Thiết kế bền vững & phòng chống lây nhiễm

353

Thiết kế kiến trúc bền vững hiện là xu hướng tất yếu và là yêu cầu quan trọng. Một công trình bệnh viện đa khoa có tồn tại được lâu dài không ngoài ảnh hưởng của chi phí xây dựng, chi phí vận hành (chủ đầu tư phải chịu) còn là vấn đề quyền lợi chung của xã hội thể hiện trên các tác động của tiêu thụ năng lượng đưa tới hiện tượng ô nhiễm môi trường.

TÍNH BỀN VỮNG VÀ MÔ HÌNH THIẾT KẾ BỆNH VIỆN

Một số văn phòng KTS trong nước cũng như các KTS nước ngoài không phải ai cũng nắm bắt được các ý tưởng chung của thời đại. Bên cạnh những tác phẩm kiến trúc bệnh viện rất thành công, nhiều đồ án thiết kế của các KTS nước ngoài dựa trên những quan điểm rất lạc hậu, giới thiệu những công nghệ có tại Việt Nam hàng chục năm về trước (như dùng khu vệ sinh chắn nắng cho phòng bệnh nhân, dùng đơn nguyên như hình chữ U hoàn toàn đóng kín cho khu điều trị bệnh nhân nội trú…) mà chủ đầu tư cũng không nhận ra.

Một số bệnh viện đã tiên phong trong việc áp dụng công nghệ mới như các hệ thống kỹ thuật phục vụ tiên tiến, nhất là hệ thống điều hòa không khí (HVAC) có bộ lọc khử trùng là thiết thực. Tuy nhiên, việc đặt niềm tin hoàn toàn vào hệ thống này lại không phải là một mốt thời thượng mà chính là sự thiếu giác ngộ về xu hướng của thời đại về kiến trúc bền vững. Mỗi hệ thống công nghệ đều có phạm vi áp dụng trong sức chịu đựng. Nếu trong thiên nhiên xuất hiện những yếu tố đột biến thì hệ thống công nghệ đó trở thành con dao hai lưỡi. Vì vậy việc vận dụng các công nghệ thân thiện với môi trường vẫn là thái độ tiên tiến của thời đại.

Từ rất lâu, nữ điều dưỡng viên Flora Nightingale là người đầu tiên đưa ra mô hình đơn nguyên điều trị (trại bệnh) cho rằng: ánh sáng và gió thiên nhiên mới là yếu tố hữu hiệu để tiệt trùng, giảm thiểu hiện tượng lây nhiễm trong bệnh viện. Vậy thì làm sao có thể tạo ra một phương án kiến trúc bệnh viện phù hợp với quan điểm tiên tiến, phát triển bền vững và bao gồm cả một hệ thống công nghệ tiên tiến thích hợp, có tính khả thi trong kinh tế.

Theo Jeffrey Watch của Bệnh viện đại học Pittsburg, Monte Jiore cho rằng các chiến lược tận dụng năng lượng thiên nhiên có thể làm lợi ngay cho bệnh nhân, như ánh sáng tự nhiên có thể làm giảm stress, giảm đau cho bệnh nhân, từ đó giảm chi phí sử dụng thuốc tới 22%. Các vấn đề thuộc hệ thống điều hòa không khí (HVAC) như được bố trí đúng công suất, vấn đề tận dụng thông gió và ánh sáng tự nhiên, sử dụng các máy nước nóng dùng năng lượng mặt trời, chọn hướng nhà đúng để đón gió tốt và tận dụng ánh sáng tự nhiên, tránh nắng gắt là đề tài hay được bàn tới.

Nhiều tác giả và tài liệu hướng dẫn lập đồ án kiến trúc bệnh viện đã khuyên đó phải là một đồ án tổng hợp đa ngành. Hiện nay, dây chuyền làm việc: Chủ đầu tư – Kiến trúc sư – Kỹ sư các hệ thống cơ điện (ME) và thiết bị coi là không đáp ứng được việc tạo ra một đồ án hiệu quả nhất. Các tác giả đã khuyên phải lập một đội ngũ chuyên gia đa ngành bao gồm: kiến trúc sư, kỹ sư cơ điện, kỹ sư thiết bị, chuyên viên design, nhà thầu xây dựng, nhà cung cấp thiết bị, nhân viên y tế bệnh viện, nhà quản lý dự án, quản lý tài chính, hội đồng quản trị để lập đơn vị thiết kế đồ án. Lãnh đạo sẽ là một công trình sư cao cấp đứng đầu đơn vị thiết kế này.

