Đô thị hóa và câu chuyện ở một làng ven đô

473

Sự phát triển và mở rộng của Hà Nội trong hơn hai thập kỷ qua là kết quả của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Quy hoạch của thành phố cho thấy trong vòng 10 năm qua, Hà Nội đã thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp để phục vụ hàng ngàn dự án phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ. Việc chuyển đổi này ước tính khiến hàng trăm ngàn hộ gia đình nông dân mất đi việc làm truyền thống. Câu chuyện ở làng Phú Điền *(Hà Nội) sẽ là một góc nhìn chính diện về vấn đề này.

Đô thị hóa và thu hồi đất ở làng Phú Điền

Sự phát triển và mở rộng của Hà Nội trong những năm hơn hai thập kỷ vừa qua là kết quả của một quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Quy hoạch của thành phố cho thấy trong vòng 10 năm qua Hà Nội đã thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp để phục vụ hàng ngàn dự án phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ. Việc chuyển đổi này ước tính làm mất việc làm truyền thống của hàng trăm ngàn hộ gia đình nông dân.

Là một làng ven đô ở phía Tây – Nam Hà Nội, Phú Điền được coi là một làng thuần nông có nhiều đất nông nghiệp so với mức bình quân của khu vực đồng bằng sông Hồng. Vào năm 2000, Phú Điền có 147,7 ha đất nông nghiệp, với 1.088 hộ gia đình nông nghiệp, tính trung bình mỗi hộ có 1.350m2. Cũng từ đầu những năm 2000, đất nông nghiệp của hàng trăm hộ gia đình ở Phú Điền bị thu hồi để phát triển đô thị. Tính đến năm 2011, tổng diện tích đất bị thu hồi lên tới hơn 100 ha, phục vụ cho hơn 100 dự án xây dựng các chung cư, biệt thự, văn phòng, trụ sở làm việc của các cơ quan, khu thương mại, trường học, bệnh viện, đường giao thông, bến xe… Nghĩa là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của Phú Điền đã, đang và sẽ được chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, làm biến đổi mạnh mẽ sinh kế truyền thống của các hộ gia đình nông dân nói riêng và phương thức sống của cả cộng đồng làng nói chung. Quá trình này tạo cho các hộ gia đình một số cơ hội, song cũng đem đến những thách thức và rủi ro.

Đô thị hóa ở Phú Điền và những cơ hội chuyển đổi sinh kế.

Thứ nhất, việc thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Phú Điền trong những năm qua đã tạo nên một dòng vốn tài chính lớn chảy vào cộng đồng làng. Đó là nguồn tiền đền bù quyền sử dụng đất nông nghiệp. Trong thực tế, tiền đền bù quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình nông dân ở Phú Điền trong những năm qua là một khoản tài chính lên tới nhiều tỷ đồng. Đối với một số hộ gia đình, tiền đền bù đất thậm chí còn được tăng lên khi họ trồng cây lâu niên trên diện tích đất nông nghiệp trước khi bị thu hồi để “”ăn đền bù””. Thực tế này xuất phát từ chính sách của Nhà nước tính tiền đền bù khác nhau cho các loại cây trồng trên diện tích đất bị thu hồi. Vì thế, khi người dân biết được quy hoạch hay kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp, họ nhanh chóng chuyển sang trồng các loại cây lâu niên như liễu, ổi…Đây là những loại cây dễ trồng, phát triển nhanh, để hưởng mức tiền đền bù cao hơn.

 

Ngoài tiền đền bù quyền sử dụng đất và các loại hoa màu hay cây trồng trên diện tích đất bị thu hồi còn có một khoản tiền hỗ trợ từ các doanh nghiệp, đơn vị tư nhân sử dụng đất thu hồi. Ở Phú Điền, một cán bộ địa phương ước tính số tiền hỗ trợ này trong những năm qua lên tới hàng chục tỷ đồng và đã được đầu tư vào cơ sở hạ tầng của làng như đình, chùa, nhà văn hóa, nhà trẻ, sân chơi và đặc biệt là đường làng.

Đô thị hóa cũng làm cho giá đất ở của các hộ gia đình tăng rất nhanh. Nhiều người dân ở làng cho biết giá trị trao đổi của quyền sử dụng đất thổ cư bắt đầu tăng nhanh từ cuối những năm 1990. Nếu vào năm 2007, những mảnh đất có vị trí đẹp giá 60 triệu/m2 vuông đến năm 2011 tăng lên hơn 100 triệu/m2. Thực tế này làm cho Phú Điền trở thành một trong những nơi mua bán đất thổ cư sôi động nhất ở Việt Nam.

Thứ hai là quá trình chuyển đổi sinh kế, từ sản xuất nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp. Đô thị hóa diễn ra nhanh chóng làm cho người nông dân phải từ bỏ sản xuất nông nghiệp truyền thống. Sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp, hầu hết số lao động nông nghiệp ở làng không có đất để sản xuất. Phú Điền chỉ còn dưới 40 ha đất nông nghiệp, nhưng hệ thống thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực này đã hoàn toàn bị phá hủy bởi hàng loạt các công trình xây dựng trên diện tích đất bị thu hồi ở làng và các khu vực xung quanh, vì thế người dân không thể canh tác các cây trồng và hoa màu như trước kia.

Việc chuyển đổi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị, đường giao thông, văn phòng và các cơ sở hạ tầng khác đã rút ngắn khoảng cách giữa Phú Điền và khu đô thị của Hà Nội. Nhiều con đường mới được xây dựng, những tuyến đường cũ được nâng cấp, kết nối Phú Điền với khu vực xung quanh. Điều này tạo thuận lợi cho các dòng người đổ về Phú Điền để tìm nhà trọ. Cùng thời điểm đó, những người nông dân Phú Điền bị mất đất nông nghiệp đang xoay sở tìm kiếm các chiến lược sinh kế mới. Tận dụng cơ hội này, họ bắt đầu đầu tư vốn tài chính vào xây dựng nhà ở để cho thuê.

Khảo sát của chúng tôi năm 2007 cho thấy có khoảng 80 phần trăm hộ gia đình ở làng cho thuê nhà trọ. Ở thời điểm này, hầu hết các nhà trọ cho thuê là nhà cấp bốn được chia thành nhiều phòng nhỏ với những tiện nghi rất hạn chế cộng với một số nhà cao tầng kiên cố mà các hộ gia đình xây để ở và cho thuê một số phòng. Chỉ có một số lượng nhỏ hộ gia đình đầu tư xây dãy nhà hai tầng gồm nhiều phòng có chất lượng cao hơn. Tài liệu năm 2011 cho thấy kinh doanh nhà trọ ở Phú Điền rất phát triển. Bên cạnh những ngôi nhà trọ cấp bốn, nhiều hộ gia đình đã đầu tư xây nhà cao tầng cho thuê, một số ít hộ còn xây dựng nhà nghỉ, thậm chí một số hộ bắt đầu đầu tư vào xây nhà cao tầng làm văn phòng cho thuê. Thống kê của chính quyền địa phương năm 2011 cho thấy ở Phú Điền có 530 hộ kinh doanh nhà trọ, 35 hộ kinh doanh nhà nghỉ, 11.000 người thuê nhà trọ trong làng. Có thể nói thu nhập từ việc cho thuê nhà trọ là một nguồn thu quan trọng và “ổn định’”của nhiều hộ gia đình nông dân không còn đất nông nghiệp ở Phú Điền.

Thêm vào đó, việc thu hồi đất nông nghiệp còn dẫn đến việc thúc ép nhiều người lao động phải tìm kiếm các nguồn sinh kế thay thế và trong thực tế nhiều người lao động, nhất là lao động nữ ở độ tuổi trung niên, đã gia nhập đội ngũ buôn bán nhỏ, chủ yếu là buôn bán các mặt hàng gia dụng, lương thực thực phẩm và cung cấp các dịch vụ khác cho những người sống và trọ trong hay quanh làng. Chỉ có một số ít hộ gia đình tìm được việc làm phi nông nghiệp bền vững trong các khu vực nhà nước hoặc tư nhân.

Những thách thức và rủi ro của quá trình đô thị hóa

Thứ nhất là vấn đề việc làm. Phân tích của tôi ở trên đặt ra một vấn đề quan trọng là những người nông dân sẽ làm gì sau khi họ bị thu hồi phương tiện sản xuất truyền thống của mình: Quyền sử dụng đất nông nghiệp. Ở Phú Điền, nhiều lao động nông nghiệp đã phải đối mặt với vấn đề thiếu hoặc không có việc làm sau khi đất nông nghiệp của họ bị thu hồi. Họ thường nói họ ‘mất đất’, nghĩa là mất quyền sử dụng đất nông nghiệp. Dĩ nhiên, người dân Phú Điền đã được nhận tiền đền bù và những khoản hỗ trợ khác như tôi đã phân tích. Nhưng việc thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp với quy mô lớn như thế đã làm chuyển đổi mạnh mẽ cấu trúc lao động của các hộ gia đình. Người nông dân Phú Điền bị mất đi cái mác “nông dân’” vì họ không còn đất nông nghiệp, không thể làm nông nghiệp, buộc phải chuyển sang các việc làm phi nông nghiệp vốn không phải là lĩnh vực “chuyên môn” của họ. Thực tế thì nhiều lao động nông nghiệp, nhất là những lao động trẻ không thể tìm được việc làm và có thu nhập ổn định.

Vấn đề việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp không chỉ được thảo luận sôi nổi ở cấp độ địa phương như làng Phú Điền mà còn ở trên các diễn đàn công cộng với sự tham gia của nhiều thực thể khác nhau. Về phía người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp, một trong những niềm hy vọng lớn nhất đối với họ là chính sách đào tạo nghề của Nhà nước. Một số cán bộ Nhà nước và các phương tiện truyền thông đại chúng đôi khi vẽ ra những viễn cảnh tuyệt vời hay đầy hứa hẹn về đào tạo nghề và tạo việc làm để giúp những người “nông dân” làm việc trên đồng ruộng chuyển đổi thành “công nhân’” làm việc trong các khu công nghiệp và dịch vụ. Điều này có nghĩa là đào tạo nghề đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp những người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tìm kiếm các việc làm thay thế bên ngoài khu vực nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc đào tạo nghề như vậy còn chưa mang lại những kết qủa cần có cho các mục tiêu đặt ra, mà Phú Điền là một ví dụ. Nhiều nguồn tài liệu cho thấy vấn đề không có việc làm, thiếu việc làm, hoặc trở thành những lao động phổ thông đơn giản là một hình ảnh phổ biến của những người nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp. Khó ai có thể phủ nhận rằng việc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ công nghiệp hóa và đô thị hóa đã tạo tiền đề quan trọng để phát triển công nghiệp, dịch vụ và nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, số lượng những người nông dân không có việc làm và thiếu việc làm ở những địa phương như Phú Điền không thể không làm chúng ta bận tâm.

Bức tranh đô thị hóa tại các làng ven đô không mấy màu sắc bền vững

Thứ hai là rủi ro và bất bình đẳng. Thu hồi đất nông nghiệp ở Phú Điền tạo tiền đề để người dân ở làng trong thời điểm hiện tại nhìn chung có một mức thu nhập cao hơn trước. Nhiều người trong số họ thường nói ‘ngày xưa’ thu nhập của các hộ gia đình chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp và được tính bằng thóc, không phải bằng tiền mặt. Tuy nhiên, giờ đây, thu nhập bình quân của nhiều hộ gia đình bình thường từ việc cho thuê nhà trọ cao hơn so với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trước kia. Đấy còn là chưa tính đến các nguồn thu nhập khác và số tiền đền bù đất nông nghiệp và tiền bán đất thổ cư mà nhiều hộ gia đình đã nhận được. Thực tế này cho thấy một sự gia tăng đáng kể về mức sống của người dân Phú Điền ở thời điểm hiện tại so với cuộc sống của họ trong những năm còn sản xuất nông nghiệp trước khi thu hồi đất.

Dù vậy, một số người dân lại cảm thấy sinh kế của họ còn mỏng manh, không bền vững so với những tháng ngày làm nông nghiệp: khi họ có thể tự chuẩn bị cho mình lương thực hàng ngày như gạo, rau…Sau khi bị thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp, họ phải mua rất nhiều thứ cho cuộc sống hàng ngày. Thực tế này tạo đà để họ thâm nhập sâu hơn vào thị trường song cũng làm cho cuộc sống của họ phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường. Hơn nữa, quá trình đô thị hóa nhanh đã tạo nên một khu vực ven đô xen kẽ các lối sống nông thôn và đô thị, vì thế chi phí cho cuộc sống gia tăng nhiều lần so với khi còn là một khu vực “nhà quê”.

Một số khác thì lo lắng về sự gia tăng của các tệ nạn xã hội trong cộng đồng làng kể từ đầu những năm 2000. Từ một cộng đồng không có nghiện hút, Phú Điền dần dần chứng kiến nhiều loại tệ nạn xã hội thâm nhập vào làng. Nổi bật và phổ biến nhất là những tệ nạn mà người dân gói gọn lại trong cụm từ ‘cờ bạc’. Như nhiều người dân giải thích, nguyên nhân chính của hiện tượng này không phải chỉ là do người dân có nhiều tiền mặt hơn mà quan trọng hơn là họ quá nhàn rỗi, nghĩa là không có việc gì để làm, nên sinh ra cờ bạc. Đấy còn là chưa kể đến việc gia tăng nhanh chóng về giá trị trao đổi của quyền sử dụng đất thổ cư trong những năm vừa qua cũng đã làm nảy sinh tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình. Ở Phú Điền, một số vụ tranh chấp kiểu này liên quan đến các thành viên trong gia đình trong khoảng 10 năm qua đã phải đưa ra giải quyết ở toà án.

Ở một chừng mực nhất định, hoạt động kinh doanh mới mà họ đang làm cũng chứa đựng những rủi ro mà nhiều người nông dân chưa trải nghiệm khi còn làm nông nghiệp, vì họ còn thiếu tri thức và chưa có những trải nghiệm cần thiết để làm những công việc mới bao gồm cả hoạt động kinh doanh nhà trọ. Một vấn đề khác là sự ổn định của những nguồn sinh kế mới. Cho thuê nhà trọ, buôn bán nhỏ, hay làm các dịch vụ khác…là những sinh kế mới của người dân Phú Điền sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp. Tuy nhiên, về dài hạn, liệu những chiến lược sinh kế thay thế này có bền vững không, họ có thể gắn bó với chúng bao lâu, vẫn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ. Người dân đã nghe về quy hoạch và những kế hoạch của chính quyền Nhà nước tìm cách chuyển một số trường đại học ở các khu vực nội đô ra vùng ven đô hay khu vực nông thôn cách xa làng họ. Vậy nếu khi sinh viên không còn thuê nhà trọ ở làng nữa thì cuộc sống của họ sẽ đi theo hướng nào? Có thể họ sẽ phải tìm nguồn sinh kế khác và nếu vậy thì nguồn sinh kế nào họ có thể tiếp cận cũng vẫn chưa có câu trả lời. Một người dân cao tuổi trong làng tâm sự: “Đô thị hóa có nhiều mặt tốt, nhưng nghĩ về tương lai thì thật mong manh. Không biết chính sách của Nhà nước rồi sẽ thế nào.”

Kết luận

Quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng trong hai thập kỷ qua đã dẫn đến việc thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân. Việc thu hồi đất như thế một mặt đã tạo tiền đề quan trọng để Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ, mang lại một số cơ hội về vốn tài chính và sự chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp. Tuy nhiên, mặt khác, việc mất đất nông nghiệp đã ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội của người nông dân ở khu vực nông thôn và ven đô, những con người mà văn hóa của họ được gọi là nền văn minh lúa nước và sinh kế của họ từ nhiều năm đã dựa một phần quan trọng vào đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp.

Trong quá trình chuyển đổi này, với nhiều người nông dân ở làng Phú Điền, thu hồi đất nông nghiệp phục vụ đô thị hóa đã đem lại cho họ một nguồn vốn tài chính lớn, mà nhiều người có mơ cũng không thấy trong những năm còn sản xuất nông nghiệp, bên cạnh một thực tế là giá trị trao đổi của quyền sử dụng đất thổ cư trong khu vực gia tăng nhanh chóng, làm cho những người nông dân Phú Điền ở thời điểm hiện tại là những chủ thể giàu vốn tài chính và vốn tự nhiên. Quan trọng hơn, quá trình chuyển đổi này đã chuyển đổi sinh kế truyền thống của người dân địa phương từ một chiến lược sinh kế dựa nhiều vào sản xuất nông nghiệp sang những chiến lược sinh kế đa dạng khác trong đó cho thuê nhà trọ và buôn bán nhỏ đóng một vai trò quan trọng.

Tuy nhiên, nhiều lao động vốn là những người nông dân làm nông nghiệp còn thiếu vốn xã hội và ít vốn con người nên không thể tìm được việc làm, hay không có đủ việc làm, để đảm bảo các chiến lược sinh kế bền vững của mình trong một bối cảnh gia tăng các áp lực của nền kinh tế thị trường và những tác động còn hạn chế của chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm của nhà nước. Chính vì thế, một số người dân còn cảm thấy cuộc sống của mình đang tiềm ẩn những rủi ro và thách thức. Thông tin từ nghiên cứu trường hợp này, cộng với nhiều nguồn thông tin khác, cho thấy vấn đề việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp cần tiếp tục được nghiên cứu kỹ lưỡng và thảo luận để có những giải pháp chính sách phù hợp hơn.

TS. Nguyễn Văn Sửu – Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguồn ảnh: Internet
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam