Vai trò GIS trong bảo tồn khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh

227

Huế được biết đến là vùng đất của di sản và danh thắng. Bên cạnh các tài nguyên du lịch tự nhiên như núi Bạch Mã, biển Lăng Cô… tài nguyên du lịch nhân văn của Huế cũng là nguồn thu hút được rất nhiều du khách. Các di sản văn hóa Huế vừa hội tụ những đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc, vừa thể hiện những đặc tính sâu đậm của một vùng văn hóa truyền thống. Vì vậy, để khai thác nguồn tài nguyên du lịch có hiệu quả thì việc trùng tu và bảo tồn đóng vai trò quan trọng.

GIS là một trong những công cụ có vai trò – thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn phân tích và tích hợp các thông tin thuộc tính (thông tin mô tả) gắn kết với thông tin không gian (thông tin bản đồ Xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý (GEO-database) phục vụ quản lý và bảo tồn. Khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh ở tỉnh Thừa Thiên Huế làm minh chứng với mong muốn đem lại hiệu quả cao trong công tác khai thác và quản lý di tích ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

Vai trò của GIS trong việc bảo tồn văn hóa

Hòa nhập vào xu thế phát triển của đất nước và thế giới, với tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng, ngành du lịch Thừa Thiên Huế đã có những bước biến đổi nhất định và ngày càng có nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế – văn hóa – xã hội. Các di sản văn hóa Huế vừa hội tụ những đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc, vừa thể hiện những đặc tính sâu đậm của một vùng văn hóa truyền thống, xứng đáng được coi là “một trong những cao điểm của sức sáng tạo Việt Nam”. Đặc biệt, quần thể di tích Cố đô Huế bao gồm Kinh Thành, những lăng tẩm của các vua quan nhà Nguyễn ở ngoại vi thành phố, hàng chục ngôi chùa nổi tiếng và những khu nhà vườn đã tạo những nét riêng không nơi nào có được. Vì vậy, khai thác du lịch được đánh giá là một thế mạnh trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh nhưng cần phải có giải pháp quản lý, trùng tu và bảo tồn hiệu quả.

Hệ thống thông tin địa lý (GIS – Geographical Information System) đã được nghiên cứu và phát triển từ những năm 60 của thế kỷ trước. Kể từ đó cho đến nay, GIS đã liên tục phát triển và trở thành một công cụ thiết yếu được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Di tích Văn Thánh – Huế
Nhà bia di tích Văn Thánh – Huế

Với mong muốn đem lại hiệu quả cao trong công tác khai thác và quản lý di tích ở tỉnh Thừa Thiên Huế, cụ thể là bảo tồn khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh, GIS đã minh chứng một cách rõ nét vai trò của mình.

Khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh thuộc quần thể di tích Cố đô Huế đã được UNESCO đưa vào danh mục di sản văn hóa của thế giới từ năm 1993. Tọa lạc dọc bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn Long Hồ Hạ, thôn Thọ Khương và thôn An Bình, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà. Khu di tích được bắt đầu từ Khải Thánh Từ đến Võ Thánh đã bị hư hại nặng nề bởi chiến tranh, sự tàn phá của thiên tai và sự tác động của con người.

Cơ sở lý luận phục vụ cơ sở dữ liệu địa lý

Cơ sở dữ liệu địa lý là một tập hợp các lớp thông tin dữ liệu địa lý, được sử dụng trong GIS, được lưu trữ và quản lý dưới dạng tệp (file) trong một thư mục hoặc trong một cơ sở dữ liệu quan hệ. Cơ sở dữ liệu địa lý là chuẩn định dạng chính dùng để thao tác và quản lý thông tin địa lý trong GIS (phần mềm ArcGIS). Thành phần cơ bản của một gói cơ sở dữ liệu địa lý bao gồm: Feature class: lưu trữ các loại đối tượng địa lý thể hiện không gian là điểm, đường, vùng và ghi chú (annotation). Table: lưu trữ các loại dữ liệu phi không gian dưới dạng bảng thông tin. Raster: lưu trữ dữ liệu ảnh.

Ngoài ra, đối với một cơ sở dữ liệu địa lý, vai trò của cơ sở toán học phải được đặt lên hàng đầu. Cơ sở toán học cần phải được xác định chính xác nhằm khẳng định tính thống nhất của các hợp phần dữ liệu đồng thời nói lên được vai trò của GIS trong quản lý tổng hợp dữ liệu.

Được biết cơ sở dữ liệu địa lý của khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh được xây dựng theo chuẩn cơ sở toán học quốc gia – VN2000. Đây là sự kết hợp giữa nguồn cơ sở dữ liệu bản đồ nền có sẵn (thừa kế của các công trình khoa học trước đây), kết quả khảo sát thực địa và kết quả phân tích các tư liệu viễn thám của đề tài. Khuôn dạng dữ liệu địa lý của hệ thống được chuẩn hóa theo định dạng chuẩn về cơ sở dữ liệu chạy trên nền của hệ phần mềm ArcGIS 9.3.1 theo chuẩn cơ sở dữ liệu cá nhân (Geo personal database).

