Kiến trúc xanh – Cách tiếp cận từ bài học kiến trúc truyền thống Việt Nam

319

Kiến trúc xanh là kiến trúc đảm bảo điều kiện tiện nghi đầy đủ nhất cho con người sống, sinh hoạt và làm việc trong đó nhưng lại tiêu phí năng lượng và tài nguyên ít nhất, thải ra ít chất thải nhất, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và đảm bảo được mối quan hệ hài hoà giữa con người và thiên nhiên.

1. Khái niệm

Kiến trúc xanh là kiến trúc mà toàn xã hội và người sử dụng có thể sử dụng nó theo kiểu thân thiện với môi trường và hiệu quả các nguồn vật liệu. Vật liệu xây dựng có thể được tái sử dụng khi công trình bị phá bỏ. Mái và tường nhà nên được bao phủ bởi cây xanh nhằm tăng cường không gian xanh.

Kiến trúc xanh cũng cần quan tâm đến yếu tố đa dạng sinh học. Sự đa dạng sinh học của đô thị phải được đảm bảo với các hành lang cư trú tự nhiên, nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên nhiên để nghỉ ngơi giải trí. Cây xanh, mặt nước cũng cần được sử dụng trong các không gian.

Kiến trúc xanh phải đảm bảo khai thác tối đa các nguồn mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứng nhu cầu nước của người sử dụng, phải để dành mặt đất cho không gian xanh. Tận dụng triệt để thông gió chiếu sáng tự nhiên, tránh dùng hệ thống điều hoà sẽ làm cho điều kiện vi khí hậu của không gian sống trở nên tiện nghi, sự chênh lệch nhiệt độ bên trong và bên ngoài nhỏ hạn chế sự giãn nứt của kết cấu, thông thoáng tự nhiên xuyên phòng theo chiều ngang và chiều đứng sẽ giúp cho độ ẩm giảm, tránh đọng sương, các bề mặt vật liệu sẽ không bị rêu mốc, ẩm thấp và dẫn tới không bị dột… Mặt khác cảm giác dễ chịu khi nơi ở được thông thoáng tự nhiên và được tiếp xúc với thiên nhiên sẽ nâng cao đáng kể chất lượng tiện nghi vi khí hậu trong nhà…

Kiến trúc xanh là kiến trúc đảm bảo điều kiện tiện nghi đầy đủ nhất cho con người sống, sinh hoạt và làm việc trong đó nhưng lại tiêu phí năng lượng và tài nguyên ít nhất, thải ra ít chất thải nhất, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và đảm bảo được mối quan hệ hài hoà giữa con người và thiên nhiên

2. Hiện trạng về kiến trúc xanh tại Việt Nam

– Ngày 3/9/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 102/2003/NĐ-CP về “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”. Trong nội dung của Nghị định có đề cập đến vấn đề sử dụng năng lượng TK&HQ trong các công trình xây dựng.

– Ngày 17/11/2005, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ký Quyết định số 40/QĐ-BXD ban hành Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng có hiệu quả”. Quy chuẩn này là văn bản pháp quy kỹ thuật, quy định yêu cầu kỹ thuật tối thiểu bắt buộc phải tuân thủ để sử dụng năng lượng có hiệu quả khi thiết kế xây dựng mới hay cải tạo các công trình thương mại, trụ sở cơ quan hành chính nhà nước, nhà ở cao tầng, văn phòng, khách sạn lớn có sử dụng ĐHKK, thiết bị sử dụng nhiều năng lượng.

– Ngày 14/4/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 79/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng TK&HQ. Toàn bộ Chương trình có 6 nhóm nội dung chính, trong đó Bộ Xây dựng được giao chủ trì thực hiện nhóm nội dung 5 về “Sử dụng năng lượng TK&HQ trong các toà nhà”. Nhóm nội dung 5 có 02 đề án:

* Đề án “Nâng cao năng lực và triển khai hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong công tác thiết kế xây dựng công trình xây dựng cao tầng và thương mại”.

* Đề án “Xây dựng mô hình và đưa vào hoạt động có nề nếp công tác quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các công trình xây dựng”.

– Ngày 14/3/2008, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 377/QĐ-BXD về Chương trình sử dụng năng lượng, tài nguyên TK&HQ của ngành xây dựng.

– Ngày 1/1/2008 Hội đồng Công trình xanh Việt Nam thuộc Quĩ các đô thị xanh của Hoa Kỳ đã chính thức được phép hoạt động ở Việt Nam. Hội đồng Công trình xanh Việt nam đã phối hợp với trường Đại học Kiến trúc Hà Nội triển khai xây dựng tiêu chuẩn đánh giá các Công trình xanh tại Việt Nam – trong đó tiêu chí quan trọng đầu tiên cần quan tâm là tiêu chí tiết kiệm năng lượng.

– Trong thời gian gần đây đã có một số dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, một số tài liệu biên soạn, nghiên cứu về “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong công trình xây dựng”, dự án “Nâng cao hiệu quả sử dụng sử dụng năng lượng trong các doanh ngjhiệp vừa và nhỏ”, cuộc thi “Toà nhà hiệu quả năng lượng”… Tuy nhiên việc nghiên cứu về kiến trúc xanh ở Việt Nam chủ yếu chỉ tập trung ở các công trình có quy mô nhỏ bé, hầu như chưa có các nghiên cứu kiến trúc xanh cho các công trình cao tầng, các công trình có qui mô lớn hay quần thể kiến trúc

3. Bài học kinh nghiệm từ kiến trúc truyền thống Việt Nam

Sinh ra và lớn lên trong một môi trường khí hậu nóng ẩm, từ xa xưa ông cha ta đã có nhiều kinh nghiệm xử lý kiến trúc truyền thống từ chọn hướng xây dựng ngôi nhà ở, bố cục và tổ chức không gian khuôn viên đến lựa chọn vật liệu xây dựng, đào ao hồ, trồng cây xanh….để xử lý ngôi nhà của mình phù hợp với điều kiện tự nhiên nhằm tạo một cuộc sống thích nghi nhất phù hợp với tâm sinh lý của người Việt trong điều kiện kinh tế cho phù hợp. Những kinh nghiệm này không những giúp người dân cải thiện được điều kiện vi khí hậu mà còn góp phần tích cực sử dụng tiết kiệm năng lượng trong cuộc sống. Vì vậy có thể xem kiến trúc dân gian truyền thống là kiến trúc xanh.

3.1. Bố cục, tổ chức không gian khuôn viên ngôi nhà truyền thống

Nhà ở truyền thống Bắc bộ ( Ảnh minh họa )

Bố cục khuôn viên ngôi nhà truyền thống cũng có những nét riêng, đặc sắc rất Việt Nam, đó là một quần thể bao gồm những ngôi nhà nhỏ, giản dị, được tổ chức, bố cục phân tán vây quanh ngôi nhà chính với không gian đệm là cái sân rộng gắn liền trước ngôi nhà chính. Cách sắp xếp nhà ở, tổ chức sân vườn, ao cá, chuồng trại chăn nuôi, công trình sản xuất phụ….trong ngôi nhà truyền thống đều mang đậm bản sắc, hài hoà với cảnh quan thiên nhiên đã tạo nên được một bố cục tương đối hoàn chỉnh, cân bằng và ổn định. Cái sân trong nhà ở dân gian Việt Nam đã có nhiều tác dụng rõ rệt: Đó là nơi sản xuất, phơi phóng, là nơi tạo ra những luồng gió đối lưu thông thoáng cho ngôi nhà đồng thời là nơi đều tổ chức hội họp, ma chay, cưới hỏi, giỗ lạt….

Sân phơi đa chức năng thường nằm ngay trung tâm của bố cục quần thể khuôn viên và chúng ta có thể xem nó như là “trái tim- lá phổi” của vùng nông thôn nhiệt đới nóng ẩm, vì đó không những là nơi diễn ra các sinh hoạt chủ yếu của một gia đình mà còn làm nhiệm vụ điều hoà, cải tạo điều kiện vi khí hậu góp phần tích cực phục hồi sức khoẻ cho người dân sau một ngày lao động vất vả, nặng nhọc. Tương phản nhiệt độ giữa mặt sân đã được nung nóng và bóng mát vườn cây đã góp phần tạo nên dòng khí mát đối lưu hai chiều trong những ngày hè nóng bức. Từ những kinh nghiệm tổ chức sân vườn này đã được ông cha ta áp dụng vào trong ngôi nhà ống phố cổ và ngày nay đã được các nhà qui hoạch, thiết kế vận dụng sáng tạo trong nhà ở có giếng trời, đã góp phần nâng cao tiện nghi sống cho người dân đô thị hôm nay cũng như đã góp phần giúp họ tiết kiệm trong sử dụng năng lượng.

