Văn hóa – Cột trụ thứ tư của phát triển bền vững

238

Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song phải dựa trên sự tôn trọng các giá trị văn hóa thì mới đảm bảo ổn định xã hội, làm tiền đề cho sự phát triển. Nhận thức về phát triển bền vững cũng đã đề cập đến văn hóa như cột trụ thứ tư, một phần của bền vững xã hội.

Nhận thức về phát triển bền vững

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” đã và đang trở thành cụm từ được sử dụng rộng rãi trên nhiều diễn đàn khác nhau, trong các văn bản pháp quy cũng như trong nhiều tài liệu nghiên cứu. Định nghĩa Phát triển bền vững được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là: “Sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các nhu cầu của họ” [1, tr.19], [5, tr. 17]. Phát triển bền vững là một phạm trù mà bản thân nó chứa đựng những mâu thuẫn nội tại giữa hai yếu tố “phát triển” và “bền vững”. Trong khi phát triển bao hàm một sự biến đổi (so với tình trạng hiện tại) thì bền vững lại hàm chứa ý nghĩa ổn định, lâu bền. Dù vậy, sự phát triển vẫn có thể mang tính bền vững nếu được xây dựng trên cơ sở quan niệm đúng đắn, có phương pháp tiếp cận thích hợp và có những biện pháp triển khai cụ thể đáp ứng yêu cầu đề ra.

Các nước trên thế giới đã đi đến thống nhất quan điểm chung về phát triển bền vững, là kết quả tổng hoà của ba mặt cơ bản: bền vững về môi trường, bền vững về kinh tế và bền vững về xã hội [5]. Tuy nhiên, vẫn có những khác biệt trong quan niệm thế nào là phát triển. Phát triển được hiểu là bất kỳ hoạt động/quá trình nào làm tăng được năng lực của con người/của môi trường để đáp ứng nhu cầu hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống [5]. Quan trọng hơn, phát triển không chỉ giới hạn trong các hoạt động sản xuất mà còn bao gồm các yếu tố văn hoá xã hội như văn học, nghệ thuật, giáo dục… Không thể quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tích luỹ vật chất, hoặc ngược lại – chỉ là sự giàu có về tinh thần. Điều đó có vẻ như rất hiển nhiên nhưng trong thực tế phát triển kinh tế lại không hề đơn giản, đặc biệt ở các nước đang phát triển [4].

Sự phát triển kinh tế – xã hội tại mỗi địa bàn, mỗi đất nước không chỉ là sự vận hành của riêng hệ thống kinh tế, mà là một tổng thể phức tạp các mối quan hệ tương tác và gắn bó hữu cơ, được bao hàm trong khái niệm “văn hoá”. Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song phải dựa trên sự tôn trọng các giá trị văn hóa thì mới đảm bảo ổn định xã hội, làm tiền đề cho sự phát triển. Nhận thức về phát triển bền vững nêu trên cũng đã đề cập đến văn hóa như một phần của bền vững xã hội. Tuy nhiên, tính bền vững về văn hóa là một thuật ngữ mới đang được cộng đồng quốc tế quan tâm. UNESCO, Liên minh các đô thị và chính quyền địa phương (UCLG) đã có nhiều nỗ lực đề cao vai trò của văn hóa như một yếu tố thứ tư, đóng vai trò thiết yếu đối với sự phát triển bền vững bên cạnh các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội đã được công nhận rộng rãi. Năm 2001, nhà nghiên cứu Jon Hawkes (Australia) đã đưa ra định nghĩa cơ bản và được chấp nhận rộng rãi về “bền vững văn hóa”: Bền vững văn hóa là sự phát triển, làm mới và duy trì văn hóa để tạo ra các mối quan hệ tích cực và lâu bền giữa con người với con người và con người với tự nhiên [3].

Định nghĩa này xác định rõ ba vấn đề cơ bản của bền vững văn hóa là “phát triển, làm mới và duy trì” các giá trị, chuẩn mực và các đặc trưng văn hóa để đi đến mục tiêu cao nhất là tạo dựng mối quan hệ tổng hòa bền vững giữa con người với xã hội cũng như với tự nhiên. Từ năm 2001, UNESCO cũng đã xác định vai trò và ý nghĩa của đa dạng văn hóa đối với phát triển nhìn từ góc độ toàn cầu: Là khởi nguồn cho sự trao đổi, đổi mới và sáng tạo, đa dạng văn hóa cần thiết cho nhân loại cũng như đa dạng sinh học cần thiết cho tự nhiên [8].

UNESCO đã khẳng định vai trò của văn hóa đối với quá trình phát triển làm nền tảng ban đầu cho các nghiên cứu và nỗ lực toàn cầu, tạo nên một sự chuyển biến trong việc nhìn nhận toàn diện hơn cả về quan điểm và cũng như nhận thức về phát triển bền vững, đồng thời mở ra cách tiếp cận riêng để phát huy lợi thế cạnh tranh của các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La- tinh trong tiến trình toàn cầu hóa, trong đó nhấn mạnh vai trò của đa dạng văn hóa đối với sự phát triển: “Nhận thức rằng đa dạng văn hóa tạo nên một thế giới phong phú và đa dạng, làm tăng khả năng lựa chọn và nuôi dưỡng năng lực cũng như các giá trị của con người. Do vậy, đa dạng văn hóa là một động lực chủ đạo cho sự phát triển bền vững các cộng đồng, các dân tộc và các quốc gia [9]”.

Trụ sở Ngân hàng ING, Amsterdam

Năm 2010, UNESCO đã cụ thể hóa vai trò và tiềm năng của văn hóa đối với yêu cầu phát triển. Văn hóa được khẳng định là “một thành tố cơ bản của phát triển bền vững”, có khả năng đóng góp mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường. Các giá trị và niềm tin của con người định hình mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên cũng như cách thức con người quản lý và tác động đến tự nhiên. Tháng 11/2010, Hội nghị thượng đỉnh UCLG đã thông qua Tuyên bố chính sách “Văn hóa – cột trụ thứ tư của phát triển bền vững” (trong đó chỉ ra 2 hướng tiếp cận quan trọng là: xây dựng các chính sách văn hóa vững chắc và thúc đẩy các khía cạnh văn hóa trong mọi chính sách công). Dự kiến tại Hội nghị thượng đỉnh Rio+20 (tháng 6/2012) sẽ khẳng định vai trò của văn hóa đối với phát triển.

Hướng tiếp cận tích hợp trong kiến trúc thế kỷ 21

Nhìn nhận những vấn đề của kiến trúc thế kỷ 21, Đại hội Hội liên hiệp kiến trúc sư quốc tế (UIA) lần thứ 20 tại Bắc Kinh năm 1999 đã đánh giá: “Thế kỷ XX: sự xây dựng đồng hành với hủy hoại” [6]. Kiến trúc thế kỷ XXI phải đối mặt với 4 vấn đề có liên hệ với nhau: sự trả thù của thiên nhiên; đô thị hóa tràn lan; công nghệ như con dao hai lưỡi; mất đi bản sắc địa phương. Năm 2001, trước các kiến trúc sư Việt Nam, Chủ tịch UIA Vassilis Sgoustas đã đặt ra các câu hỏi căn bản cần được giải đáp: “Cái nhìn về tương lai của chúng ta phải thực tế, thể hiện trách nhiệm đối với thiên nhiên và môi trường xây dựng mà chúng ta được thừa hưởng, để không ngừng phát triển. Quá khứ đã để lại cho chúng ta những bài học gì? Liệu chúng ta có phải xem xét lại toàn bộ quá trình?” [11, tr.28].

