Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh

198

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh, một trong vài người cuối cùng của thế hệ kiến trúc sư được đào tạo ở Trường Mỹ thuật Đông Dương. Con người và sự nghiệp của ông đã để lại hình ảnh một kiến trúc sư đầy tài năng, uyên bác nhưng giản dị, một con người với tâm hồn nghệ sĩ và tấm lòng đôn hậu.

kts-ngo-huy-quynh.jpg

Ngô Huy Quỳnh sinh ngày 15-5-1920 tại một làng quê nghèo xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Bố là thầy giáo dạy chữ nho, mẹ làm ruộng và dệt vải. Ông có người anh ruột làm công chức ở Tòa sứ (1) nên được theo anh ra Quảng Yên học tiểu học. Chính ở đây năm 1933 ông được gặp một người thợ gò ở Nhà máy đúc kẽm, đó là chàng thanh niên Trần Danh Tuyên, một nhà cách mạng trẻ tuổi đã giác ngộ ông về đấu tranh giai cấp, về độc lập dân tộc. Đó là bài học đầu tiên về cách mạng, đã sớm đưa cậu bé Ngô Huy Quỳnh vào con đường suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Năm 1938, ông tốt nghiệp trung học. Với khả năng hội họa, ông thi vào Trường Mỹ thuật Đông Dương, khóa 10, Khoa Kiến trúc, cùng học với Khổng Toán, Phạm Khắc Nhu và Lương Tấn Khoa.

Thời gian học đại học ở Hà Nội, ông ở trọ trên gác tòa soạn Báo Tin Tức (2) ở 151 Phùng Hưng ngày nay, sau chuyển đến trọ ở trụ sở Báo Notre Voix (2) (Tiếng nói chúng ta). Tại hai tòa báo này ông đã được gặp các nhà hoạt động cách mạng của Đảng như Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Trần Huy Liệu, Trần Đình Long. Là sinh viên nghèo nên ông vừa đi học, vừa làm gia sư để kiếm thêm tiền ăn học.

Thời sinh viên có một sự kiện đáng nhớ là vào năm 1941 Ngô Huy Quỳnh viết bài trên Báo Sinh viên, phê phán quan điểm nghệ thuật tư sản của một số họa sĩ thời bấy giờ bày tỏ quan điểm và cổ vũ cho nghệ thuật dân tộc. Bài báo có tiếng vang trong giới sinh viên, nâng cao tinh thần dân tộc trong sinh viên. Nhà cầm quyền Pháp coi đây là hiện tượng nổi loạn trong nhà trường có yếu tố cách mạng và thế là ông bị đưa ra Hội đồng kỷ luật. Nhưng rất may do một số giáo sư người Pháp có tư tưởng dân chủ tiến bộ bảo vệ nên ông không bị đuổi học.

Ngô Huy Quỳnh là một sinh viên tài hoa. Tuy học kiến trúc nhưng vẫn ham mê hội họa và hay cùng các bạn học ở Khoa Mỹ thuật đi vẽ dã ngoại. Ngay từ năm thứ ba ông đã thiết kế một số công trình, đa phần là những ngôi nhà tư nhân, những biệt thự. Trong sáng tác, ông vận dụng kiến thức về kiến trúc dân tộc kết hợp với phong cách kiến trúc hiện đại phương Tây, tạo nên những ngôi nhà hiện đại nhưng mang đậm bản sắc dân tộc. Ngôi nhà 84 Nguyễn Du, biệt thự ở phố Cao Đạt – Hà Nội, những ngôi nhà ở Nam Định, Đình Bảng – Bắc Ninh,… đến ngày nay vẫn còn giá trị nghệ thuật.

