Độ rung từ bài viết “Học kiến trúc: nhiều điều cần bàn luận”

219

Bài viết Học kiến trúc: nhiều điều cần bàn luận của KTS Vũ Hoàng Sơn trên KT&ĐS số Xuân vừa qua đã thu hút sự quan tâm trong giới chuyên môn. Những ý kiến phản hồi dưới đây phần nào cho thấy tính cần thiết của việc xác định triết lý giáo dục – nhất là giáo dục chuyên ngành – trong bối cảnh dạy và học đại học hiện nay.

ThS.KTS Nguyễn Huy Văn, giảng viên đại học Kiến trúc TP.HCM:

Trước tiên, bài viết cho thấy tác giả có tâm với nghề. Nội dung bài viết có đủ độ sâu và tính khái quát từ công tác tuyển sinh đến chương trình, định hướng mô hình đào tạo, quan niệm về những kiến thức cần có ở một kiến trúc sư trong xã hội đương đại cũng như hoạt động nghề nghiệp sáng tạo. Nhiều ý kiến đưa ra có sự phân tích và liên hệ nhiều nguồn thông tin, so sánh đối chiếu với thực tế đào tạo và hành nghề kiến trúc sư ở ta và thế giới. Điều tâm đắc nhất về bài viết là nội dung về tính tiên phong và trách nhiệm cao cả của trường dạy kiến trúc với sản phẩm đào tạo là đội ngũ kiến trúc sư và xa hơn là cả nền kiến trúc – đô thị nước nhà, trong đó “người thầy” với tâm huyết và trách nhiệm trong việc truyền thổi niềm đam mê và định hướng đúng đắn cho mỗi thế hệ sinh viên.

                          Một buổi  học vẽ của sinh viên kiến trúc

Tuy nhiên, không tránh khỏi một số nội dung thể hiện quan điểm hoặc cách tiếp cận chủ quan của tác giả. Vấn đề kiến trúc sư phải tích luỹ cho mình “văn hoá kiến trúc” (mà không phải chỉ kiến trúc mà bất kỳ sự sáng tạo của ngành nghệ thuật nào cũng tựa trên nền tảng vững chắc là cái “phông” văn hoá của mình) là điều dĩ nhiên, nhưng việc tác giả cho rằng tuyển sinh kiến trúc không cần đến năng khiếu vẽ thì theo tôi có lẽ chưa thoả đáng. Bởi vì việc cảm nhận cái đẹp hay “nghệ thuật” là cả quá trình, không thể đòi hỏi khả năng đó ở một học sinh vừa tốt nghiệp phổ thông, đó là chưa nói đến sự khác biệt trong nền giáo dục của các quốc gia trong việc cho học sinh tiếp cận các loại hình nghệ thuật. Như vậy, nền tảng đầu tiên để đánh giá tố chất của một người học nghệ thuật ở đây là kiến trúc – sẽ là gì nếu không phải là tư duy cơ bản về mỹ thuật?

Cũng trên quan điểm đó, tác giả cho rằng “Le Corbusier là kiến trúc sư vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, nhưng những hình vẽ của ông không hề đẹp tí nào” để minh chứng. Điều đó không tránh khỏi sự bao biện. Thứ nhất, các bản phác tay của Le Corbusier về các công trình ông thiết kế (như nhà thờ Ronchamp) rất ấn tượng với mọi thế hệ kiến trúc sư được học không hề vì bản vẽ đó thể hiện đẹp mắt hay không. Thứ hai, việc rèn luyện nét vẽ, khả năng vẽ tay của kiến trúc sư là để phân tích, phác thảo và truyền tải ý tưởng về mặt tư duy phân tích, xét đoán sự sáng tạo về không gian, chứ không phải để thể hiện một bức tranh theo kiểu hội hoạ tả thực. Chưa bao giờ lý luận đào tạo kiến trúc nói khác quan niệm này. Do đó, quan niệm nét vẽ đánh giá khả năng sáng tạo vốn sai lầm và tác giả tìm mọi cách phản biện một quan niệm không chính thống như vậy, có thể chỉ là biểu hiện ở nơi nào đó, trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, e rằng chưa thuyết phục.

Bên cạnh đó, đánh giá đồ án kiến trúc là cả quá trình nghiên cứu, làm việc và sáng tạo nhưng bất kỳ một “quá trình” nào cũng được xây dựng trên yêu cầu kết quả cuối cùng (mục tiêu, mục đích, hiệu quả tạo dựng được) nên không thể xem nhẹ sản phẩm hoàn thiện của quá trình đó. Quá trình và kết quả phải được đánh giá ở một mức độ tương quan hợp lý, tiêu chí và tỷ lệ này có thể thay đổi trong từng đồ án. Ví dụ với các bài tập dạng thiết kế nhanh trong một ngày thì phần “kết quả” luôn quan trọng hơn, nhưng thi phương án thì hồ sơ phải nộp trong thời hạn nhất định và khuôn mẫu thể hiện theo quy định nào đó. Tất cả đều rõ ràng và người tham gia (sinh viên kiến trúc, kiến trúc sư) phải hiểu luật chơi để biết ứng xử cho phù hợp, chứ không thể lý sự rằng “tôi có quá trình nghiên cứu rất sâu sắc, nhưng vì thể hiện không bắt mắt nên tôi bị đánh giá sai” được.

ĐH Kiến trúc Hà Nội
ĐH Kiến trúc Hà Nội

Hiện nay, trong nhiều môn học lý thuyết và các các giai đoạn của nhiều đồ án ở đại học Kiến trúc TP.HCM, việc thuyết trình của sinh viên (cá nhân/ nhóm) là phổ biến, chứ không phải như tác giả cho rằng chỉ được “đứng biện luận duy nhất một lần trong cuộc đời sinh viên của mình khi bảo vệ đồ án tốt nghiệp”.Thực tế hành nghề cho thấy, bản chất việc thuyết trình ý tưởng là tìm đến sự chia sẻ, đồng cảm giữa người thiết kế với công chúng/ chủ đầu tư về sản phẩm sáng tạo (thông qua một “hội đồng” được đại diện gồm nhiều đối tượng khác nhau) chứ không phải “người kiến trúc sư phải có được khả năng biện luận giỏi để bảo vệ những ý tưởng của mình”. Hay nói cách khác, bản thân đồ án thiết kế của anh mà đã có vấn đề thì việc anh tranh luận có giỏi đến đâu cũng chỉ là sự bao biện mà thôi.

Xét toàn diện, nội dung bài viết có đủ độ sâu và tính khái quát từ công tác tuyển sinh đến chương trình, định hướng mô hình đào tạo, quan niệm về những kiến thức cần có ở một kiến trúc sư trong xã hội đương đại cũng như hoạt động nghề nghiệp sáng tạo. Những bài viết như vậy rất cần thiết, rất nên được xem là trao đổi học thuật trong giới nghề nghiệp, với mục tiêu là tìm kiếm hướng đi đúng cho công tác đào tạo kiến trúc sư cũng như sự liên thông giữa nhà trường và xã hội.

Bùi Đức Vinh, sinh viên đại học Kiến trúc TP.HCM:

Bài viết cho tôi cái nhìn rõ nét hơn về vai trò xã hội của kiến trúc cũng như thực tế việc học nghề kiến trúc cần phải trau dồi các kiến thức về xã hội như thế nào. Tôi cũng trăn trở nhiều về vấn đề “đồ án kiến trúc phải mang tính thực tiễn hơn”, hay nói cách khác là mối quan hệ giữa thực tiễn và lý thuyết trong dạy và học kiến trúc là một sự ràng buộc chặt chẽ, qua lại với nhau.

Bay bổng không thể thiếu thực tế, và ngược lại, thực tế không có nghĩa là triệt tiêu mọi sáng tạo. Vấn đề là thông qua các giáo viên, chúng tôi, những người học nghề kiến trúc sư cần thấy được rõ nét hơn những mảng sáng tối của nghề nghiệp mình sẽ tham gia sau này khi vào đời, chứ không chỉ là những lý thuyết đơn thuần và kinh điển về kiến trúc.

Trần Quang Tuyến, sinh viên đại học Kiến trúc TP.HCM:

Các vấn đề bài viết đưa ra, theo tôi là đã chạm vào câu chuyện: học kiến trúc hiện nay là khá thiếu thực tế! Không chỉ là chuyện sinh viên được đi học ở ngoài thực tế ít ỏi, mà còn là ở mức độ hàm lượng kiến thức thực tế mà giáo viên truyền đạt cho sinh viên cũng không thể cân bằng với khối lượng lý thuyết.

Qua bài viết của KTS. Vũ Hoàng Sơn, tôi cũng hiểu thêm về việc các môn học lý luận và lịch sử kiến trúc có tầm quan trọng như thế nào đối với một sinh viên kiến trúc. Không biết về hôm qua thì khó có thể làm được những công trình tốt cho hôm nay và ngày mai. Dẫu biết là mỗi người thầy dạy kiến trúc đều có những quan niệm, phong cách, phương pháp riêng về nghề nghiệp, nhưng sinh viên không phải bao giờ cũng may mắn gặp được những quan niệm tiên phong, có tính khai mở hay định hướng đúng cho mình. Theo tôi giảng viên kiến trúc nên làm người hướng dẫn, đồng hành cùng quá trình sáng tạo của sinh viên, chứ không phải là hạn chế ý tưởng sáng tạo hay đánh giá chủ quan.

Đỗ Thị Vân, sinh viên đại học Kiến trúc TP.HCM:

Tôi thấy những vấn đề bài viết đưa ra dù có đúng đắn đến đâu cũng nên tiếp nhận dưới dạng “tài liệu tham khảo”, vì sự so sánh cùng một vấn đề giữa môi trường xã hội, giáo dục ở châu Âu luôn khác với điều kiện Việt Nam, cũng như các tính chất thuộc về con người vốn có của mỗi dân tộc mà không thể cho rằng ai hay hơn ai.

Cá nhân tôi thì cho rằng việc học kiến trúc theo nhóm – theo xưởng, mà trong bài viết đề cập đến là hình thức Atelier, sẽ hướng người học đến môi trường làm việc chuyên nghiệp trong tương lai hơn. Khi ra trường thì ai cũng biết là nghề kiến trúc không thể thiếu làm việc nhóm, nhưng khi học thì từng sinh viên cứ “đánh vật” đơn độc với bài của mình và thiếu sự tiếp nạp đầy đủ các kỹ năng cần có để có thể tự tin hành nghề.

Theo SGTT