Quy hoạch nông thôn mới và câu chuyện tín ngưỡng

379

Trước ngọn gió đổi mới, chúng ta không thể giữ lại lối kiến trúc làng xã, các mẫu di tích lịch sử, di tích tâm linh cũ kỹ, bệ rạc. Tuy nhiên, không gian làng quê Việt Nam hôm nay tất yếu phải giữ lại được những nét đẹp nền nã, nhuần nhị cốt yếu trong cảnh quan, công trình kiến trúc cổ.

Là một nước nông nghiệp, người Việt đặc biệt sùng bái tự nhiên, sùng bái thần linh. Tín ngưỡng của người Việt cũng từ đó mà hết sức phong phú, đa dạng. Điều này cũng gắn liền với các hình thức tín ngưỡng dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ tứ pháp, thờ Thành hoàng làng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước.

Cùng với sự phát triển tất yếu của công cuộc đổi mới, đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao. Người dân ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi được tiếp xúc với các dịch vụ, phương tiện hiện đại… Tuy nhiên, song song với sự phát triển tích cực đó là những mặt hạn chế, tiêu cực đã và đang dần làm mai một các giá trị truyền thống văn hóa ở những vùng quê xưa nay vốn thanh bình. Quá trình đô thị hóa đã dần xóa bỏ đi các giá trị ấy. Không ít công trình tín ngưỡng như đền chùa bị tu sửa một cách chắp vá hoặc không đúng với kết cấu, bài trí… của kiểu kiến trúc cổ dân gian ban đầu.

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước trong việc tạo điều kiện cho việc tập trung đầu tư quy hoạch nông thôn mới đã mang đến cơ hội lớn để khôi phục những di tích tâm linh, tín ngưỡng này. Theo Thông tư 06 của Bộ Văn hóa – Thông tin quy định khu văn hóa cộng đồng của mỗi thôn, bản với 2.500m2 với đầy đủ chức năng của một khu sinh hoạt văn hóa thể thao cơ bản. Tuy nhiên, thực tế tại các địa phương đã tôn tạo các khu sinh hoạt cộng đồng với quy mô nhỏ hơn. Các khối bê tông vuông vức như hộp diêm với vô số kiểu kiến trúc chắp vá, sao chép, vay mượn cẩu thả; các nhà hội, nhà sinh hoạt cộng đồng, các đường làng, bờ rào, cổng ngõ được bê tông hóa thay thế các mái ngói rêu phong lẩn khuất dưới những hàng chè tàu, dâm bụt hay những lùm tre xanh mướt um tùm tỏa bóng. Trước kia làng quê hướng nội, được lật giở dần qua các nếp không gian khép với cái lõi là sân đình, chùa, đền, miếu. Nay cái lõi ấy dần chuyển thành không gian mở, tập trung ra các ngả đường làm nên thị trấn, thị tứ. Kiến trúc nông thôn, trong đó có các kiến trúc di tích tâm linh đang đứng trước những vấn đề về mô hình, quy hoạch, thiết kế, kiến trúc, tổ chức cuộc sống cộng đồng, duy trì môi trường cảnh quan, bảo vệ môi trường… mang tính thời sự và đặt ra những đòi hỏi, như cầu bức thiết không kém các đô thị.

Tổng thể không gian làng Hà Tây

Trước ngọn gió đổi mới, chúng ta không thể giữ lại lối kiến trúc làng xã, các mẫu di tích lịch sử, di tích tâm linh cũ kỹ, bệ rạc. Tuy nhiên, không gian làng quê Việt Nam hôm nay tất yếu phải giữ lại được những nét đẹp nền nã, nhuần nhị cốt yếu trong cảnh quan, công trình kiến trúc cổ, bởi đời sống tâm linh đối với làng quê Việt, người dân Việt dù là hôm qua hay hôm nay bao giờ cũng là một nhu cầu tự thân. Đời sống tâm linh làng xã chính những giá trị tinh thần thuần khiết, thiêng liêng đã được đúc kết, bảo tồn qua lớp thăng trầm của lịch sử nghìn năm của dân tộc; bởi vậy những di tích tâm linh tự bao đời vẫn giữ nguyên được sức lan truyền mạnh mẽ, gắn kết con người với nhau thành một thể thống nhất, do vậy, muốn xây dựng, quy hoạch nông thôn mới phải kể đến yếu tố xây dựng đời sống văn hóa tâm linh, gìn giữ và phát triển các di tích tâm linh, tín ngưỡng vốn có. Từ đó, vấn đề quy hoạch không gian làng xã nên có sự đầu tư nghiên cứu chuyên sâu, có tập huấn hướng dẫn, phổ biến các tiêu chí cơ bản, các mô hình mẫu… về hạ tầng, về không gian chung cho các công trình phúc lợi, công trình văn hoá, thể thao, đặc biệt là các di tích, đền đài… Chỉ như vậy việc quy hoạch nông thôn mới được “xã hội hoá” để nhân dân tham gia góp vào việc chuẩn bị không gian sống cho chính mình, trên cơ sở quy định chung, chuẩn hoá nhà nước về quy mô, tiêu chuẩn các công trình hạ tầng, công trình công cộng. Và chỉ như vậy, nông thôn mới được làm quy hoạch khi lực lượng kiến trúc sư không thể đông đảo tới mức “phủ sóng” cho hàng chục nghìn làng xóm, bản mường…

