Năm tháng trôi qua những ngôi nhà con phố Hà Nội

39

Kate Simpson – Chủ tịch Academic Travel rất bận rộn, chị có một buổi sáng muốn cùng chúng tôi khám lịch sử 1000 năm của Thành phố. Mô tả thế nào đây khi chúng tôi chỉ có 2 giờ vừa đi xe vừa đi bộ vòng quanh phố cũ.

9h30, Xuất phát từ Nhà Hát Lớn HN, điểm đầu con đường vốn có tên là Paul Bert, được trải nhựa đầu tiên của HN, dùng để di chuyển binh lính từ khu Đồn Thủy  (người  Pháp chiếm 1876 ) vào Thành Hà Nội. Phố xưa có xưởng đúc tiền – nên sau 1945, đổi tên là Tràng Tiền. Đoạn đầu còn nhiều nhà giữ nguyên dáng vóc cửa hàng nhỏ, của  người đến từ miền Nam nước Pháp: mái vòm, gờ phào, khung cửa gỗ phong cách bình dân, rất giống những ngỏ nhỏ thông ra đường Tivoly ở Paris.

Hồ Hoàn Kiếm mở ra thoáng đãng. Trước khi thành một công viên mặt nước năm 1890, nơi đây là một phần của sông Hồng bồi lấp thành cái ao lớn để dân làng Cựu Lâu, Báo Khánh tắm rửa giặt giũ. Bên hồ là phố Hàng Khay, xưa bán khay gỗ khảm vỏ ốc – kỷ niệm phương Đông đem về cố quốc người viễn xứ.

Thư viện Trung ương trong vườn cây rộng, hoàn thành 1900 có chức năng Sở Lưu trữ. Người Pháp xây trên nền đất vốn để  cắm lều chõng cho sĩ tử tới đây trước khi chuyển vào Kinh thành Huế. Phố có tên  Tràng Thi – nơi thi cử. Tiếp một đoạn có 3 bệnh viện liền nhau, vốn do các bà Sơ lập nên chăm sóc  mấy chú lính Tây mắc bệnh tả chờ chết, sau thành bệnh viện làm phúc cho người Việt. Ám ảnh dịch bệnh nên kế hoạch di rời bệnh viện này ra ngoài Thành phố hơn 80 năm ( 1927 – 2011) vẫn còn dang dở.

Hết phố Tràng Thi là Cửa Nam: cổng phía Nam thành Hà Nội xưa. Cột Cờ lừng lững hiện ra  như cột mốc – biểu tượng chủ nhân đích thực Thành phố. Trên cao vút, cờ đỏ sao vàng  tung bay từ ngày 10-10-1954. Trùng trùng  trở về năm ấy có cha tôi, cựu viên chức Sở Bưu Điện, như bao người Hà Nội, đã bỏ lại sau lưng kinh thành rực lửa mùa đông 1946, để 8 năm sau kiêu hãnh trong đoàn quân Giải phóng.

1.jpg

2.jpg

 

Kate Simpson  đứng trước đài tưởng niệm AHLS Bắc Sơn và cổng nhà vị tướng trên đường Hoàn Diệu

10h00, dừng lại trước đài tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ cuối phố Bắc Sơn, có kích thước khiêm tốn nhưng gây xúc động. Hoàn thành 1996 trong sự nỗ lực kỳ diệu, sau cuộc thi thiết kế kéo dài, nhiều trở ngại, là hiện thân cái đẹp được trân trọng hiếm hoi trước khi cả Thành phố hổi hả lao vào cuộc tìm kiếm tiền bạc, say sưa tăng trưởng.

Thấp thoáng sau tán cây đường Hoàng Diệu là dãy biệt thự trang nhã, vốn là dinh thự của viên chức cao cấp thời thuộc địa. Sau 1954 các vị tướng chỉ huy hai cuộc chiến tranh giành Độc lập – Thống nhất đất nước ở nơi đây. Trong cuộc chiến, tình báo đối phương qua đây, báo tin cửa sổ phòng làm việc vẫn sáng đèn hàng đêm …Thực ra  vị tướng ấy đã có mặt tại những cánh rừng Tây Nam Bộ, cách xa Hà Nội cả ngàn cây số để chỉ huy những chiến dịch lớn.

Lọt giữa nơi ở các vị tướng lại là nhà bà cụ chủ hãng buôn lớn.Tháng 8 năm 1945, cụ đã dành cửa hiệu to nhất phố Hàng Đào để Chủ tịch  Hồ Chí Minh ngồi viết Tuyên ngôn  Độc lập – khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngôi nhà ấy giờ là Bảo tàng của Thành phố. Những ngôi nhà Hà Nội cứ lúc hiện lúc ẩn, khi thực khi hư như thế .

Quay lại đường Điện Biên Phủ dẫn đến quảng trường Ba Đình, hai bên là những ngôi nhà lịch lãm phong cách vùng phía Bắc nước Pháp, quê hương của các chủ nhân nơi đây: các chủ đồn điền, hầm mỏ hay nhà bank. Sau năm 1954 các ngôi nhà này dùng làm văn phòng Sứ quán, cơ quan ngoại giao.

3.jpg

8.jpg

Quảng trường Ba Đình, ngôi nhà mái đỏ phía xa là Phủ Chủ Tịch. Trụ sở Bộ ngoại giao ( KTS E. Hébrard)

Cuối đường Điện Biên Phủ là trụ sở Bộ Ngoại Giao, vốn là Nha tài chính Đông Dương, kiến trúc Á Đông – phong cách hình thành đầu TK20 bởi các KTS Pháp tài hoa, họ tìm kiếm sự hài hòa giữa cấu trúc duy lý Tây phương với hình thức duy mỹ đầy tính ẩn dụ phương Đông. Tác giả là KTS  Ernest Hébrard, ông là Giám đốc Sở Quy hoạch kiến trúc Đông Dương từ năm 1923, tham gia giảng dạy tại khoa Kiến trúc – trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương. Ông để lại nhiều công trình kiến trúc, quy hoạch tại Hà Nội,  ảnh hưởng nhiều tới thế hệ KTS Việt Nam đầu tiên .

Quảng trường Ba Đình, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc tuyên ngôn Độc lập trước hàng vạn cư dân Hà Nội, cha mẹ tôi cũng có mặt trong thời khắc thiêng liêng ấy. Sau 30 năm, ngày 2/9/1975, chúng tôi là học sinh Hà Nội có mặt từ mờ sáng để xếp những bông hoa vàng đỏ thành lá cờ Tổ quốc khổng lồ, đón chào đoàn diễu binh mừng ngày Thống Nhất đất nước.

Bắc quảng trường là Phủ Chủ tịch – Công thự bề thế vốn là Phủ toàn quyền Đông Dương. Đối diện là công trình văn phòng, xưa là trường Trung  học. Cha tôi vào đó vài lần để thi lấy bằng Tú tài – nếu có mới dễ xin việc làm, nuôi sống bản thân và chu cấp cho một gia đình  trung lưu Hà Nội nửa đầu TK20. 

4.jpg

5.jpg

Chùa Một Cột , du khách chen nhau  leo lên các bậc gạch bé tí . Cổng chùa với đôi sư thử đá lạc lõng

10h30, chúng tôi tới Chùa Một Cột – bông Sen cách điệu vươn lên từ bùn lầy để tỏa hương cao quý – Ý tưởng từ  giấc mơ của ông Vua thời Lý (TK 11). Nhiều du khách thất vọng vì chùa nhỏ quá. Giữa chốn thanh tao ấy, có người bà con của tôi quần ngủ, áo nhầu cũng hồn nhiên thăm viếng.

Nằm giữa hai nền văn minh lớn Trung Hoa và Ấn Độ, người Việt chọn cách cách biểu đạt những suy tưởng lớn lao qua những tác phẩm kích thước khiêm nhường. Cổng  chùa vốn đã nhỏ  nay thành tí hon  khi đứng bên vách đá  kềnh càng. Nó lại dần xa lạ với chính mình khi đặt trước cổng đôi sư tử đá lạc lõng. Hà Nội đang loay hoay trước cái to lớn trống rỗng với cái nhỏ bé, xinh xắn sâu lắng ; giữa tinh tế và cẩu thả vô tâm.

11h00, tới Quốc Tử Giám – ngôi trường Đại học đầu tiên Việt Nam. Kìa Khuê Văn Các, đây nhà Thái Học, đấy hồ Quang Minh. Du khách dừng lâu trước dãy bia đá ghi danh những người đỗ đạt. “ Kẻ sĩ được ghi vào tấm đá này, ắt nên giữ lòng trong sạch tiết tháo kiên trinh giúp đời hành đạo, giúp vua ban ơn cho dân, ngõ hầu công danh sự nghiệp được khắc sâu chuông đỉnh, thêu lên cờ hiệu, cùng  với tấm đá này soi tỏ mới không hổ thẹn với khoa danh, thảng hoặc có kẻ quỳ gối, uốn mình tỏ vẻ gian dối, ngọc vết khó lành , đá vết khó mài, công luận nghìn năm há chẳng đáng sợ sao. Thế thì dùng bia đá này chẳng phải riêng để bồi đắp Nho phong mà còn để  giùi  mài sĩ khí , việc đó có quan hệ đến thanh danh giáo hóa thật lớn vậy …” ( bia khắc năm 1748).

Bên hàng chữ ngay ngắn có cả chỗ đã đục xóa đi, có ai đó chẳng giữ được tấm lòng chung nên cơ sự ấy. Mấy tấm liền nhau như vậy nên cũng có thể suy ra những năm dâu bể loạn ly, chân ngụy lẫn lộn, không biết ai là chính / ai là tà chăng? 

6.jpg

7.jpg

Khuê Văn Các trong Quốc Tử Giám . Du khách dừng lại hồi lâu trước những tấm bia ghi danh tiến sĩ

11h30, Quay về lối cũ, bàn về sáng kiến lập thêm bia mới để khắc tên những tiến sĩ thời nay. Mấy trăm năm mới có 82 tấm bia ghi danh 1.304 vị. Mới vài chục năm, Việt Nam đã có 14.000 Tiến sĩ, muốn  đặt bia cần nơi rộng lắm. Hà Nội đang thiếu nhiều thứ: Công viên, cây xanh, trường học, bệnh viện, hồ nước và thiếu cả đường đi …. vậy ý có hay mấy thì cũng xin khất lại.

Hà Nội quanh tôi có bao điều pha trộn giữa chân thật và phù phiếm, nuối tiếc và háo hức, khắc khoải lo âu chuyện đâu đâu. Nhưng Hà Nội vẫn thế, ngày tháng vẫn lặng lẽ trôi qua những ngôi nhà dửng dưng  đứng bên những con phố ồn ào.

Trần Huy Ánh

Trong bài sử dụng tư liệu của cụ Nguyễn Văn Uẩn( 1912-1991)

 Ảnh  Hanoidata ST&BT