Năm 1942 ông và nhà điêu khắc trẻ Trần Văn Lắm bạn cùng trường, khác khoa là đồng tác giả công trình Đài trận vong chiến sĩ (3) đặt tại Lạng Sơn, được Giải Nhất trong cuộc thi thiết kế do chính quyền thuộc địa tổ chức. Cũng trong năm đó, ông cùng hai bạn học ở Khoa Mỹ thuật là Trần Đình Thọ và Phạm Văn Đôn tổ chức triển lãm tranh tại Hà Nội. Cuộc triển lãm của ba nghệ sĩ trẻ này đã có tiếng vang trong giới trí thức học sinh, sinh viên Hà Nội. Số tiền bán tranh của ông lên đến 300 đồng bạc Đông Dương (4). Đây là số tiền lớn đối với một sinh viên nghèo như ông. Ông thường ấp ủ một mơ ước được đi du lịch thăm đất nước, với số tiền này ông quyết tâm thực hiện một cuộc hành trình xuyên Việt. Với giá vẽ, giấy bút, màu và chiếc xe đạp cũ kỹ ông lang thang hàng tháng trời qua Huế, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn rồi sang luôn Ăng Co, Viên Chăn. Cuộc du lịch đầu đời đúng vào cái tuổi thanh xuân hăng say nghề nghiệp, tâm hồn trong sáng lãng mạn đã cho ông tầm nhìn bao quát về thiên nhiên, đất nước, về nền văn hóa dân tộc, về con người ở mọi miền đất nước và cuộc sống của họ. Cuộc hành trình đã để lại cho ông một khối lượng tư liệu ghi chép, ký họa làm giàu vốn kiến thức cho một sinh viên năm cuối ngành kiến trúc, cái vốn ấy đã tác động sâu sắc đến cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông sau này.

Năm 1943, Ngô Huy Quỳnh tốt nghiệp kiến trúc sư và làm việc tại văn phòng thiết kế của kiến trúc sư Võ Đức Diên. Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh tham gia hoạt động cách mạng và gia nhập Việt Nam Cứu quốc Hội. Ngôi nhà số 22 Quang Trung (nay là Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia) nơi ông thuê là chốn qua lại hội họp của nhiều đồng chí cán bộ Văn hóa Cứu quốc như Vũ Oanh, Học Phi, Như Phong… Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, ông được Đảng điều về Nam Định cùng đồng chí Học Phi và Ngô Huy Cảnh tổ chức mít tinh cướp chính quyền. Cách mạng Tháng Tám thành công, kiến truc sư Ngô Huy Quỳnh được giao thiết kế và xây lắp Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình- Hà Nội. Ngày 1-9-1945, ông thiết kế và cùng anh em công nhân lắp dựng chỉ trong vòng một ngày một đêm là xong để 14h hôm sau, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân đồng bào và Người trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Đông – Nam Á.

KTS Ngô Huy Quỳnh trong buổi lễ trao tặng Huân chương Độc lập hạng 3.

Ngày 23-10-1945, Ngô Huy Quỳnh được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau ngày Độc lập, ông tham gia Ban Chấp hành Cứu quốc Hội Hà Nội, làm Chủ nhiệm Báo Kiến thiết của Hội, làm Đoàn trưởng Cựu chiến binh cứu quốc, tổ chức Công ty sản xuất vũ khí Phan Đình Phùng cùng đồng chí Vũ Đức Toa. Ông được nhận nhiệm vụ thiết kế và chỉ đạo thi công khu Đại hội Đảng ở cạnh thị xã Hà Đông (do đồng chí Lê Liêm giao), vì toàn quốc kháng chiến nên không thi công.

Ngày 19-12-1946 kháng chiến bùng nổ. Suốt trong hai tháng, ông tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong một đơn vị tự vệ thuộc Liên khu 2 đóng tại phố Nguyễn Du. Ông nhận trách nhiệm Phó Ban tiếp tế Khu 2. Sau đó ông và gia đình được tổ chức đưa lên Việt Bắc. Ở đây ông tham gia Đoàn Văn hóa Kháng chiến do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm Trưởng đoàn, sau nhận trách nhiệm Phó Giám đốc Sở Thông tin Liên khu X (5-1947 đến 2-1948). Tại núi rừng Việt Bắc, chỉ với vật liệu tre nứa lá gỗ ông đã thiết kế và xây dựng nhiều công trình lớn phục vụ cho Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5 v.v… Trong những năm 1950 và 1951 ông làm cán bộ trong Bộ Giao thông – Công chính và Phòng Kiến trúc Liên khu X. Thời gian kháng chiến chống Pháp, sống và làm việc tại các vùng nông thôn, miền núi ông tỷ mỉ quan sát, ghi chép, tích lũy để sau này viết “Tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam”, là tập sách kiến trúc Việt Nam đầu tiên được xuất bản (1961).

Để chuẩn bị lực lượng cán bộ khoa học- kỹ thuật cho công cuộc xây dựng đất nước sau này, ngay từ năm 1951, với tầm nhìn chiến lược Đảng ta đã cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập nghiên cứu. Hai kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh, Hoàng Linh là trong số những cán bộ đầu tiên được cử sang Liên Xô (cũ) tiếp tục học tập nghiên cứu.

Việc làm luận án phó tiến sĩ của kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh có trắc trở. Trong bốn năm (7-1951 đến 8-1955) ông đã làm làm xong 8 bài kiểm tra học lực nghiên cứu sinh, đã viết xong một luận án bằng tiếng Nga về đề tài theo hướng khai thác truyền thống kiến trúc dân tộc Việt Nam để lập đồ án quy hoạch đô thị trên cơ sở kinh nghiệm Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên. Thời gian này mới hòa bình lập lại ở miền Bắc, rất cần cán bộ có trình độ cao để làm việc cùng chuyên gia các nước bạn. Theo chỉ thị của Trung ương, ông phải về nước ngay, không có thời gian hoàn thành và bảo vệ luận án phó tiến sĩ. Bảy năm sau (1962) Ngô Huy Quỳnh được chỉ thị chuẩn bị bảo vệ học vị phó tiến sĩ. Lần này, cách làm là viết xong luận án bằng tiếng Việt rồi sẽ sang Liên Xô chừng 3-6 tháng để chuyển sang tiếng Nga và chuẩn bị các thủ tục bảo vệ. Nhưng thời gian này có Chủ nghĩa Xét lại ở nước bạn nên ông tự nguyện không sang bảo vệ luận án nữa, Uỷ ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, cơ quan chủ quản của ông tán thành quyết định này.

Ông được giao nhiều trách nhiệm chính quyền và công tác Đảng như Đảng ủy viên Bộ Kiến trúc, đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội (1959-1961), Bí thư Đảng Đoàn và Uỷ viên thường vụ Đoàn Kiến trúc sự Việt Nam, khóa II, Vụ trưởng Vụ quy hoạch Đô thị – Nông thôn, Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước,…

Năm 1959, hai kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp và Ngô Huy Quỳnh với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô là tác giả đồ án Quy hoạch xây dựng Thủ đô, ngay từ đó đã đặt ra vấn đề bảo tồn phố cổ Hà Nội.

Trong ba năm 1961-1963, kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh được cử làm Trưởng đoàn chuyên gia giúp nước bạn Lào lập quy hoạch thành phố Khang Khay, thiết kế xây dựng cơ quan và nhà ở cho Chính phủ Liên hiệp Lào.

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh được giao một công việc mới là đào tạo lớp kiến trúc tại Trường đại học Bách khoa Hà Nội. Ông đã soạn thảo chương trình đào tạo, tham gia lựa chọn sinh viên qua thi tuyển, trực tiếp giảng dạy môn Kiến trúc nhập môn, Lịch sử kiến trúc, hướng dẫn sinh viên vẽ ghi kiến trúc cổ kết hợp với giới thiệu kiến trúc truyền thống dân tộc. Đó là lớp kiến trúc đầu tiên, tổ 29, khóa 1, Trường đại học Bách khoa gồm 26 sinh viên. Ông đã hướng dẫn nhiều sinh viên làm đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư, hướng dẫn nghiên cứu sinh, đào tạo phó tiến sĩ và giảng dạy Cao học.

Gắn với công tác đào tạo, kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh viết nhiều sách về lý luận và lịch sử kiến trúc trong và ngoài nước như: « Quy hoạch cải tạo và xây dựng đô thị”, NXB Văn hóa, 1997; “Xây dựng bằng vật liệu tại chỗ vùng dân tộc ít người”, NXB Văn hóa dân tộc,1997; “Hình thức kiến trúc cổ điển thế giới”, NXB Văn hóa dân tộc, 1997; “Lịch sử kiến trúc Việt Nam”, NXB thành phố Hồ Chí Minh (lần 1), NXB Văn hóa, 1998 (lần 2), NXB Xây dựng, 1999 (lần 3); “Kiến trúc dưới góc độ mỹ học”, NXB Văn hóa; “Kiến trúc cổ đại châu Á”, NXB Văn hóa, 2000; “Lịch sử kiến trúc Việt Nam – Lào”, in chung trong “Lịch sử kiến trúc thế giới” tại Liên Xô (cũ), bằng tiếng Nga, 1991; “Kiến trúc nông thôn Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, 2001. Soạn thảo các tài liệu lịch sử kiến trúc các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Ấn Độ, Indonexia để hướng dẫn cao học.

Với những cống hiến to lớn trong 60 năm làm nghề kiến trúc và hoạt động cách mạng, kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đã được Đảng và Nhà nước khen thưởng nhiều lần: Huân chương Độc lập Hạng Ba, nhiều Huân chương, Huy chương Hữu nghị của nước bạn Lào. Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Năm 2001, bộ sách Lịch sử kiến trúc Việt Nam được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật, đợt 1.

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh là một nghệ sĩ đa tài. Ông vẽ như một họa sĩ chuyên nghiệp. Trong chuyến đi xuyên Việt hồi trẻ, ông đã mang về nhiều tranh và ký họa hoa phong cảnh mọi miền đất nước. Những bức vẽ nghiên cứu bằng bút chì thời gian học ở Liên Xô cho ta thấy công phu học tập nghiêm túc của ông, những bức sơn dầu bộc lộ những nét tài hoa qua bút pháp phóng khoáng. Một lần ông nói với lớp sinh viên chúng tôi: “Tôi còn đủ sơn dầu để vẽ đến cuối đời… rồi ông tủm tỉm cười: … vì bây giờ không có thời giờ, không biết vẽ vào lúc nào cả…” Ông là một người hóm hỉnh, dễ tính, xuề xòa. Trong căn buồng ông ở trên gác hai ngôi nhà số 94 xóm Vân Hồ 3, giữa bề bộn các tủ sách, các tranh sơn dầu treo đầy trên tường có một cây đàn ghi ta gỗ. Thì ra người nghệ sĩ này lại còn là một Guitarist nữa. Hồi trẻ ông chơi thành thạo hai loại đàn ghi ta là Tây bán cầm (ghi ta Tây Ban Nha) và ghi ta Hạ-uy-di (chơi với ba móng sắt và một bloc chặn bằng kim loại). Ông thường hòa tấu đàn với Bùi Công Kỳ và Đỗ Nhuận vào thời gian những năm 1943-1945.

Hội họa và âm nhạc đã khiến tâm hồn ông thêm phong phú và nhạy cảm, khiến tài năng kiến trúc của ông thêm sắc sảo và tinh tế. Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thực sự là một nghệ sĩ chân chính, một nhân cách lớn. Ông từ biệt Cõi Dương ngày 30-5-2003, trong Lời điếu đọc tại lễ truy điệu, Thứ trưởng Nguyễn Văn Liên nói: “Cuộc đời cống hiến của GS. KTS Ngô Huy Quỳnh là cả thời gian 60 năm cống hiến cho sự nghiệp Cách mạng của Đảng, cho nền kiến trúc Việt Nam trên nhiều lĩnh vực: Nhà kiến trúc, nhà nghiên cứu lý luận, nhà báo, nhà giáo, nhà quản lý, một tài năng, một tấm gương nhân cách, một nhà khoa học đóng góp lớn tích cực cho nền kiến trúc Việt Nam và sự phát triển của ngành xây dựng”./.

PGS. TS. KTS Tôn Đại

Theo Blog KTS Đoàn Đức Thành

——————————————————
1) Cơ quan hành chính, tương đương UBND tỉnh bây giờ, đứng đầu là người Pháp.
(2) Báo Tin Tức (tiếng Việt), Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta – tiếng Pháp, báo công khai của Đảng do đồng chí Trường Chinh phụ trách (thời kỳ Mặt trận Bình dân).
(3) Đại chiến II quân Nhật tràn vào Đông Dương qua biên giới Lạng Sơn, quân Pháp chống cự yếu ớt rồi đầu hàng. Nhiều lính Pháp tử trận.
(4) Lương viên chức nhỏ chỉ vài ba chục đồng một tháng.