3.2. Chọn hướng xây dựng ngôi nhà truyền thống

Chọn hướng xây dựng ngôi nhà là một việc làm quan trọng, việc làm trước tiên của người dân Việt Nam khi xây dựng ngôi nhà ở. Như chúng ta đã biết khí hậu nước ta mùa hè ẩm ướt có gió mát thổi từ biển vào (gió nam, đông nam), mùa đông khô có gió lạnh từ lục địa (gió bắc, đông bắc). Để đón được gió mát của mùa hè và tránh được gió rét của mùa đông, nhà ở nhân dân ta thường chọn quay về hướng Nam hay Đông Nam. Mặt khác nhà quay về hướng này sẽ tránh được nắng tây xiên khoai bất lợi và chịu được gió bão lớn. Các công trình phụ được tổ hợp quây quanh công trình chính, ôm lấy cái sân rộng chừng vài chục mét vuông. Các công trình phụ hầu như được ẩn mình trong các vòm cây xanh của khu vườn, như cố tình nhờ sự chở che, đùm bọc của cây lá để chống chọi với gió bão, đồng thời tranh thủ tận hưởng luồng gió mát và bầu không khí trong lành từ những lùm cây này. Những kinh nghiệm về giải pháp tổ chức sân vườn như “ao trước – vườn sau, chuối sau – cau trước”, không những đã có giá trị về mặt tổ chức cảnh quan khuôn viên ngôi nhà ở mà còn thể hiện được tính khoa học trong kinh nghiệm chống nóng bức, làm mát ngôi nhà, cải thiện điều kiện vi khí hậu, tạo được môi trường cư trú thích nghi, góp phần tiết kiệm sử dụng năng lượng.

3.3. Tổ chức cây xanh, mặt nước

Từ xưa tới nay, cây xanh mặt nước bao gồm mảnh vườn, cái ao đã trở thành một yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong bố cục khuôn viên truyền thống của người dân đất Việt chúng ta.

Ao có thể xem như một nhân tố cơ bản tạo nên môi trường sống của người dân, đặc trưng cho hệ sinh thái nhà ở thôn xóm. Ao đã giúp người dân cải tạo địa hình khu đất, giúp cho việc tiêu nước được nhanh chóng, chống lầy lội, ngập úng đồng thời là nguồn dự trữ nước để tưới cây, trồng trọt và cũng là phương tiện hữu hiệu góp phần cải tạo điều kiện vi khí hậu, cải thiện điều kiện kinh tế gia đình. Vườn và ao trong khuôn viên gia đình nông dân đã trở thành một hệ cân bằng sinh thái (Vườn – Ao – Chuồng). Ao đã góp phần tích cực trong bố cục khuôn viên của ngôi nhà, thông thường ao đặt ở phía trước hay bên cạnh sườn ngôi nhà chính, cạnh lối ngõ vào sân, một mặt bố cục này thuận lợi cho công việc tưới cây, rửa chân tay khi làm đồng về, mặt khác khi ao đặt đầu gió sẽ tạo điều kiện thông gió cho sân, các phòng ngủ cũng như các bộ phận khác của ngôi nhà.

Cùng với ao, vườn cây cũng là nhân tố quan trọng – cấu thành bố cục khuôn viên nhà ở truyền thống. Vườn cây đã góp phần tích cực chống trả bão lụt tạo cho ngôi nhà có một môi trường vi khí hậu thuận lợi: Mùa hè cho bóng mát, mùa đông che chắn gió lạnh. Mặt khác vườn cũng đã góp phần cải thiện điều kiện kinh tế cho người dân.

