhìn và quyết tâm của Hà Nội. Xây dựng hệ thống cơ sở y tế phát triển hài hòa với các ngành khác trong tổng thể phát triển không gian của Thủ đô Hà Nội, trở thành trung tâm y tế cỡ khu vực và quốc tế, từng bước hiện đại hóa, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân thành phố và các tỉnh lân cận. Rất cần có những bước đi khoa học tiếp theo để văn bản có thể đi vào thực tế cuộc sống một cách nhanh nhất, khắc phục được những khó khăn trước mắt, hướng đến sự phát triển lâu dài và bền vững, đáp ứng sự mong đợi của toàn xã hội.

KTS. TRẦN GIA LƯỢNG – Viện Kiến trúc Quy hoạch Đô thị Nông thôn – BXD

Nguồn ảnh: Tác giả
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam số 7/2012