Để phục vụ cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý trong quản lý và bảo tồn di tích Văn Thánh – Võ Thánh, thì nguồn dữ liệu cơ sở được sử dụng: Cơ sở dữ liệu địa hình số tỷ lệ 1:2000 (thừa kế dự án GIS Huế). Bản đồ địa hình tỷ lệ 1 : 50 000, nhà xuất bản bản đồ năm 2002. (Tư liệu giảng dạy khoa Địa lý – Địa chất, trường Đại học Khoa học Huế). Cơ sở dữ liệu bản đồ thông tin cơ sở. Dữ liệu ảnh máy bay năm 1978. Dữ liệu ảnh vệ tinh QuickBird năm 2002, Dữ liệu khảo sát và đo vẽ bản đồ địa hình tỷ lệ 1 : 500 khu vực nghiên cứu (thực hiện bởi kinh phí của chương trình hợp tác Nghị định thư Việt nam – Italia). Dữ liệu khảo sát hiện trạng bằng hệ thống định vị toàn cầu (thực hiện bởi kinh phí của chương trình hợp tác Nghị định thư Việt nam – Italia). Thông tin mô tả các đối tượng thuộc khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh.

Kết quả nghiên cứu

Trên cơ sở của hệ thống dữ liệu thu thập được và kết hợp với việc ứng dụng công nghệ GIS, tiến hành thiết kế và xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý GIS cho khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh phục vụ quản lý, trung tu và bảo tồn.
Qua quá trình phân tích và nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của GIS, đã xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý phục vụ quản lý và bảo tồn khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh. Thông tin không gian được tích hợp trong cơ sở dữ liệu địa lý.

Sơ đồ cấu trúc cơ sở dữ liệu địa lý khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh
Dữ liệu phân vùng ngập lụ được tích hợp trong cơ sở dữ liệu địa lý

Kết luận

Quá trình nghiên cứu về việc lồng ghép công nghệ GIS vào quản lý và bảo tồn khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh đã đưa ra những kết luận sau:

1. Sản phẩm sẽ là một hệ thống thông tin địa lý chuyên đề cho khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh, được xây dựng trên một hệ cơ sở dữ liệu thống nhất giữa thông tin bản đồ và thông tin thuộc tính. Việc tạo ra một hệ thông tin thống nhất sẽ có tác dụng rất lớn trong công tác quản lý, quy hoạch và bảo tồn di tích, cung cấp cho các nhà quản lý, quy hoạch một công cụ mới để nghiên cứu, phân tích thế giới thực một cách có hệ thống phục vụ cho mục đích bảo tồn nguồn tài nguyên di tích hiện có, trợ giúp quyết định và hoạch định chính sách của các cấp lãnh đạo.

2. Điểm đặc biệt của hệ cơ sở dữ liệu địa lý này: Ngoài các cơ sở dữ liệu bản đồ số và cơ sở dữ liệu thuộc tính trong hệ thống thông tin địa lý về khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh, hệ thống cho phép cập nhập, bổ sung và mở rộng cơ sở dữ liệu cho những điểm di tích khác trong tỉnh Thừa Thiên Huế.

3. Ứng dụng GIS trong công tác quản lý và bảo tồn khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh với những chức năng cơ bản nhất sẽ là công cụ hữu dụng đối với các nhà quản lý trong quá trình phân tích hiện trạng di tích để đề xuất phương án bảo tồn có tính tổng hợp cao.

4. Dựa vào hệ cơ sở dữ liệu địa lý GIS về khu di tích Văn Thánh – Võ Thánh, dựa trên các công cụ của công nghệ GIS, cho phép người sử dụng phân tích, đánh giá và chiết xuất ra được các sản phẩm cụ thể trên nền số liệu tổng hợp cả về tự nhiên lẫn kinh tế xã hội, lịch sử, kiến trúc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Văn Đức (2001), Hệ thống thông tin địa lí, NXB khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 2001.
2. Phan Thanh Hải (2000), Những thành tích bước đầu của công tác nghiên cứu khoa học trong sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Huế.
3. Jonhston K. et al, (2001) Using ArcGIS Geostatistical analyst – GIS by ESRI, ESRI, USA
4. Nguyễn Khang (2004), Ứng dụng công nghệ thông tin để hình thành hệ thống thông tin hiện đại phục vụ phát triển nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2004.
5. Nguyễn Văn Tận và nnk (2011). Báo cáo chuyên đề dự án “Nghiên cứu xây dựng cứ liệu khoa học phục vụ trùng tu, phục hồi và tôn tạo cụm di tích Văn Thánh – Võ Thánh (thành phố Huế) trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin” thuộc “Chương trình hợp tác Nghị định thư giữa Việt Nam – Italia”. 

Nguyễn Quang Tuấn

Nguồn ảnh: Tác giả, Internet
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam số 6/2012