Ao vườn kết hợp với nhau tạo nên điều kiện tiện nghi cho môi trường sống nhất là trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như nước ta. Chúng đã hút bớt năng lượng nhiệt và bức xạ, tạo ra một không khí trong lành, mát mẻ (cây xanh có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời 40 – 45%, không khí nóng thổi qua thảm cỏ xanh nằm trong bóng mát cây xanh có thể hạ thấp nhiệt độ 2-30C. Cây xanh còn có tác dụng lọc bụi, làm giảm độ ô nhiễm không khí từ 25 – 40%, ngăn cản được tiếng ồn…).

Vào những ngày nóng bức, sự chênh lệch nhiệt độ và áp suất giữa không khí trên mặt sân bị nung nóng và trong bóng mát của vườn cây đã góp phần tạo ra những luồng gió “đối lưu” từ sân, vườn, nhà với nhau, có tác dụng cải tạo điều kiện vi khí hậu trong khuôn viên ngôi nhà ở truyền thống cũng như trong toàn bộ thôn xóm.

Ngôi nhà vườn ở xứ Huế cũng có những nét đặc trưng riêng. Nhà và vườn là hai yếu tố tạo nên môi trường sống đã gắn bó lâu đời với người dân xứ sở này. Quanh khuôn viên của các hộ gia đình ở đây được rào bằng những hàng cây phía trước thường rào bằng cây chè tàu, dâm bụt, ô rô…. được cắt xén rất công phu, cẩn thận, vừa có tác dụng ngăn tầm nhìn, vừa tạo điều kiện thông thoáng dễ dàng, đón gió mát vào nhà. Phía sau nhà thường trồng bụi tre gai dày, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vừa để chắn gió bất lợi thổi từ phía sau đến. (Hình 3)

3.4. Cấu trúc tường mái

Nước ta có điều kiện khí hâu khắc nghiệt, mùa hè nắng nóng, lượng bức xạ mặt trời lớn, miền Bắc mùa đông lạnh (nhất là các tỉnh miền núi phía bắc), độ ẩm cao. Để khắc phục vấn đề này ông cha ta trên mỗi vùng khác nhau của đất nước đã có những kinh nghiệm riêng trong việc sử dụng vật liệu, cấu trúc tường, mái chắn mưa nắng…

– Vùng Đông Bắc có mùa đông lạnh ngắt, có nơi có tuyết rơi, có sương muối vì vậy ngôi nhà cổ truyền thống ở đây là nhà trình tường đất dày 40cm, nhà mở ít cửa và cửa sổ thường có kích thước nhỏ. Ngôi nhà này rất đặc trưng, mùa hè thì mát mẻ, mùa đông thì ấm áp. Ngoài ra người dân nơi đây còn sử dụng loại nhà sàn để tránh ẩm mốc, tránh lũ lụt, thú dữ.

– Nhà ở dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, ngoài việc lựa chọn hướng nhà, ông cha ta còn chú ý kết hợp với các loại hình thức che chắn khắc như: trồng cây, treo mành che, dựng các tấm phên dại… để ngăn chặn bức xạ mặt trời mùa hè, che chắn gió lạnh mùa đông. Ngôi nhà luôn luôn được thoáng đãng, chống được ẩm mốc.

– Nhà ở dân gian miền Trung hay ở đồng bằng sông Cửu Long thường có loại tường mỏng: vách đan bằng tre, nứa, gỗ hay bằng đất trộn rơm trát lên khung tre. Với loại cấu tạo tường này thì vào buổi trưa thường bị bức xạ mặt trời xâm nhập dễ dàng nhưng lúc xế chiều nó lại tạo điều kiện cho khí nóng thoát ra khỏi nhà một cách nhanh chóng, làm cho ngôi nhà chóng mát hơn.

4. Tiêu chí của mô hình kiến trúc xanh

– Có quy hoạch, lựa chọn địa điểm xây dựng, chọn hướng công trình hợp lý. Bảo vệ hệ thống sinh thái, giảm bớt tác hại đến môi trường xung quanh. Đáp ứng yêu cầu tối đa chiếu sáng và thông gió tự nhiên.