Các chuyên gia này phải phối hợp đồng bộ với nhau trong việc đưa ra, rà soát những giải pháp công nghệ thích hợp nhất, phù hợp với công suất yêu cầu và giảm thiểu các rủi ro ngay trong thời kỳ khởi động. Khi phát triển quan điểm: “nhà là cái máy để ở” của Le Corbusier, ta có thể chấp nhận sự thống trị của quan điểm: Bệnh viện là cái máy chứ không phải chỉ là cái nhà.

Một số vấn đề cụ thể được đơn vị thiết kế nói trên xử lý như: Chọn công suất hay quy mô thiết bị đúng đắn, vừa phải. Giảm thiểu các hệ thống công nghệ hay trang thiết bị kết cấu kiến trúc không cần thiết hay không hợp lý. Phối hợp đồng bộ các hệ thống.

Kinh nghiệm cho thấy bằng cách tổ chức đơn vị thiết kế theo mô hình đa ngành, nhiều bệnh viện của Mỹ đã hạ chi phí xây dựng và chi phí tiêu thụ năng lượng dưới mức tiêu chuẩn. Trung tâm y tế Providence Newberg tại Oregon là một ví dụ điển hình. Trung tâm y tế vùng St.Lukes Regional Medical Center tại Twinfalls đã phải xoay lại hướng lối vào chính để đón hướng gió và ánh sáng tự nhiên tốt.

Việc chọn lối vào đúng đắn để kết nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị cũng là điều quan trọng. Xe cứu thương và taxi đều phải tiếp cận tận nơi lối vào chính, lối vào khu khám bệnh ngoại trú, khu cấp cứu. Các lối vào này phải có mái che và dễ nhận thấy cho mọi thành phần: Bệnh nhân, thân nhân, nhân viên y tế…

     Phương án dự thi kiến trúc BV 700 giường tỉnh Đồng Tháp của Cty TNHH Nguyễn Hoàng

NHỮNG YẾU TỐ ĐẢM BẢO TÍNH BỀN VỮNG

Có tính linh hoạt, đáp ứng dễ dàng sự thay đổi về kiến trúc

Tính linh hoạt của hệ thống kết cấu phải phát triển được ở nhiều hướng, nhiều vị trí cũng như tạo điều kiện cho sự phát triển không gian bên trong: Linh hoạt trong việc cho phép thay đổi công năng sử dụng, linh hoạt trong khả năng cho phép tháo dỡ (Disposal Flexibility), linh hoạt trong việc bố trí tổng mặt bằng, thể hiện trong khả năng cơi nới bành trướng thêm khối nhà hay kết nối với đường sá, hệ thống hạ tầng.

Tạo ra môi trường lành mạnh, thân thiện với thiên nhiên, con người

Con người có thể tiếp cận và dễ thấy các nơi cần đến, ví dụ dễ nhận thấy cổng vào, lối đi, các bảng hiệu chỉ dẫn rõ ràng (một số ít dự án do công ty nước ngoài thiết kế cho chủ đầu tư Việt Nam sử dụng công nghệ mới nhưng có bố cục không gian thiếu mạch lạc). Tăng cường khả năng tạo sự thuận lợi cho nhân viên y tế điều trị như: chọn vị trí tốt cho trạm y tá trực, có hệ thống liên lạc nội bộ, liên lạc giữa bệnh nhân và nhân viên được thuận lợi. Bên cạnh đó tạo ra tâm lý yên tâm cho bệnh nhân về tầm nhìn và âm thanh. Ví dụ như tầm nhìn của bệnh nhân phải rõ ràng nhưng tránh nhìn thấy các nơi bất lợi như chuyển bệnh nhân tử vong, hay nghe các tiếng ồn không cần thiết. Tạo tiện nghi cho thân nhân thăm nuôi, như chỗ ngồi của thân nhân trong phòng bệnh, nơi nghỉ. Đừng nên hiểu lầm là các bệnh viện hiện đại không dung nạp sự có mặt hay chăm sóc của thân nhân. Một vấn đề khác: cần tránh làm cho bệnh nhân bị cô lập với thế giới bên ngoài, tâm lý bi quan bằng cách thiết kế tạo các dịch vụ đời thường ngay trong bệnh viện như có khu thương mại, tiệm cắt tóc, tiệm ăn, nhu yếu phẩm, sách báo, tiệm thuốc uống thêm theo chỉ định của bác sĩ, điều này được thấy rõ trong bệnh viện do kiến trúc sư nước ngoài thiết kế. Ngoài ra cần tăng cường ánh sáng tự nhiên, kiểm soát được lối vào các khu, tránh các hành lang quá dài hay có cảm giác khó nhận thức được.

Phòng chống các yếu tố gây nhiễm trong bệnh viện

Vấn đề này đã gây tiếng xấu cho nhiều bệnh viện của Việt Nam trong ấn tượng của khách nước ngoài.

Có nhiều yếu tố và phương thức lây truyền các yếu tố gây bệnh trong bệnh viện (HALs). Một số  các yếu tố và loại vi khuẩn lây truyền thường thấy là: Aspergillus fumigatus thường nhiễm qua các ca ghép xương, truyền máu. Loại này hay xuất hiện khi có công tác tháo dỡ công trình sinh ra nhiều bụi gạch vỡ. Bacillus Cercus là vi khuẩn gram dương thường lây qua thức ăn cũng xuất hiện khi có công trường xây dựng hoạt động. Klebsiella tồn tại trên bề mặt đồ vật truyền qua cầm nắm thiết bị, giường tủ hay tay nắm cửa, ngoài ra còn lây qua tay với tay con người. Legionella spp: Vi khuẩn gram âm, lây truyền qua hít thở không khí, thường xảy ra ở nhiệt độ 30 – 370 C, truyền từ các tháp giải nhiệt, tỏa ra từ các bể nước hay vòi nước ít dùng tới. Methicillin – resistant Staphylococens aureus (MRSA) vi khuẩn gram dương, tồn tại trên các đồ vật như nút vặn TV, bàn phím, đồ vải (màn, gối, trải giường, y phục).

Ngoài ra còn có nhiều loại yếu tố lây truyền bệnh khác trong bệnh viện cũng như nhiều phương thức lây truyền. Theo một đề tài nghiên cứu của Đại  học Cambridge tại Anh, có 3 phương thức lây truyền chính: Lây truyền trực tiếp: do tiếp xúc giữa yếu tố gây bệnh với da hay niêm mạc người nhận bệnh. Lây truyền gián tiếp: qua tiếp xúc giữa yếu tố gây bệnh thông qua một phương tiện trung gian nào đó với người nhận bệnh. Lây truyền qua không khí: qua hô hấp, hít phải các luồng không khí hay bụi nhiễm khuẩn.

Việc khắc phục hiện tượng lây truyền trực tiếp liên quan đến việc phải lắp đặt chậu rửa tại nhiều nơi, dễ nhận ra và dễ tiếp cận. Có thể phải đạt đến chỉ tiêu 1 chậu rửa /4 bệnh nhân. Như vậy có thể hiểu rằng hầu như trước cửa tất cả các phòng bệnh nhân đều có chậu rửa cùng các lọ đựng dung dịch sát trùng tay. Điều này đã thấy được trên nhiều đồ án do KTS nước ngoài thiết kế.

Một nhân viên điều dưỡng có thể tiếp xúc hơn 100 lần với bệnh nhân trong một ngày, nếu không có chậu rửa tay dễ tiếp cận, sẽ tạo điều kiện cho bệnh lây truyền. Chậu rửa này không trùng với chậu rửa phòng vệ sinh trong phòng bệnh nhân mà các phương án trước kia hay bố trí trước cửa phòng vệ sinh. Việc bố trí chậu rửa cũng góp phần ngăn chặn các phương thức lây truyền gián tiếp như qua bàn phím, tay nắm cửa hay vật dụng khác.

Chính Flora Nightingale đã cho rằng vữa trát dùng trong xây dựng vốn có nhiều lỗ rỗng liti được cho là nơi khu trú và truyền lan của các yếu tố gây bệnh. Vì vậy cần chọn loại vữa trát có độ đặc cao hay dùng vật liệu che phủ như sơn. Trần nên là loại nguyên tấm lớn, không nên dùng loại tháo lắp từng ô. Riêng trần phòng mổ và một vài khu khác phải là đổ toàn khối, gắn các đèn ngầm mà người thợ thay bóng đèn hỏng phải chui vào trên trần thao tác, không vào phòng mổ lấy đèn.

Tác giả Schaal cho rằng hiện tượng lây truyền các yếu tố gây bệnh qua không khí đã nhận thấy từ lâu nhưng chưa được đánh giá đúng mức trong thiết kế. Khả năng lây truyền tăng lên khi số bệnh nhân trở nên quá tải. Điều này là hiện tượng phổ biến trong các bệnh viện công cấp Trung ương. Yếu tố gây bệnh truyền qua không khí tập trung vào kho thu hồi đồ bẩn và hành lang giữa của khối bệnh nhân nội trú.

Tác giả Glover từ những năm 1920 đã cho rằng khoảng cách giữa các giường bệnh có liên quan đến việc chống lây truyền bệnh qua không khí. Cho đến nay, khoảng cách giữa 2 giường được nhiều đề tài nghiên cứu xác định khác nhau.

Thông gió và chiếu sáng tự nhiên cũng là yếu tố diệt khuẩn tốt. Nhiều tác giả từ lâu đã xác định rằng phải là chiếu sáng và thông gió tự nhiên mới chống nhiễm khuẩn được. Chính vì vậy, các giải pháp đơn nguyên (trại bệnh) hành lang giữa, hành lang vòng kín (hình vuông hay tròn) hay đơn nguyên chữ U khép kín mà các KTS nước ngoài hay thiết kế dựa hoàn toàn vào hệ thống điều hòa không khí có hệ thống lọc diệt khuẩn là không thể tin tưởng hoàn toàn. Cần có các khoảng mở để không khí và ánh sáng tự nhiên tràn vào.

Tác giả Nardell vào năm 1993 cho rằng hệ thống điều hòa không khí cưỡng bức góp phần làm cho vết thương mau lành. Tuy nhiên, giải pháp này như trên đã nói có nhiều rủi ro khi hệ thống này bị trục trặc vì nhiều nguyên nhân. Vì vậy các phòng bệnh nhân nội trú nhất định phải tiếp xúc với ánh sáng và không khí tự nhiên.

Các khối chẩn đoán, điều trị có yêu cầu chống nhiễm khuẩn cao như khối mổ (OT) thì nên có phòng đệm tại lối vào. Trong khu Điều trị tích cực (ICU) cần có một số phòng 1 giường cách ly. Các phòng này cũng cần có phòng đệm tại lối vào, dùng áp lực không khí cao hay thấp để chống không khí nhiễm khuẩn lọt ra hay vào. Các đơn nguyên bệnh nhân nội trú có khoảng 30 giường nên có 2 – 4 phòng 1 giường có thể đảm nhiệm vai trò phòng cách ly. Các phòng này phải có phòng vệ sinh riêng, cửa phải có tay đóng tự động. Bên ngoài nhất thiết phải có chậu rửa riêng. Phần tường gần chậu rửa phải ốp vật liệu có độ đặc cao.

Sàn nhà tất nhiên phải tiện lợi cho việc lau rửa. Việc trải thảm tại một số phòng bệnh nhân cao cấp kiểu suite là không nên. Cũng không nên dùng màn vải để chắn nắng. Nếu dùng thì phải là vải chịu giặt nước nóng để khử trùng.

Cần phân khu chức năng rõ ràng để các luồng giao thông của các loại bệnh nhân và nhân viên khác nhau không chồng chéo nhau. Đặc biệt các khu như Điều trị tích cực, Khối mổ phải bố trí có khoảng cách ly với các tuyến giao thông chính, đặc biệt là trục giao thông thẳng đứng như thang máy, thang bộ để tránh luồng không khí nhiễm khuẩn bay lên theo hiệu ứng ống khói. Các tuyến vận tải chất thải, rác phải dùng cầu thang và thang máy riêng. Bố trí phòng đệm trước khi vào các khu yêu cầu vô trùng cao. Các phòng đệm này sử dụng áp lực không khí cao để tránh không khí nhiểm khuẩn vào. Đồng thời cần bố trí đầy đủ phòng thay đồ cho nhân viên.

Tóm lại để thiết kế một bệnh viện theo kiểu: “Nhà là cái máy để ở” cần phải giải quyết rất nhiều mâu thuẫn, cần một đơn vị thiết kế kiểu tập thể đồng bộ để giải quyết. Thực tế tại Việt Nam có một số tác phẩm đã rất thành công. Bệnh viện Chợ Rẫy được xây dựng đã hơn 30 năm vẫn thể hiện nhiều ưu điểm: các khối bệnh nhân nội trú tràn ngập ánh sáng và gió tự nhiên đã rất tiết kiệm năng lượng, phục vụ tốt cho việc hồi phục sức khỏe của bệnh nhân. Khu mổ cách xa khối thang máy chính. Các vách tường bằng kim loại có thể tháo lắp, các chắn nắng cũng bằng kim loại, không dùng loại chắn nắng bê tông cốt thép có thể hấp thụ nhiệt và các nguồn bệnh. Không có gì ngạc nhiên khi tác giả chính là KTS Takeo Sato một trong những trụ cột lớn của nền kiến trúc hiện đại Nhật, cùng thời với Kenzo Tange. Tất nhiên công trình này sử dụng công nghệ của hơn 30 năm về trước nên cũng có một số nhược điểm nhất định so với thời đại ngày nay.  Tuy nhiên, các KTS Âu Mỹ ngày nay sử dụng công nghệ mới vẫn nên xem xét và học tập các KTS Nhật và Pháp đã nhiệt đới hóa giải pháp kiến trúc Bệnh viện như thế nào.

PGS.TS.KTS.Trần Văn Khải
Trường Đại học Duy Tân Đà Nẵng

Nguồn ảnh: Internet
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam số 6/2012