TP.HCM: “Bốc thuốc” ngăn ngừa biến đổi khí hậu

77

Mới đây, Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam phối hợp với UBND TP.HCM tổ chức Hội thảo “Quy hoạch xây dựng TP.HCM với vấn đề biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế”. Tại đây, các chuyên gia trong nước và quốc tế đã nêu ra những vấn đề cần phải chuẩn bị khi TP.HCM bắt đầu phải đối mặt với biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (NBD), trong đó, đề cập tới vai trò của công tác quy hoạch và quản lý đô thị đối với sự phát triển của TP.HCM.

Bắt bệnh

Nghiên cứu tình trạng ngập lụt của TP.HCM trong nhiều năm qua, hầu hết các chuyên gia đều khẳng định: Bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì quá trình phát triển đô thị của TP.HCM còn thiếu hợp lý, không đồng bộ khiến TP.HCM lâm vào cảnh ngập lụt tại nhiều nơi và có nguy cơ mất phần lớn diện tích đất khi BĐKH và NBD.

Tình trạng ngập úng diễn ra thường xuyên ở TP Hồ Chí Minh

Thực tế, trong những năm gần đây TP.HCM đã nỗ lực đầu tư nhiều công trình xây dựng cho hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường cũng như triển khai hàng loạt các dự án thủy lợi tại nhiều điểm của TP nên đã giúp cho khu vực trung tâm TP giảm điểm ngập. Trung tâm điều hành Chương trình chống ngập nước TP cho biết: Đến nay số điểm ngập do mưa giảm từ 126 điểm (năm 2008) xuống còn 31 điểm (2011); số điểm ngập do triều cường giảm từ 95 điểm (2008) đến nay còn 9 điểm.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của ThS.KTS Lưu Đức Cường – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Quy hoạch môi trường đô thị – nông thôn (Bộ Xây dựng) thì: Nguyên nhân chủ yếu khiến TP.HCM bị ngập lụt là do địa hình và điều kiện khí tượng thủy văn, hải văn; Do quá trình đô thị hóa không hợp lý, công tác quản lý đô thị còn hạn chế và ý thức của người dân về vấn đề này chưa cao.

Ông Cường phân tích: Phía nam TP là nơi có nền đất yếu và thấp nhưng lại được đầu tư mạnh mẽ, phát triển tự phát tại hai bên sông Sài Gòn về phía thượng lưu khiến cho hàng nghìn héc ta diện tích chứa nước bị biến mất, phần lớn ruộng vùng ven đô biến thành đô thị… Cùng với đó là sự biến mất của 47 con kênh (16,4ha), 7,4ha hồ Bình Tiên (một trong những hồ chứa nước quan trọng nhất của khu vực) cũng khiến cho TP bị ngập lụt khi triều cường lên hoặc khi mưa nhiều hay do lũ từ lưu vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn trực tiếp đổ về.

Ông Lưu Đức Cường làm bài toán cho quá trình đô thị hóa, kết quả cho thấy chỉ trong vòng 8 năm (2002 – 2009), hệ thống chứa nước của hồ, ao và vùng ngập nước trong TP đã giảm gần 10 lần. Từ năm 1989 – 2006, hệ thống bê tông hóa tăng từ hơn 6 nghìn ha lên 24.500ha (305,5%). Việc bê tông hóa này không chỉ làm cho giảm khả năng thấm, giảm lượng nước ngầm và gây lún cho đô thị mà còn tạo nên sự đảo nhiệt khiến cho số lượng và quy mô những cơn mưa tăng lên. Trong khi đó, hệ thống thoát nước không theo kịp tốc độ đô thị hóa và diện tích cây xanh tại các công viên nội đô giảm gần 50%…

Kê thuốc

Trận lụt lịch sử tại Bangkok (Thái Lan) năm 2011 được nhiều chuyên gia coi là bài học nhãn tiền cho đô thị TP.HCM. Từ đó vai trò điều tiết lũ ở thượng nguồn, niềm tin vào hệ thống đê bao cùng hàng trăm trạm bơm, hệ thống điều tiết tại chỗ và phân lũ… đã được các chuyên gia nghiên cứu kỹ.

Ngập lụt tại Bangkok (Thái Lan) năm 2011

TS Lưu Đức Cường khẳng định: Cần xem xét lại vai trò và cách tiếp cận trong quy hoạch và quản lý đô thị vì khi đã xác định rõ nguyên nhân gây ngập lụt do đô thị hóa không hợp lý thì phải giải quyết bằng quy hoạch đô thị và thoát nước sinh thái, tổ chức hệ thống phân tán là nguyên tắc chính cho giải pháp thoát nước.

Với thực trạng bê tông hóa và hệ thống thoát nước của TP.HCM hiện nay, ông Cường cho rằng: Phải đổi mới chiến lược thoát nước từ hình thức cho nước mưa thoát thẳng theo hệ thống kênh, cống ngầm… bằng hệ thống thoát nước đô thị bền vững theo hướng tôn trọng các nguyên lý và chức năng của hệ sinh thái tự nhiên để tích hợp tạo nguồn nước dùng cho việc làm sạch hệ thống sinh thái. Bên cạnh đó, cần phải quy hoạch tổng thể cấp vùng; lựa chọn không gian phát triển đô thị để xác định khu vực cần kiểm soát sự đô thị hóa… Thiết kế công trình; tiêu chuẩn thiết kế cũng rất cần được quy định và giám sát chặt chẽ. Mọi công trình đều phải tuân thủ hướng tiếp cận mềm dẻo, tôn trọng tự nhiên, cân bằng giữa bảo vệ – thích nghi – rút lui phù hợp với đặc điểm của từng khu vực. Để thực hiện những công việc này, quan trọng nhất là phải nhìn nhận lại quá trình tiếp cận trong cách làm quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch chuyên ngành thoát nước nói riêng.

Cũng đề cao vai trò của công tác quy hoạch đối với diễn biến của BĐKH và NBD, PGS.TS Lê Hồng Kế – Viện Nghiên cứu Môi trường và Quy hoạch phát triển bền vững đề xuất 5 nhóm giải pháp cho quy hoạch chung của TP, đáng chú ý là giải pháp nâng cốt nền xây dựng cục bộ theo quy hoạch chung TP lên 10 – 20cm so với mức tiêu chuẩn cho phép; Khoanh vùng nhằm đánh giá và xác định chính xác vùng trũng (rốn nước) để tạo nên các hồ chứa quy mô khác nhau vừa khắc phục lũ, vừa tạo cảnh quan cải thiện môi trường; Quy hoạch không gian xanh và mặt nước nhằm giảm thiểu những tác động của BĐKH…

Ông Kế ủng hộ quan điểm của Cty Nikken Sekkei (Nhật Bản) trong phương án điều chỉnh quy hoạch chung TP.HCM đến năm 2025, bởi giải pháp tạo nhiều hồ sẽ vừa điều hòa nước, vừa tạo cảnh quan thiên nhiên, đồng thời góp phần cải thiện vi khí hậu cho TP.HCM. Tuy nhiên, ông cũng lo lắng cho khu vực sinh quyển Cần Giờ, bởi đến nay các nhà tư vấn vẫn chưa có những giải pháp thích hợp. Vì vậy cần có những nghiên cứu kỹ hơn nhất là về công tác san nền tiêu thủy trong quy hoạch chung để có sự phát triển bền vững.

Mai Thanh – Bùi Hiền
Theo Báo xây dựng