Những vấn đề đó đòi hỏi giới kiến trúc phải nghiêm túc xem xét lại thái độ ứng xử của mình đối với tự nhiên, cách thức sử dụng các nguồn tài nguyên cũng như việc áp dụng và sự ảnh hưởng của công nghệ hiện đại đối với mục tiêu của kiến trúc. Hiến chương Bắc Kinh đã xác định lại một cách cơ bản cách tiếp cận trong kiến trúc, theo đó, cần thiết có sự tích hợp giữa tính toàn cầu và tính địa phương (GLOCAL) để tạo nên sự cân bằng ổn định trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Không chỉ thuần túy đáp ứng các yêu cầu mang tính kỹ thuật, kiến trúc còn phải phát huy được đặc trưng của địa điểm và văn hóa bản địa để nuôi dưỡng và phát triển tinh thần của con người, tạo nên sự bền vững về mặt tinh thần của chủ thể kiến trúc.

Chủ đề chính của Đại hội UIA lần thứ 24 tại Tokyo năm 2011 là Design 2050 – Chống thiên tai, bằng tinh thần đoàn kết, hướng tới kiến trúc bền vững (với ba chủ đề phụ “Môi trường”, “Văn hóa” và “Cuộc sống”) tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết quan tâm yếu tố văn hóa và cuộc sống song song với vấn đề bảo vệ môi trường và ứng phó thảm họa thiên tai. Nhân đây có thể thấy rằng những giá trị Nhật Bản và tinh thần Nhật Bản (chứ không phải đồng Yên) chính là động lực giúp cho người Nhật đứng vững và vượt qua được thảm họa kép động đất và sóng thần tháng 3/2011.

Để tiếp cận những thách thức đó của lĩnh vực kiến trúc – đô thị, vấn đề đầu tiên cần được đề cập và có tính đột phá căn bản là phương pháp tư duy. Để đạt được tính bền vững tổng thể, cần có một phương pháp tư duy kiến trúc – đô thị bền vững. Trước hết, cần xem xét lại cách làm thông thường (mà chủ yếu là theo thói quen) trong toàn bộ quá trình tạo dựng kiến trúc. Kiến trúc sư “không chỉ đơn thuần đóng vai trò tạo dựng không gian vật thể mà còn là nhà chiến lược của các tiến trình dự kiến sẽ diễn ra”. Vấn đề cơ bản là ảnh hưởng của những tác động gián tiếp từ mỗi quyết định, hay nói cách khác là tương quan giữa tác động/lợi ích trực tiếp với tác động/lợi ích gián tiếp. Vì vậy, thiết kế bền vững đòi hỏi sự thay đổi cơ bản trong tiến trình thiết kế ở 3 mặt: Đòi hỏi sự mở rộng hợp tác giữa các chuyên ngành khác nhau; Đòi hỏi sự gắn bó với các nguyên tắc và quan niệm kiến trúc bền vững; Sử dụng phương pháp tư duy hệ thống trong quá trình ra quyết định [2, tr. 210].

Phương pháp tư duy hệ thống nhấn mạnh rằng tất cả mọi sự vật và hiện tượng đều có sự liên hệ lẫn nhau. Trong lĩnh vực kiến trúc, bên cạnh việc xem xét các sự vật và hiện tượng, cách tư duy hệ thống còn đề cập đến mối quan hệ giữa chúng, quan hệ giữa các bước trong quá trình thiết kế và giữa quá trình thiết kế với xây dựng công trình. Điều đó đòi hỏi người thiết kế phải xem xét đồng thời (cả về không gian cũng như thời gian) những tác động trực tiếp và gián tiếp từ kết quả của những quyết định được đưa ra. Kết quả của phương pháp tư duy hệ thống trong kiến trúc là thiết kế tích hợp: mỗi giải pháp cụ thể đề cập và giải quyết đồng thời nhiều vấn đề khác nhau – mỗi giải pháp đó lại là sản phẩm của các công việc và yêu cầu đa ngành. Vì vậy, trong giải pháp thiết kế tích hợp không có những thành phần chỉ nhằm mục đích tạo cho công trình có những đặc điểm của kiến trúc bền vững. Tư tưởng kiến trúc bền vững phải xuyên suốt toàn bộ thiết kế từ tổng thể đến chi tiết [2, tr. 24]. Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, nếu thay đổi một bộ phận của một hệ thống nhỏ bất kỳ sẽ có khả năng gây ảnh hưởng nhất định tới toàn thể. Áp dụng quan điểm đó đối với công trình kiến trúc cho thấy cần phải xem xét không chỉ giai đoạn thiết kế và xây dựng mà là toàn bộ vòng đời của công trình. Đây là một sự chuyển biến lớn trong nhận thức về kiến trúc bền vững.

Vấn đề này chỉ ra một điểm quan trọng là kiến trúc bền vững đạt được không thể chỉ bằng sự nỗ lực của riêng những người ra quyết định và những người thiết kế, mặc dù nhóm này có một vai trò rất then chốt trong việc tạo dựng công trình. Tính bền vững còn phụ thuộc vào sự nỗ lực của những người khai thác và chế tạo vật liệu xây dựng tham gia từ giai đoạn đầu của vòng đời công trình. Bên cạnh đó là trách nhiệm của những người xây dựng công trình trong việc thực hiện những dự tính chiến lược thiết kế trong thực tế. Sau đó, một phần trách nhiệm không thể xem nhẹ là của những người tiếp nhận sử dụng và vận hành. Nhận thức, trách nhiệm và hành động của các nhóm chủ thể có tính quyết định đảm bảo tính bền vững của công trình cả về mặt môi trường, văn hoá và kinh tế.

Phương thức tiếp cận của kiến trúc bền vững cho thấy một điểm rất rõ ràng rằng kiến trúc bền vững không phải là một nỗ lực biểu hiện phong cách thẩm mỹ. Đó không phải là một tập hợp những thành phần có tính biểu hiện được gắn lên công trình. Dù có hàng loạt những định hướng và hướng dẫn để đạt tính bền vững, nhưng công trình kiến trúc bền vững là kết quả hữu cơ của việc áp dụng triết lý thiết kế bền vững trong mọi quá trình ra quyết định.

Phát triển kiến trúc bền vững văn hóa

Nhìn lại giai đoạn khủng hoảng kinh tế những năm 1980 – 1985, phương tiện vật chất rất lạc hậu nhưng các giá trị văn hóa tinh thần luôn được duy trì, nhờ vậy sang những năm 1985 – 1990 Việt Nam đã giành được một số giải thưởng quốc tế có uy tín cho những ý tưởng kiến trúc nhân văn (đó cũng là thời kỳ thế giới đang đi tìm hướng phát triển cho thế kỷ XXI). 25 năm sau đổi mới, kiến trúc Việt Nam dù đã có những nỗ lực tích cực nhưng dường như đang chững lại, trong khi thế giới đã xác định và tiến bước theo chiến lược phát triển bền vững.

Sự chuyển đổi từ “nền kinh tế kế hoạch tập trung” sang “nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN” đã tạo ra những bối cảnh đặc thù, trực tiếp và gián tiếp tác động đến hoạt động sáng tác, thiết kế và xây dựng các công trình kiến trúc. Với các yếu tố vật chất – kỹ thuật và văn hoá – tinh thần đều được “cởi trói”, kiến trúc đã có cơ hội để đổi mới về cơ bản, nhưng thực tế mới chỉ ghi nhận được ở một số công trình đơn lẻ. Sự đa dạng các thành phần xã hội tham gia quá trình đầu tư và phát triển đặt kiến trúc vào vị thế phải vận động và thỏa hiệp để thích ứng với cơ chế thị trường. Chính sách “mở cửa” tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế, nâng cao dân trí, phát triển tri thức xã hội nhưng đồng thời cũng hình thành những mâu thuẫn và lực cản nhất định ảnh hưởng đến sự phát triển của kiến trúc. Vấn đề là quy luật thống nhất biện chứng giữa các phương diện vật chất và tinh thần đang diễn ra trong môi trường xã hội, mà ở đây lại thiếu sự điều tiết của yếu tố con người. Khi thoát khỏi khủng hoảng, các yếu tố vật chất đã phát triển nhanh chóng và đồng thời trên nhiều lĩnh vực, trong khi sự đổi mới về văn hoá lại đi sau một bước và có tính tuần tự (từ thông tin đến nhận thức rồi đến thẩm mỹ), nên tốc độ và mức độ phát triển về vật chất đã vượt qua yếu tố tinh thần. Sự tăng trưởng nóng về kinh tế và sự dễ dàng của các phương tiện vật chất đã khơi dậy và khích động tâm lý phô trương hình thức trong kiến trúc. Trong quá trình mở cửa giao lưu và hợp tác quốc tế, các phương tiện văn minh vật chất lại được tiếp thu một cách nhanh chóng và dễ dãi bởi tính hiệu quả (đáp ứng nhanh và trực diện) đầy thuyết phục, vô hình trung lại đối lập và chèn ép các giá trị nhân văn truyền thống tích cực.


Trung tâm Văn hóa Jean-Marie Tjibaou, Noumea, New Caledonia

Nhìn rộng hơn, có thể thấy một vấn đề liên quan tới định hướng: trong khi phương Tây tìm thấy phương thức để phát triển trong văn hoá Á Đông, thì chúng ta lại lấy văn minh vật chất phương Tây làm đích. Các xu thế Đô thị hoá – Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá và cơ chế thị trường có tác động tích cực giải phóng năng lực sáng tạo, nhưng đồng thời cũng tác động tiêu cực làm đảo lộn nhiều giá trị văn hoá và chuẩn mực xã hội. Đó cũng là một nguyên nhân khiến đã hơn 25 năm trôi qua nhưng “bản sắc dân tộc trong kiến trúc” vẫn chưa được làm rõ, còn kiến trúc mới chỉ hiện đại, chỉ bền vững ở cái vỏ hình thức bên ngoài.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các địa phương, tính chất và hoàn cảnh xây dựng cũng trở nên đa dạng hơn, đòi hỏi sự quan tâm sâu sắc hơn của người làm quy hoạch và kiến trúc. Trong đời sống xã hội những năm gần đây đang hình thành xu thế đề cao các giá trị tinh thần, có tác động tích cực tới nhận thức của một bộ phận dân cư và gợi mở một số hướng đi mới trong sáng tác kiến trúc phù hợp xu hướng phát triển chung của thế giới:

– Đề cao tính nhân văn và tôn trọng yếu tố con người: đáp ứng nhu cầu cụ thể của người trực tiếp sử dụng; phù hợp với lối sống, phương thức kinh tế và tập quán xã hội của dân cư; tạo cơ hội được thụ hưởng các giá trị.. Phương thức này đặc biệt quan trọng đối với các dự án tái thiết/phát triển đô thị.

– Tạo dựng quan hệ hoà nhập cộng sinh và bền vững giữa kiến trúc với địa điểm xây dựng. Linh hoạt và đa dạng hoá cách tiếp cận với các yếu tố ngoại cảnh đóng vai trò định hướng (Contextualism). Phương thức này có thể ứng dụng cho nhiều đối tượng và hoàn cảnh khác nhau, đặc biệt là các công trình cải tạo hoặc xây dựng xen cấy.

– Chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá, kiến trúc và đô thị. Tiếp cận và khai thác các giá trị văn hoá phi vật thể làm tiền đề cho sáng tạo kiến trúc. Đây là yêu cầu đặt ra với các công trình nằm trong các khu vực bảo tồn, trong phạm vi bảo vệ của các di tích và tại các địa điểm nhạy cảm về văn hoá và xã hội.

Các phương thức trên đây đã manh nha hình thành trong thực tế và rất cần được khuyến khích phát triển để hình thành một xu hướng sáng tác theo tinh thần nhân văn trong tương lai, thay thế dần cho các xu hướng kiến trúc hiện thời có tính vay mượn, không đảm bảo yêu cầu bền vững. Trong sự vận động chung của thế giới, phát triển tính bền vững văn hóa kiến trúc là phù hợp với xu thế đề cao các giá trị nhân văn, với sự quan tâm ngày càng mạnh mẽ tới các hoạt động tinh thần. Xu thế này nằm trong quan hệ biện chứng với sự phát triển của yếu tố vật chất: khi đạt tới một ngưỡng nhất định, yếu tố vật chất sẽ giải thoát con người khỏi những toan tính thông thường để đến với đời sống văn hóa tinh thần phong phú hơn, chất lượng hơn, ở trình độ nhận thức cao hơn. Nói rằng vật chất là phương tiện và tinh thần là mục đích, thì phương tiện được hoàn thiện sẽ nâng mục đích lên tầm cao mới. Như vậy, để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về mặt văn hóa, kiến trúc cần phản ánh được giá trị đặc trưng của văn hóa chủ thể nói chung và tinh thần của phương thức ứng xử nói riêng, đồng thời cần phải “phát triển, làm mới và duy trì” các giá trị đặc trưng của văn hóa khách thể. Trong đó, tinh thần chủ thể là phương thức hoạt động sống của cộng đồng (kinh tế, sản xuất), sự duy trì các hình thức quan hệ (đặc biệt là thế ứng xử) và hình thành con người như một thực thể văn hoá trong cộng đồng đó. Giá trị tinh thần khách thể là tinh thần của các điều kiện địa lý, địa hình, điều kiện khí hậu, môi trường, cảnh quan xung quanh.

Tóm lại, thực tế tiến trình hội nhập cho thấy xu thế toàn cầu hoá và quốc tế hoá trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ là không thể đảo ngược, song phải gắn liền với định hướng đa dạng văn hóa để phát triển bền vững, tiếp cận được các thành tựu hiện đại mà vẫn tôn trọng bản sắc riêng của mỗi địa phương, mỗi cộng đồng. Vì vậy, phát triển tính bền vững văn hóa trong kiến trúc là hướng đầu tư cho tương lai lâu dài – “vì lợi ích trăm năm” của con người. Yếu tố văn hóa được phát huy và khai thác đúng hướng sẽ đóng vai trò quyết định lựa chọn phương thức tổ chức không gian và hình thức biểu đạt phù hợp cho kiến trúc Việt.

Tài liệu tham khảo:
1. James Stele (1997), Sustainable Architecture – Principles, Paradigms and Case Studies, Mc Grawhill.
2. Jason F. Mc Lenan (2004), Phylosophy of Sustainable Design: Future of Architecture, Ecotone, Kansas City, USA.
3. Jon Hawkes (2001), The Four Pillar of Sustainability: Culture’s Essential Role in Public Planning, The Humanities Publication.
4. Richard Stren, Rodney White and Joseph Whitney (Editor) (1992), Sustainable Cities – Urbanisation and the Environment in the International Perspective, Westview Press Inc, America.
5. Thaddeus C. Trzyna, chủ biên (2001), Thế giới bền vững – Định nghĩa và trắc lượng phát triển bền vững: Denis Goulet, Sự phát triển đích thực có phải là phát triển bền vững không?; David A. Munro, Bền vững là một điều khoa trương hay là một thực tế?, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, Hà Nội.
6. UIA (1999), Hiến chương Bắc Kinh, Tạp chí Kiến trúc, số 4 (78), tr 20-23.
7. UIA (1999), UIA Work Programme – Architecture of the Future, Japanese Institute of Architecture, Japan.
8. UNESCO (02/01/2001), Universal Declaration on Cultural Diversity, Paris.
9. UNESCO (20/10/2005), Convention on the Protection and Promotion of the Diversity of Cultural Expression, Paris.
10. UNESCO (14/9/2010), The Power of Culture for Development, Paris.
11. Vassilis Sgoustas (2001), Kiến trúc sư có trọng trách giữ gìn, phát triển nền văn hoá của nước mình, Tạp chí Kiến trúc, số 5 (91), tr.28.

TS.KTS Trần Quốc Thái – TS.KTS Nguyễn Trí Thành
Nguồn ảnh: Internet
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam