Nhà ống: Mối liên hệ không gian theo mặt cắt

128

Nói tới chủ đề về nhà ống thì mặt cắt càng được quan tâm hơn nữa. Lý do đơn giản vì ngôi nhà đã bị hạn chế bởi hai bức tường bên. KT & ĐS giới thiệu giải pháp của các kiến trúc sư nước ngoài qua ba căn nhà ống tiêu biểu.

“Mặt bằng luôn chỉ rõ sự tổ chức logic của một công trình, còn mặt cắt sẽ biểu hiện cảm xúc của nó”. – Matthew Frederick

ImageHandler.jpg

Khu nhà tập thể “Cité Radieuse” (1947 – 1952), những căn hộ chỉ được thiết kế theo dạng hình ống có chiều rộng như nhau đã là hệ quả của cấu trúc mặt tiền.

Đó là một trong những điều in trong cuốn sách “101 điều tôi đã học ở trường kiến trúc” của KTS Matthew Frederick, ông cũng là giảng viên của nhiều trường kiến trúc ở nước Anh. Cuốn sách được viết ra như một cuốn cẩm nang cho những người đang tìm hiểu điều này.

Như chúng ta đã biết, khi nhìn vào mặt bằng, ta thấy được sự sắp xếp của những công năng, hệ giao thông đi lại cũng như sự bố trí đồ đạc của một ngôi nhà, nhưng chỉ ở mặt cắt ta mới cảm nhận được thực sự “không gian” của nó. Phạm trù “không gian” trong kiến trúc cũng mới chỉ được nói đến ở thế kỷ 20. Trước đó, các kiến trúc sư thường tập trung vào việc bố cục mặt bằng và đặc biệt tìm tòi những nét trang trí ở ngoài mặt tiền. Các kiến trúc sư hiện đại đầu thế kỷ 20 đã đưa ra một bài học quan trọng rằng, tính trang trí chỉ là sự “tô điểm” cho kiến trúc, chính không gian mới là cốt lõi của nó, cái sẽ là ngôn ngữ chung cho dù hình thái của kiến trúc có thay đổi như thế nào đi chăng nữa. Tất nhiên khi nói tới không gian là nói tới hệ trục đo ba chiều mà chiều đứng, cái thường không được để ý nhiều từ trước vì thường được lấy theo kinh nghiệm, nay đã được khai thác một cách triệt để. Đây cũng là chiều đo có mối liên hệ nhiều nhất tới những trạng thái của con người như đứng, ngồi hay nằm.

Trong lịch sử kiến trúc, người thợ nề và kiến trúc sư luôn có mối quan hệ khăng khít bên nhau. Câu hỏi luôn được đặt ra là vai trò của ai ở chỗ nào và tại những thời điểm nào. Vì người thợ nề sau nhiều năm kinh nghiệm có thể hoàn toàn tự xây dựng được nhiều ngôi nhà mà khách hàng đề nghị. Nhưng người thợ nề dù có giỏi đến mấy cũng chỉ đưa ra được một mặt bằng hợp lý chứ không bao giờ thể hiện được cấu trúc của mặt cắt. Chỉ có người kiến trúc sư mới có đủ nhạy cảm để thông qua mặt cắt sáng tạo ra những cảm nhận khác nhau về không gian. Người kiến trúc sư giỏi trong khi thiết kế luôn tìm mối liên hệ tương đồng giữa mặt bằng và mặt cắt, còn người kiến trúc sư “amateur” chỉ vẽ mặt cắt đến từ hệ quả của mặt bằng được định vị từ trước.

ImageHandler1.jpg
Hình vẽ mô tả sự tính toán những chỉ số của “Le Modulor”. 2,26m là số đo cho chiều cao trần nhà. Ngoài ra Le Corbusier còn đưa ra nhiều chỉ số khác có sự liên hệ tương ứng giữa các trạng thái của con người với những đồ vật sử dụng trong cuộc sống.

Đi tìm chiều cao của trần nhà đúng với tỷ lệ của mặt bằng là một công việc không đơn giản. Nó thường phụ thuộc vào tỷ lệ chiều cao của cơ thể con người, công năng cụ thể của mỗi hạng mục công trình cũng như điều kiện khí hậu từng vùng. Câu tục ngữ của nước ta “nhà cao cửa rộng” hoàn toàn đến từ sự ảnh hưởng của khí hậu. Đó là điều dễ hiểu, vì trong một căn phòng không khí nóng nhẹ nên bốc cao lên phía trần nhà. Nếu trần nhà được xây cao thì khí nóng sẽ tác động ít hơn tới cơ thể con người, cộng thêm với cửa mở rộng thông thoáng sẽ dễ dàng làm không khí được lưu thông. Điều đó được làm hoàn toàn ngược lại ở những nơi có khí hậu lạnh.

Sự nghiên cứu mặt cắt trong kiến trúc phải kể tới KTS Le Corbusier (1887 – 1965). Đó đã trở thành một định đề bất biến trong tư duy sáng tác của ông. Hầu hết trong tất cả các công trình mà ông thiết kế không những có sự tìm tòi kích thước của trục đo thứ ba này mà còn qua đó tạo ra các mối liên hệ trong không gian. Không hề ngẫu nhiên mà một trong năm điểm của kiến trúc hiện đại mà ông đề xuất ra là “mặt bằng tự do” cũng có mối liên quan chặt chẽ tới mặt cắt. Với ý tưởng “mặt bằng tự do”, tức là áp dụng hệ cột chịu lực trong công trình, để từ đó những bức tường chỉ đóng vai trò duy nhất là ngăn cách không gian chứ không còn chịu lực nữa. Chúng có thể được đặt tự do trên mặt bằng và bị loại bỏ khi cần thiết. Từ cách ứng dụng này đã dẫn tới “mặt cắt tự do”, vì lúc đó những bức tường cũng không nhất thiết phải xây cao đến tận trần nhà, chúng có chiều cao hoàn toàn tự do nên đã tạo cho các không gian được nối liền một cách liên tục.

cite_radieuse02.jpg

Năm 1943, Le Corbusier sáng tác ra “Le Modulor” (Môđun vàng) được coi như kích thước vàng với mục đích tìm ra một kích thước chuẩn, cái sẽ tạo ra một sự hài hoà giữa cơ thể con người và không gian kiến trúc. Theo ông, kích thước này được sinh ra dựa trên sự quan sát thiên nhiên, sự nghiên cứu từ những tác phẩm nghệ thuật, cũng như chỉ số vàng của toán học đã được nghĩ ra từ thời cổ đại. Với chiều cao đỉnh đầu của con người 1,83m (chỉ số này cũng tương ứng với chiều cao trung bình của người châu Âu), khi cánh tay vươn thẳng tạo nên độ cao 2,26m sẽ là chiều cao của trần nhà. Ông cho rằng “Le Modulor” là số đo sẽ thay thế cho hệ đo mét (m) và được sử dụng cho những nhà thiết kế chứ không dành cho người thợ nề xây dựng công trình. Điều đó cũng chỉ chứng minh rằng “Le Modulor” là chỉ số cho mặt cắt luôn được ông tập trung tới.

5007978964_ef4ae25e14.jpg

 Nói tới kiến trúc không thể không nhắc tới bối cảnh xã hội. “Le Modulor” được ứng dụng lần đầu tiên cho khu nhà tập thể “Cité Radieuse” tại thành phố Marseille của Pháp. Công trình được coi như một thành phố thu nhỏ bao gồm những căn hộ và nhiều khu dịch vụ đặt tổng hợp bên trong. Nó được xây trong vòng năm năm (1947 – 1952) đúng vào thời điểm sau chiến tranh thế giới thứ hai, lúc nước Pháp đang cần rất nhiều chỗ ở cho người dân. Với chiều cao trần nhà chỉ có 2,26m đã mang tới được tính kinh tế trong xây dựng, rất phù hợp với thời điểm phải xây dựng hàng loạt.

Nhưng còn một khía cạnh khác về tư tưởng thiết kế của Le Corbusier đã thúc đẩy ông khai thác không gian theo mặt cắt, là ngay từ những ngôi biệt thự đầu tiên mà ông thiết kế đã có sự thay đổi không gian của các công năng theo chiều cao, mà ông hay gọi là không gian “thông tầng”. Trong nhà ở truyền thống châu Âu thì việc bố trí các công năng luôn theo một định luật “chính phụ”. Tức là công năng nào chính sẽ có vị trí quan trọng và đặc biệt mang diện tích lớn hơn. Le Corbusier vẫn luôn giữ tư tưởng này nhưng ông luôn tìm kiếm đến chiều cao nhiều hơn là diện tích. Nhìn trên mặt bằng thì diện tích của những công năng có thể tương tự như nhau, nhưng trên mặt cắt những công năng nào quan trọng hơn sẽ có chiều cao lớn hơn. Đó cũng là lý do tại sao chỉ số của “Le Modulor” rất hợp lý, vì độ cao 2,26m luôn được ông ứng dụng cho những công năng có chiều cao thấp.

Để nói tới chủ đề về nhà ống thì mặt cắt phải càng được quan tâm hơn nữa. Lý do đơn giản vì ngôi nhà đã bị hạn chế bởi hai bức tường bên. Không gian mặt bằng nhiều khi rất hẹp nên sự tổ chức mất rất nhiều tự do. Cấu trúc không gian lúc đó có hấp dẫn hay không chỉ trông chờ vào mặt cắt. Ba ngôi nhà ống giới thiệu sau đây có ba tính cách khác nhau, nhưng đều có chung một điểm là sự liên hệ không gian rất khăng khít giữa các tầng với nhau. Các kiến trúc sư tìm tòi và khai thác không gian bên trong luôn được rộng hơn, sáng hơn và mong muốn tạo ra những “tập tính” mới trong lối sống. Nhưng tất nhiên họ cũng không hề quên đi bối cảnh xung quanh tồn tại trước đó, nơi nhân chứng của lịch sử vẫn luôn trường tồn.

ImageHandler3.jpg

 Mặt cắt những căn hộ trong khu nhà tập thể “Cité Radieuse”, sự sắp đặt quay đầu của hai căn hộ để tổng chiều cao ít nhất. Nhìn trên mặt bằng thì diện tích của những công năng có thể tương tự như nhau, nhưng trên mặt cắt những công năng nào quan trọng hơn sẽ có chiều cao lớn hơn. Ngay ở trong những căn hộ tập thể nhưng Le Corbusier vẫn luôn tìm kiếm những không gian “thông tầng”, một trong những yếu tố chỉ thường gặp ở nhà ở tư nhân.

P1010958.jpg

ImageHandler4.jpg  ImageHandler5.jpg

Không gian thông tầng ở phòng khách trong khu nhà tập thể “Cité Radieuse” (ảnh chụp ở hai căn hộ khác nhau).

Theo Sài Gòn tiếp thị