– Sử dụng vật liệu xây dựng từ tự nhiên, đặc biệt là các vật liệu xây dựng địa phương truyền thống. Tái sử dụng nguyên vật liệu, năng lượng tối đa. Hạn chế việc sử dụng các phương tiện, kỹ thuật tiêu tốn năng lượng.

– Ưu tiên tối đa cho việc sử dụng các nguồn năng lượng tự nhiên (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, địa nhiệt…). Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

– Giảm thiểu chất thải, khí thải, nước thải.

– Đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

– Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

– Sử dụng cây xanh mặt nước như là một nhân tố tạo cảnh quan môi trường, làm sạch không khí. Bố trí cây xanh ở những nơi có thể, biến vỏ bao che (tường, mái nhà…) thành không gian xanh. Mở rộng diện tích mặt nước.

– Phát huy các giá trị văn hoá kiến trúc truyền thông và đương đại.

– Có giải pháp quản lý tốt. Đảm bảo hiệu quả kinh tế và môi trường cảnh quan.

5. Giải pháp kiến trúc xanh nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

5.1. Giải pháp quy hoạch kiến trúc

a. Chọn hướng công trình

– Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam, chọn hướng công trình theo hướng Nam-Bắc là hướng có lợi nhất về bức xạ mặt trời, cho phép giảm bớt chi phí che nắng, thông gió có hiệu quả và đáp ứng yêu cầu chiếu sáng tự nhiên cần thiết

– Hướng công trình còn được xác định theo hướng gió chủ đạo của địa điểm xây dựng để đảm bảo thông gió tốt về mùa hè và hạn chế gió lạnh về mùa đông. Bởi vậy để xác định hướng tốt nhất cần kết hợp giữa gió và mặt trời. Ví dụ, Hà Nội hướng nhà tốt nhất là hướng Đông – Nam, còn ở Lào Cai và Móng Cái thì lại là hướng Nam…

b. Xác định khoảng cách hợp lý giữa các công trình

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, bức xạ mặt trời thường có cường độ lớn, độ cao mặt trời trong năm thường cao nên vấn đề chiếu sáng tự nhiên cho công trình xây dựng thường được thoả mãn. Do đó khoảng cách giữa các công trình phải đảm bảo điều kiện thông gió, chiếu sáng tự nhiên, an toàn khi có có cháy…

c. Thông gió tự nhiên cho công trình

– Muốn tổ chức thông gió tự nhiên tốt cho công trình chúng ta cần giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản như: bố cục mặt bằng, chọn hướng công trình, lựa chọn vị trí, diện tích cửa, cấu tạo cửa….Các phòng nên bố trí theo kiểu thông gió xuyên phòng. Hành lang nhà có thể bố trí một bên hay hai bên phụ thuộc vào đặc điểm khí hậu địa phương. Không nên bố trí các tường ngăn vuông góc với hướng gió chủ đạo. Diện tích cửa sổ hai phía của phòng bằng nhau. Để tăng cường thông gió tự nhiên trong phòng, chiều cao cửa sổ bố trí bằng 0,4-0,5 chiều cao phòng là hợp lý nhất. Tuy nhiên việc chọn kích thước, hình dạng, vị trí cửa sổ cần phải cân đối với vấn đề chiếu sáng tự nhiên cũng như giải pháp tổ hợp hình khối kiến trúc.

d. Chống nóng, che nắng và chống chói, chống mưa cho công trình

Việc tổ chức kết cấu chống nóng, che nắng và chống chói mục đích là để giảm bớt lượng bức xạ ngoài trời (chủ yếu là trực xạ) vào phòng. Yêu cầu cơ bản đối với che nắng là hạn chế thấp nhất bức xạ mặt trời trực tiếp chiếu vào phòng, chống chói và cải thiện được điều kiện vi khí hậu trong nhà

Các kết cấu che nắng ngoài chức năng che nắng chúng còn phải đáp ứng các chức năng: che mưa, chống chói, tạo dáng kiến trúc….vì vậy người thiết kế biết kết hợp một cách nhuyền nhuyễn các phương tiện che nắng để tạo được một môi trường ăn ở, làm việc tốt cho con người đồng thời tạo ra được tính đặc trưng của công trình kiến trúc xứ nhiệt đới. Cần kết hợp giữa giải pháp thiết kế hệ thống bao che (mái, tường….) với hệ thống thu năng lượng mặt trời phục vụ chiếu sáng cho công trình.

e. Chống hấp thụ nhiệt qua kết cấu bao che

Lượng nhiệt mà công trình hấp thu trong điều kiện khí hậu nóng ẩm không chỉ phụ thuộc vào tính chất cách nhiệt của kết cấu bao che mà còn phụ thuộc vào kích thước và hình dạng của công trình.

· Xác định tỷ lệ kích thước tối ưu của công trình:

Để tạo ra hình dạng hợp lý cho các công trình cần phải quan tâm đến hai yếu tố, đó là nhiệt độ không khí và bức xạ mặt trời. Bề mặt kết cấu bao che của công trình hấp thụ cường độ bức xạ mặt trời phụ thuộc vào điều kiện địa lý, vĩ độ địa phương, tính chất khí hậu và trạng thái khí quyển. Tại các vùng nóng ẩm công trình có dạng hình hộp chữ nhật hẹp và dài, các mặt đứng phía đông và tây của công trình chụi tác động mạnh của bức xạ mặt trời và nhiệt độ không khí bên ngoài ở những vùng này thường đặc biệt cao

· Hạ thấp nhiệt truyền vào nhà qua kết cấu bao che
– Cấu tạo tường có tác dụng quyết định chống nóng cho công trình. Các loại tường phẳng nhận lượng bức xạ lớn nhất trên 1m2 diện tích so với các loại tường có hình dạng gấp khúc. Chọn vật liệu cho mái và tường cần chọn loại có hệ số phản xạ lớn, điều đó cho phép giảm bớt lượng nhiệt hấp thụ vào bên trong công trình qua kết cấu bao che. Một vấn đề không kém phần quan trọng là khi thiết kế các công trình cần giải quyết tốt vấn đề cách nhiệt mái.

– Cần quy định giá trị truyền nhiệt tổng thể (OTTV) đối với lớp vỏ công trình xây dựng không vượt quá 45W/m2 (kinh nghiệm của Thái Lan và Philipin).

– Khi thiết kế lớp vỏ bao che công trình (mái, tường…) cần có quy định kết hợp với việc bố trí hệ thống thu nhận năng lượng mặt trời như là yêu cầu bắt buộc của giải pháp tiết kiệm năng lượng trong công trình xây dựng (kinh nghiệm của thành phố Rizhao – Trung Quốc).

f. Tạo bóng râm mát cần thiết

Trong điều kiện nóng ẩm, cây xanh là một trong những biện pháp tốt nhất để cải thiện vi khí hậu và cũng là biện pháp nâng cao hiệu quả thẫm mỹ cho công trình. Cây xanh hạn chế những giao động nhiệt của khí hậu gần mặt đất và hạ thấp nhiệt độ không khí từ 1,5-2,50, giảm cường độ bức xạ mặt trời từ 40-50%. Khi các tia mặt trời chiếu vào lớp lá cây, 70-75% năng lượng mặt trời bị cây xanh hấp thụ. Cây xanh cũng giảm một cách đáng kể sự toả nhiệt của môi trường bao quanh, góp phần chống ô nhiễm, chống ồn. Sử dụng các loại dàn cây che nắng tốt không kém gì việc sử dụng các kết cấu che nắng.

5.2. Giải pháp vật liệu xây dựng

Nguyên vật liệu sử dụng trong xây dựng từ khâu khai thác, chế biến, sử dụng đều có ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Vì vậy cần phải hết sức quan tâm trong thiết kế, xây dựng và quản lý chúng.

Cần chú ý phát triển, sử dụng các nguyên vật liệu kiến trúc xanh thân thiện với môi trường đó chính là các nguyên vật liệu địa phương truyền thống, tiết kiệm năng lượng. Cần thu hồi và tái sử dụng các nguyên vật liệu một cách tối đa vừa không gây nguy hại cho sức khoẻ, môi trường và lại có hiệu quả kinh tế.