Cần giáo dục tuyên truyền cho người dân để họ có ý thức và kiến thức cần thiết khi lựa chọn mẫu mã nhà phù hợp với không gian làng xã. Nếu không sẽ có sự sao chép dễ dãi, chạy theo kiến trúc đô thị mà quên mất vẻ đẹp cần có của kiến trúc thôn quê, với rặng duối, bờ tre, cây đa, mái đình. Đối với nông thôn, ta không thể “áp đặt”, quy chuẩn một kiểu kiến trúc cho mọi ngôi nhà và không gian làng truyền thống, do mỗi vùng miền đều có những sắc thái riêng được tạo ra từ địa thế, tập quán sống của người dân bản địa. Vì vậy, việc thiết lập quy hoạch tổng thể cho không gian làng xã, trong đó có kiến trúc đình, chùa, miếu mạo dựa trên cơ sở thực tế từng địa phương, cũng như việc tìm ra mô hình kiến trúc nhà ở thực sự hợp lý cho nông thôn hiện đại, sẽ giúp cho không gian làng truyền thống tìm thấy được vị trí của mình trong sự phát triển tới tương lai.


Khuôn viên công trình tín ngưỡng mới xây dựng tại Kiến An – Hải Phòng

Họa sĩ Bùi Hoài Mai – người nhiều năm gắn bó, nghiên cứu về nông thôn cho rằng “Với cảnh quan, di sản, kiến trúc làng quê, không được quy hoạch khiên cưỡng, phải giữ lấy hệ thống ao hồ, phải có những điều tra tâm lý học, xã hội học trong nhân dân để nhận ra những biến đổi trong nhận thức, nhu cầu, khiếu thẩm mỹ”’. Còn theo TS Trịnh Hòa Bình – Viện Xã hội học thì tố chất, thuộc tính, các truyền thống trong cộng đồng nông thôn rất cần được phát huy trở lại. Như vậy, cùng với những vành đai xanh gồm cảnh quan tự nhiên và hệ thống cây xanh, mặt nước sẽ phải tăng cường phát triển, “vành đai truyền thống” có thể là công cụ hữu hiệu để giữ gìn văn hóa làng khi quy hoạch chung của Thủ đô đi vào thực hiện. Do đó, nên chăng việc quy hoạch, tổ chức các khu văn hóa, khu thể thao cơ bản thôn, bản cần có sự kết hợp hài hòa với các điểm tâm linh của mỗi địa phương, việc sử dụng các khu sinh hoạt cộng đồng cần đúng mục đích, nhất là việc quy hoạch phải bắt nhịp được với mong muốn, ước vọng tâm linh của mỗi vùng đất, mỗi thôn làng để vẫn phát triển theo nhịp đi của quá trình đô thị hóa nhưng đồng thời vẫn giữ được nét thâm nghiêm, cổ kính có tự bao đời của những đền thờ, miếu mạo vốn là điểm nhấn hết sức quan trọng tạo nên quần thể không gian kiến trúc mang đậm bản sắc dân tộc của làng quê Việt Nam. Đây là ý tưởng được 80% người dân các xã ủng hộ nằm trong đồ án quy hoạch nông thôn mới của tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, ý tưởng này cũng vấp phải vướng mắc trong việc vi phạm vào chốn linh thiêng, thờ cúng, nên đòi hỏi phải có sự ngiên cứu, sắp xếp hợp lý và đảm bảo tôn trọng “tính lịch sử” vốn có của các thực thể này.

Việc tổ chức các loại hình văn hóa gắn liền với yếu tố tâm linh và các làng nghề truyền thống tại các địa phương không những góp phần mang lại cho người dân cách thức tiếp cận với cội nguồn, với lịch sử của cha ông, của quê hương, xứ sở một cách sinh động và thiết thực, mà còn tạo ra môi trường phát triển du lịch tâm linh – làng nghề, đưa hình thái này trở thành một sản phẩm du lịch văn hoá độc đáo hấp dẫn, mang đậm bản sắc vùng miền, góp phần vào việc hình thành nên môi trường du lịch lành mạnh nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế của địa phương.

Ths.KTS Đặng Xuân Tiến – Trung tâm Quy hoạch đô thị nông thôn Miền Trung – VIAP
Nguồn ảnh : Internet
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam