Đô thị, nông thôn và nhu cầu dịch vụ công cộng

313

Quá trình toàn cầu hóa đang dẫn đến tình trạng các đô thị chỉ tập trung vào phục vụ thương mại mà không hướng tới việc xây dựng một thành phố đa chức năng, thân thiện với cuộc sống con người. Để có một thành phố có chất lượng sống tốt, đô thị hiện đại cần phải có các không gian công cộng như công viên, đường phố, đường dành riêng cho người đi bộ trong các khu thương mại, các trung tâm biểu diễn văn hóa, triển lãm nghệ thuật, khu liên hiệp thể thao… Tuy nhiên tình trạng của không gian công cộng ở các đô thị Việt Nam hiện tại lại cho thấy chúng không chỉ thiếu, mà còn bị lấn át bởi các công trình dịch vụ mang tính kinh tế hay thương mại.

Nhu cầu giao tiếp của con người và không gian xã hội nông thôn

Trong cuộc sống xã hội, nhu cầu con người không giới hạn ở những nhu cầu sinh học như ăn, ngủ, hít thở để tồn tại như những sinh vật khác mà còn mở rộng ra những nhu cầu thuộc lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là nhu cầu giao tiếp, trao đổi tình cảm hay thể hiện những tình cảm riêng tư. Nhu cầu tự thể hiện mình trong đời sống xã hội thông qua các quan hệ qua lại giữa các cá nhân và những hành vi của mỗi cá nhân trong sự học hỏi, sự tham gia cộng đồng và xã hội với tư cách là sự sáng tạo ra chính bản thân họ.

Sự thỏa mãn những nhu cầu sinh học thường gắn với không gian cá nhân và gia đình. Nhưng sự thỏa mãn những nhu cầu xã hội thường đòi hỏi phải được thực hiện trong các không gian xã hội. Trong xã hội nông thôn truyền thống, sự giới hạn của quy mô dân cư và không gian cộng đồng đã không thể đáp ứng những nhu cầu xã hội cho các thành viên của nó. Các không gian bên trong cộng đồng, chỉ trở thành không gian xã hội khi nó mở ra với các quan hệ bên ngoài cộng đồng thông qua các sinh hoạt tôn giáo hay lễ hội mang tính định kỳ mà không mang tính thường xuyên. Do đó, nhu cầu giao tiếp xã hội của con người trở thành niềm khát khao của mỗi cộng đồng cũng như các thành viên của nó.

Mặt khác văn hóa cộng đồng nông thôn truyền thống thường chỉ đề cao các quan hệ và tập quán bên trong cũng ngăn cản các giao tiếp thường xuyên với thế giới bên ngoài. Các câu ca dao xưa đại loại như: “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” hay “lấy chồng khó giữa làng còn hơn lấy chồng sang thiên hạ” chính là phản ánh tâm thức hướng nội và bài ngoại của tinh thần cộng đồng làng xã. Lũy tre làng không chỉ là hàng rào bảo vệ an ninh cộng đồng mà còn là đường phân định ranh giới giữa không gian bên trong và bên ngoài cộng đồng.

Sự nghi ngờ thế giới bên ngoài của văn hóa cộng đồng trở thành nỗi ám ảnh của con người khi bước ra khỏi không gian làng xã. Câu ca dao: “Sểnh nhà ra thất nghiệp” được dùng để ám chỉ nỗi lo lắng của con người khi phải ra khỏi không gian gia đình và cộng đồng làng xã của nó hay bước ra ngoài các quan hệ cộng đồng luôn che chở và sẵn sàng cưu mang giúp đỡ họ.

Tuy nhiên, ngay trong mỗi làng quê, cuộc sống cho dù chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, nhu cầu trao đổi sản phẩm vẫn diễn ra giữa các cộng đồng nông thôn trong vùng hay ngoài vùng. Sự khép kín của các cộng đồng thôn xã bao giờ cũng chỉ là tương đối, mang tính chủ quan hơn là một hiện thực xã hội. Nhu cầu giao tiếp xã hội, ngay cả trong lĩnh vực kinh tế là một thực tế và một đòi hỏi tất yếu của mỗi cộng đồng và các thành viên của họ. Chợ không chỉ là nơi dành riêng cho các trao đổi sản phẩm mà còn trở thành không gian cho các trao đổi văn hóa và xã hội. Chợ quê không chỉ có chức năng kinh tế mà còn có các chức năng xã hội và văn hóa nên đầy sức hấp dẫn đối với con người, nhất là các chợ vùng cao của những cộng đồng các dân tộc thiểu số. Các không gian lễ hội hay tôn giáo cũng có chức năng xã hội tương tự khi nó đem lại không gian xã hội đã được định chế hóa cho những con người sống trong các cộng đồng nhỏ bé, phân tán, tương đối khép kín và cách biệt với nhau.