Nhà nước cần ban hành các tiêu chuẩn vật liệu xây dựng đảm bảo tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nguyên vật liệu và thân thiện với môi trường như: vật liệu tường bao che, vật liệu cách nhiệt mái, vật liệu kính sử dụng trong kiến trúc…

5.3. Giải pháp thiết kế, vận hành, quản lý hệ thống trang thiết bị kỹ thuật tiết kiệm năng lượng

a. Hệ thống điều hoà không khí

Giải pháp thiết kế kiến trúc có thể tiết kiệm 35% năng lượng, vì vậy phải xem giải pháp kiến trúc là giải pháp hàng đầu, chỉ trong trường hợp cần thiết mới phải sử dụng hệ thống ĐHKK. Để tiết kiệm năng lượng cho hệ thống ĐHKK chúng ta cần quan tâm đến các khâu thiết kế, quản lý vận hành ĐHKK cũng như chọn hướng, hình khối công trình.

– Khi thiết kế cần chú ý lựa chọn thông số tính toán của không khí trong nhà và ngoài trời sao cho hợp lý.

– Vận hành, quản lý hệ thống ĐHKK là khâu rất quan trọng để TKNL, vì vậy người vận hành hệ thống ĐHKK cần hiểu biết về điều kiện tiện nghi nhiệt của cơ thể con người. Khi lắp đặt hệ thống ĐHKK cần đầu tư hệ thống điều khiển và điều chỉnh tự động để mở tắt máy hay tăng giảm công suất theo điều kiện thời tiết.

– Năng lượng sử dụng cho hệ thống ĐHKK phụ thuộc nhiều vào lượng nhiệt do bức xạ mặt trời truyền vào nhà. Vì vậy khi thiết kế cần chú ý sử dụng kết cấu bao che có độ phản xạ tốt, hạn chế cửa kính, sử dụng kết cấu che nắng…

b. Hệ thống chiếu sáng tự nhiên và nhân tạo

Cần tận dụng tối đa để chiếu sáng tự nhiên cho công trình, chỉ khi chiếu sáng tự nhiên không đáp ứng hay vào ban đêm thì phải sử dụng ánh sáng nhân tạo bổ sung. Cần phải biết phối hợp chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo như thế nào cho tốt để có thể TKNL. Trong chiếu sáng nhân tạo cần chú ý thêm các vấn đề sau:

– Thay loại bóng đền huỳnh quang cũ bằng loại đèn mới có hiệu suất cao.

– Thay đèn vonfram bằng đèn huỳnh quang gầy.

– Thay bóng đèn dây tóc bằng bóng đèn compact.

– Bố trí và phân vùng hợp lý hệ thống chiếu sáng.

c. Hệ thống thang máy, cung cấp nước nóng, thông gió cơ học…

– Bình đun nước nóng cần lựa chọn loại có hiệu suất năng lượng cao.

– Thang máy lựa chọn loại động cơ có hiệu suất năng lượng cao. Lựa chọn và bố trí số lượng và hệ thống thang máy hợp lý.

– Áp dụng các hệ thống kiểm soát thang máy, bình nước nóng, thông gió cơ học thích hợp.

– Thiết kế hệ thống thiết bị ĐHKK, thông gió cơ học có chú ý đến đặc điểm của khí hậu địa phương.

– Áp dụng các biện pháp lắp đặt, vận hành, quản lý hệ thống thiết bị có hiệu quả năng lượng cao.

6. Kết luận

Kiến trúc xanh không những mang lại lợi ích kinh tế, môi trường, sức khoẻ cho người dân mà còn đóng góp tích cực làm giảm sự biến đổi khí hậu. Có thể nhận định rằng kiến trúc xanh là một hướng đi đúng đắn, gợi mở tương lai hết sức sáng sủa và rất phù hợp với các nước thuộc khu vực nhiệt đới với nền kinh tế đang phát triển như nước ta. Để mô hình kiến trúc xanh được ứng dụng rộng rãi nhằm sử dụng năng lượng tíêt kiệm và hiệu quả, chúng ta cần tiến hành khảo sát, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm để đưa ra cơ chế, chính sách hợp lý, thiết thực và một vấn đề không kém phần quan trọng đó là phải có sự đồng thuận giữa nhà thiết kế, nhà xây dựng, nhà quản lý và của cả cộng đồng.

PGS.TS. Ngô Thám

Trường Đại học Kiến trúc