Dần dà, quá trình đô thị hóa nông thôn tự phát gắn với sự tập trung dân cư, sự đa dạng hóa và phi nông hóa ngành nghề nông thôn đã biến một số làng truyền thống trở thành các trung tâm vùng, giữ vai trò của các đô thị truyền thống. Sự hình thành văn hóa vùng gắn với quá trình đô thị hóa nông thôn cũng đem lại cho các vùng nông thôn phân tán một sự cố kết kinh tế, xã hội và văn hóa. Các không gian vùng trở thành không gian xã hội cho các cộng đồng nông thôn trong vùng khi chúng được định chế hóa hay hợp thức hóa dựa trên các trao đổi kinh tế, văn hóa, xã hội và tín ngưỡng. Sự hiện diện của bộ máy chính quyền nhà nước ở các trung tâm đô thị không chỉ là hợp thức hóa không gian xã hội đô thị mà còn là sự tổ chức và bảo đảm sự an ninh của chính các không gian xã hội đô thị này. Vì thế chỉ ở các không gian đô thị, các trao đổi kinh tế, xã hội và văn hóa giữa các cá nhân với tư cách là các thành viên xã hội mới có tính thường xuyên và không bị giới hạn bởi không gian và văn hóa cộng đồng.

Nhu cầu giao tiếp và không gian xã hội đô thị

Không gian xã hội đô thị khác với không gian xã hội nông thôn ở chỗ nó được vật thể hóa và khu biệt hóa với các không gian riêng tư của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Sự giao tiếp xã hội ở không gian đô thị vì thế mang tính cá nhân trực tiếp hơn là mang tính đại diện và gián tiếp của giao tiếp xã hội trong không gian gia đình và cộng đồng nông thôn. Những nhu cầu giao tiếp xã hội của con người vì thế được đáp ứng triệt để hơn trong các không gian xã hội đô thị. Tại đô thị, người ta thường giao tiếp xã hội ở các không gian mang tính công cộng như quán nước, nhà hàng, công viên hay các nơi giải trí công cộng. Ở các không gian này tự do cá nhân và tính riêng tư của các trao đổi cá nhân được tôn trọng theo các quy ước xã hội đô thị.

Tính khu biệt và định chế hóa của các không gian xã hội đô thị được thể hiện ở sự tồn tại và quy chế xã hội của các không gian công cộng đô thị. Trong các không gian công cộng của đô thị hiện đại, người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu cá nhân hay xã hội mà không gian gia đình hay cộng đồng không thể đáp ứng. Các dịch vụ xã hội tại không gian công cộng không chỉ đáp ứng các nhu cầu xã hội mà cả các nhu cầu của cá nhân như đi lại, ăn, nghỉ, chữa bệnh, học tập, sáng tạo hay đơn giản chỉ là nhu cầu được yên tĩnh sau những căng thẳng tinh thần, được hít thở không khí trong lành và sống trong một khung cảnh tự nhiên. Tính đa chức năng của không gian công cộng đô thị vì thế cho phép sự hình thành và phát triển của các hệ thống dịch vụ công cộng đô thị.


Ý tưởng thiết kế không gian phố đi bộ và DVCC Khu đô thị Đông Sài Gòn

Vấn đề quy hoạch sử dụng đất công và các dịch vụ công cộng đô thị

Tính đến 2008, toàn thành phố Hà Nội có 17 rạp hát, 10 rạp chiếu phim, 10 bảo tàng và 15 thư viện. Các địa điểm văn hóa hay các không gian xã hội này rõ ràng là rất ít so với quy mô dân số Hà Nội lên tới trên 6 triệu người Hơn nữa, chúng tập trung chủ yếu tại các quận trung tâm là Hoàn Kiếm, Ba Đình và Hai Bà Trưng gắn với các quy hoạch sử dụng không gian từ những năm đầu và giữa thế kỷ XX (năm 1954, Hà Nội chỉ có 380.000 người).

Về giao thông hiện nay, quỹ đất dành cho giao thông của Hà Nội còn quá ít, mới đạt 8% quỹ đất đô thị (trong khi tiêu chuẩn là 40%). Các phương tiện giao thông công cộng mới đáp ứng được 15% nhu cầu đi lại. Tình trạng giao thông thiếu và quá tải gây khó khăn lớn cho việc xây dựng một thành phố có thể bảo đảm những điều kiện sống tốt cho người dân.

Chuyện ùn tắc giao thông của Hà Nội từ lâu đã được coi như “chuyện đã rồi”. Cơ quan quản lý đã tìm nhiều phương án để giảm bớt ùn tắc nhưng không thành công bởi cái gốc của vấn đề không phải là mở rộng không gian giao thông, mà là giảm bớt lưu lượng lưu thông trên đường phố. Các khu đô thị mới phải là các khu đô thị đa chức năng, bao gồm cả văn phòng, trung tâm mua sắm, trường học, bệnh viện. Hơn nữa việc tổ chức không gian giao thông hợp lý cũng chính là cách sử dụng hiệu quả không gian công cộng đô thị. Sự kém phát triển giao thông công cộng cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng sử dụng không hiệu quả không gian công cộng đô thị.

Hiện Hà Nội chỉ còn khoảng 0,3% lãnh thổ dành cho các công viên trong thành phố, hay bình quân chưa đạt mức 1m²/đầu người dân đô thị (Ba Đình là 0,47m2/người, Hai Bà Trưng 2,59m2/người, Sơn Tây 0,7m2/người). Trong khi chỉ số bình quân diện tích công viên trên người của thủ đô Bang Kok (Thái Lan) là gần gấp đôi (1,8m²/người). Mặt khác, các công viên của Hà Nội không phân bố đều trên lãnh thổ thành phố. Trong số 4 công viên lớn thì 3 công viên thuộc khu vực trung tâm thành phố (công viên Thống Nhất, công viên Thủ Lệ và công viên Tuổi trẻ), chỉ có Công viên nước là thuộc quận Tây Hồ giáp khu vực ngoại thành. Trên toàn lãnh thổ thành phố mở rộng cũng chỉ có khoảng 60 công viên. Nếu tính bình quân diện tích công viên trên người ở bốn quận trung tâm là 1,5m² thì khu vực ngoại thành chỉ ở mức 0,05m²/người. Sự phân bố không đều không gian công viên này khiến cho một nửa số người dân đô thị Hà Nội, nhất là thanh thiếu niên và người già không thể đến công viên bằng cách đi bộ, nên không thể sử dụng chúng một cách dễ dàng và thường xuyên. Theo nhận định của một số nhà kiến trúc đô thị, các công viên và vườn hoa Hà Nội chịu ảnh hưởng của kiến trúc vườn hoa Pháp, nhấn mạnh vào các bồn hoa mang tính trang trí, những lối đi quanh co, dài và hẹp, không dành nhiều không gian cho các giao tiếp xã hội hay sinh hoạt cộng đồng cũng là một hạn chế cho sự lựa chọn cách sử dụng không gian của người đô thị.

Để bù lại cho sự thiếu những không gian công cộng chính thức hay được quy hoạch dành cho sự đi lại, giao tiếp và sinh hoạt xã hội, người dân đô thị Hà Nội có xu hướng tận dụng vỉa hè đường phố cho mọi hoạt động cá nhân và xã hội của họ. Các hoạt động này bao gồm từ công việc gia đình như chuẩn bị bữa ăn, giặt giũ đến các hoạt động kinh doanh, giao tiếp xã hội và các hoạt động sáng tạo mang tính văn hóa. Sự tận dụng không gian xã hội của vỉa hè cho các mục đích cá nhân đã dẫn tới những xung đột giữa không gian đi lại của người đi bộ với không gian sinh hoạt và không gian kinh doanh của các hộ có vỉa hè mặt phố. Sự tham gia kinh doanh của những người bán hàng rong và nhu cầu để xe máy cũng tạo thêm căng thẳng cho các xung đột không gian trên vỉa hè đường phố. Kết cục là mọi nhu cầu sử dụng không gian vỉa hè đường phố cho các giao tiếp và hoạt động xã hội đều không được đảm bảo. Trẻ em không có chỗ chơi, người già không có nơi giao tiếp xã hội vì vỉa hè không thể là nơi dành cho họ. Ngay cả người đi bộ khi không còn lối đi trên vỉa hè đành phải đi bộ ngay trên lòng đường gây tắc nghẽn hay cản trở cho các phương tiện giao thông khác. Không gian vỉa hè vì thế không thể thay thế các không gian công cộng được quy hoạch trong thành phố.

Chính quyền Hà Nội đã rất quan tâm đến việc quy hoạch không gian công cộng cho thành phố. Các hội thảo về vấn đề này đã được tổ chức liên tục trong nhiều năm qua song những cải thiện về quy mô và chất lượng không gian công cộng đô thị dường như vẫn còn rất ít. Mục tiêu mà thành phố đề ra cho năm 2020 là Hà Nội nâng diện tích công viên bình quân đầu người dân đô thị 16m². Tuy nhiên, những diễn biến trong quy hoạch và thực thi quy hoạch cho thấy mục tiêu này rất khó đạt tới. Trên thực tế, các khu công viên cũ đang bị thu hẹp, các vườn hoa và không gian công cộng trong các khu chung cư cũ cũng bị lấn chiếm. Ngay cả những cảnh quan thiên nhiên có một không hai của Thủ đô là các hồ nước, những di tích lịch sử và văn hóa cũng có nguy cơ bị lấn chiếm. Các ý tưởng và giải pháp cho vấn đề cải thiện vẫn là điều chưa chắc chắn. Vấn đề còn lại thuộc về sự giám sát của Nhà nước và các cấp chính quyền thành phố không chỉ với việc thi công mà cả các quy hoạch đang dự thảo và chuẩn bị thực hiện.

TS.Nguyễn Đức Truyên – Viện xã hội học
Nguồn ảnh: Internet
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam