Khu ở bền vững tại Hà Nội dưới góc độ quy hoạch

64

“Phát triển bền vững” hiện là một vấn đề toàn cầu. Rất nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ đã đưa “phát triển bền vững” vào chương trình nghị sự và lồng ghép thành những nội dung thiết yếu của mọi chiến lược, mục tiêu thiên niên kỷ và chính sách phát triển.

KhuO4.jpg

Trong xây dựng và quy hoạch đô thị – lĩnh vực gây ra 50% lượng khí gây hiệu ứng nhà kính, tiêu thụ 50% năng lượng, 48% đất đai, tài nguyên thiên nhiên và 42% nguồn nước – lớn nhất trong số mọi hoạt động sống của con người – phát triển bền vững càng trở nên quan trọng, và được cụ thể hóa thành hai nội dung: 1. Quy hoạch đô thị có tính bền vững và 2. Xây dựng công trình phù hợp với những nguyên tắc sinh thái.

Quy hoạch bền vững và kiến trúc sinh thái, khi được áp dụng vào thực tế, sẽ bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống cho loài người và các sinh vật, nâng cao chất lượng cư trú, tăng cường mối quan hệ cộng đồng, thiết lập sự bền vững về mặt xã hội và đảm bảo tương lai cho đô thị cùng mọi cư dân của đô thị đó hiện nay cũng như mai sau.

Có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản sau mà một dự án xây dựng nói chung và khu ở đô thị nói riêng cần đáp ứng để đạt tiêu chuẩn sinh thái và bền vững:

… Tận dụng tất cả các lợi thế của khu đất xây dựng (địa hình, hướng nắng, hướng gió, nước, cây xanh, cảnh quan thiên nhiên…)

… Sử dụng các phương tiện giao thông công cộng phục vụ tại chỗ (xe buýt, tàu điện ngầm, tàu điện phố)

… Đỗ xe hơi tập trung và tách biệt khỏi hệ thống đường đi bộ

… Thiết kế không gian mở và công trình công cộng cho các hoạt động cộng đồng và tạo sự hấp dẫn cho không gian đô thị suốt 24 giờ trong ngày và 365 ngày trong năm

… Sử dụng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và xây dựng những công trình có hiệu quả về mặt năng lượng

… Đóng kín chu trình nước tại chỗ

… Tiết kiệm nước máy, sử dụng nước mưa và nước xám đã qua xử lý thay cho nước máy đối với một số mục đích sử dụng nhất định như tưới cây, lau chùi, xả bồn cầu

… Sử dụng các vật liệu tại chỗ, thân thiện với môi trường và người sử dụng

… Tái sử dụng các vật liệu cũ

… Phân loại rác thải ngay trong phạm vi từng hộ gia đình

… Tăng cường giao tiếp cộng đồng và trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tri thức

… Thiết lập mối liên hệ xóm giềng mật thiết

… Đảm bảo tính công bằng xã hội, tạo điều kiện cho những nhóm dân cư hạn chế về điều kiện tiếp cận và hòa nhập như người nước ngoài, người thuộc sắc tộc thiểu sổ, người khuyết tật, người có thu nhập thấp…

… Ban hành chương trình khung về phát triển bền vững cho từng vùng, khu vực.

Cung cấp nhà ở cho hơn 6 triệu cư dân Hà Nội sau khi Thủ đô mở rộng địa giới hành chính là một bài toán khá nan giải, chỉ xét riêng dưới góc độ đảm bảo tiêu chuẩn 20 m2/người mà Bộ Xây dựng đặt ra và phấn đấu đạt được đến năm 2020. Để có thể hiện thực hóa được ý tưởng xanh trong quy hoạch và xây dựng, cần nhất là phải có con người “xanh” với ý tưởng “xanh” và cách suy nghĩ cũng “xanh”, tức là phải biết cân bằng giữa hai yếu tố “kinh tế” và “sinh thái”, hay nói khác đi là phải đặt lợi ích môi trường dài hạn lên trên lợi ích thương mại thuần túy trước mắt.

Khi đề xuất mô hình ở mới tại Hà Nội, ta không thể bỏ qua khía cạnh kinh tế, cụ thể hơn là giá nhà đất mặt phố và tính sinh lợi rất cao của loại hình nhà ở này, bất kể ở trung tâm thành phố hay ngoại ô, trong nền kinh tế thị trường đang phát triển theo bề rộng. Với mô hình ở hiện nay, người ta tận dụng căn nhà mặt phố làm nơi kinh doanh, kết hợp với nhu cầu ở. Sự xuống cấp về hạ tầng đô thị đang tác động tiêu cực và trực tiếp lên cuộc sống hàng ngày của cư dân với ô nhiễm khói, bụi, rác thải, tiếng ồn… Bệnh tật cũng từ đó mà phát sinh. Một số hộ gia đình không hài lòng với điều kiện sống như vậy hoặc bản thân không có nhu cầu kinh doanh nên đã dời đi nơi khác tốt hơn hoặc chuyển vào bên trong ô phố cho đỡ bị ảnh hưởng. Họ nhượng lại căn nhà mặt phố của mình cho những người dân sống ở bên trong song có nhu cầu kinh doanh, buôn bán muốn chuyển ra bên ngoài hoặc cho người từ nơi khác đến. Chủ nhân mới chấp nhận những tác động xấu đó trong nhiều năm liền, thậm chí cả những tổn hại về sức khỏe cùng rủi ro về giao thông, để thu lợi nhuận. Đến khi tích lũy được đủ khả năng tài chính mua được một chỗ ở khác tiện nghi hơn, họ lại bán chỗ ở hiện tại cho người khác có nhu cầu đến sinh cơ lập nghiệp. Cứ thế, chu trình này tiếp diễn không ngừng, gây xáo trộn về nhân khẩu trong đô thị.

KhuO1.jpg

Mô hình ở mới vẫn xem xét yếu tố lợi nhuận của căn nhà mặt phố như một yếu tố không thể tách rời và hoàn toàn tự nhiên, như một nhu cầu tất yếu của một xã hội năng động trong nền kinh tế thị trường phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu trong tương lai không xa. Điều tạo nên sự khác biệt ở đây chính là sự tách biệt chức năng ở và chức năng kinh doanh, song vẫn gắn kết khéo léo hai chức năng cơ bản này trong cùng một khu vực. Theo quan điểm này, một khu ở xanh tương lai của Hà Nội sẽ gồm hai lớp:

… Lớp vỏ ngoài: bao gồm các công trình dịch vụ tổng hợp như siêu thị, các cửa hàng tự kinh doanh hoặc cho thuê (quy mô lớn và trung bình) và các ki-ốt (quy mô nhỏ).

… Lớp lõi trong: bao gồm các nhóm nhà khác nhau về kiểu cách (biệt thự, nhà liền kề, chung cư thấp tầng và chung cư cao tầng) được phân khu bởi hệ thống đường nội bộ cùng hệ thống không gian mở tương ứng đi kèm, và các công trình văn hóa, phúc lợi cho toàn bộ khu ở bố trí tại trung tâm.

Lớp vỏ ngoài phát huy được hết giá trị kinh tế, thương mại đồng thời bảo vệ lõi bên trong khỏi những tác động tiêu cực như đã đề cập đến ở trên. Khoảng cách từ chỗ ở bên trong đến địa điểm kinh doanh bên ngoài chỉ mất vài ba phút đi bộ. Như vậy, mô hình ở mới được tổ chức không quá phức tạp, theo đúng nguyên tắc dành cho các nước đang phát triển là “đơn giản song hiệu quả”, và tỏ ra ưu việt hơn mô hình ở hiện tại.

Cùng với sự tách biệt chức năng kinh doanh khỏi chức năng ở, mô hình khu dân cư mới còn có sự tách biệt về giao thông cơ giới khỏi giao thông đi bộ và đi xe đạp. Theo đó, ô tô và xe gắn máy được trông giữ tập trung ở vành ngoài khu ở, trong các nhà xe, bãi đỗ xe xen kẽ với các công trình dịch vụ tổng hợp rải đều theo các cạnh của ô phố. Bán kính phục vụ được tính toán trong khoảng 250 – 300m theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cũng như trong khu vực, để cho người dân có thể di chuyển giữa nơi ở và chỗ đỗ xe trong thời gian 5 – 10 phút. Các phạm vi phục vụ đỗ xe này bao trùm toàn bộ khu ở, và đan cài nhau để các hộ gia đình trong phạm vi giao thoa có nhiều hơn một lựa chọn đỗ xe. Bên cạnh sự tiện lợi như phục vụ bất cứ khi nào người dân có nhu cầu, 24/24h trong ngày, cần có sự tính toán thu phí trông xe một cách hợp lý. Sức chứa của các bãi đỗ xe dựa trên số lượng phương tiện xe trong khu ở, có tính đến sự gia tăng trong tương lai, nhất là xe hơi, đồng thời căn cứ trên tần suất có khách đến thăm của người dân. Thông tin phục vụ cho nghiên cứu quy hoạch này có thể được tiến hành điều tra tại chỗ trước khi lập dự án.

Mô hình giao thông khu ở là vấn đề đầu tiên cần được nghiên cứu, kết hợp với cách thức tiếp cận công trình (Nếu coi một khu ở giả định là một ô phố hình vuông có 4 tuyến phố bao bọc, trong đó có một trục đường chính thì không gian khu ở đó được tổ chức như hình bên).

Khái niệm chỉ giới đường đỏ trong quy hoạch không có gì thay đổi. Do cách tổ chức khu đỗ xe ở vành ngoài nên có thêm thuật ngữ “chỉ giới xanh”, là ranh giới dừng xe cơ giới không cho tiếp cận sâu vào bên trong lõi khu dân cư là không gian sinh sống. Phía cuối mỗi đường cho xe cơ giới tiếp cận có chốt chặn. Trong trường hợp khẩn cấp như cứu thương hay cứu hỏa thì các trụ này được tháo chốt cho tụt xuống bằng mặt đường, sau đó được điều khiển trở về vị trí cũ. Từ “chỉ giới xanh” vào bên trong lõi khu ở, đi bộ hoặc đi xe đạp là cách tiếp cận duy nhất được phép đến mỗi căn nhà.

Để tăng cường năng lực, hệ thống giao thông công cộng (phổ biến nhất hiện nay là xe buýt) được phổ cập đến từng khu ở. Mỗi khu ở nên có ít nhất 1 tuyến giao thông công cộng chạy ngang qua. Các bến đỗ trên tuyến đảm bảo khoảng cách 500 – 600 m, và tạo điều kiện để người dân tiếp cận từ vị trí xa nhất trong khu ở trong vòng 10 phút đi bộ.

Với các thông số cơ bản như trên ta có thể xác định quy mô diện tích một khu ở điển hình không nên vượt quá 36 ha (hình vuông cạnh 600 m x 600 m), rất phù hợp với đại đa số các khu ở tại Hà Nội hiện nay. Trong trường hợp diện tích lớn hơn thì cần chia thành 2 hoặc 3 đơn vị nhỏ có diện tích 20 – 30 ha/khu bằng hệ thống đường khu vực.

Quan điểm cần được quán triệt khi thiết kế, quy hoạch trong tương lai là mỗi khu ở là một thành phần hữu cơ của một thực thể đô thị sống động và lành mạnh, đóng góp tích cực vào cảnh quan chung. Cụ thể hơn:

… Mỗi lối vào khu ở là một cổng chào, tạo hiệu ứng thị giác theo điểm (điểm nhấn);

… Mỗi căn nhà mặt phố phải tuân thủ quy định về chiều cao, hình dáng, màu sắc… tạo nên nhịp điệu nhà mặt phố, tạo hiệu ứng thị giác theo tuyến;

… Mỗi công trình trông ra giao lộ là một đơn vị tổ hợp nên hiệu ứng thị giác vành tròn (hoặc hiệu ứng mảng, hiệu ứng quảng trường công cộng).

KhuO2.jpg

Mô hình phân khu căn cứ theo loại nhà là một điểm mới cần được nghiên cứu áp dụng, để tạo nên sự đồng nhất trong mỗi nhóm nhà và sự đa dạng trong toàn bộ khu dân cư. Về cơ bản có 3 loại nhà ở:

… Biệt thự: chủ yếu dành cho người có thu nhập cao

… Nhà khối ghép: chủ yếu dành cho người có thu nhập khá và trung bình khá

… Chung cư thấp tầng và cao tầng: chủ yếu dành cho người có thu nhập trung bình và thu nhập thấp. Tuy nhiên có thể xen kẽ các căn hộ chất lượng tiêu chuẩn cho người có thu nhập trung bình hoặc thấp và chất lượng cao cho người có thu nhập khá.

Các loại hình nhà ở trên được tổ hợp tạo thành cấu trúc khu ở. Tỷ lệ phần trăm từng loại nhà ở thay đổi theo từng trường hợp, do đó cần được nghiên cứu cụ thể và khảo sát tại chỗ, để có thể tạo ra một cấu trúc khu ở hợp lý với những dữ liệu đầu vào dưới đây:

… Nguyện vọng về loại hình nhà ở

… Khả năng chi trả của người ở

… Khả năng vay và thanh toán của người ở, có sự hỗ trợ của chính quyền các cấp.

Ngoài ra, việc bố trí nhóm nhà cần xem xét trên khía cạnh sử dụng năng lượng mặt trời và tận dụng các yếu tố có lợi như chiếu sáng và thông gió tự nhiên để đảm bảo tiện nghi vi khí hậu. Hai nguyên tắc cơ bản sau áp dụng cho Hà Nội và vùng phụ cận:

… Trên hướng Bắc – Nam và Tây Bắc  – Đông Nam, công trình đơn lẻ và thấp tầng bố trí trước còn công trình có khối tích lớn, cao tầng đặt phía sau.

… Khoảng cách (D) giữa hai công trình so với chiều cao (H) của công trình đứng trước đảm bảo D lớn hơn hoặc bằng H, kết hợp hai điều kiện tránh bị sấp bóng và đảm bảo thông thoáng.

KhuO3.jpg

Việc phân khu theo loại hình như trên đồng thời là cơ sở để quy hoạch hệ thống không gian mở và công trình công cộng, thu gom và tích trữ nước mưa và nước xám đã qua xử lý, và cung cấp năng lượng. Cả 3 mô hình này đều có một điểm chung là hệ thống phân cấp 3 bậc:

… Bậc I: Từng căn nhà

… Bậc II: Nhóm nhà

… Bậc III: Toàn khu ở

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng đã đem lại cho Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng nhiều cơ hội để phát triển bền vững, song cũng tạo ra nhiều khó khăn và thách thức lớn phải giải quyết để có thể đạt được mục đích. Là một quốc gia đi sau trong quá trình phát triển xanh, Việt Nam có những thuận lợi nhất định, thể hiện ở khía cạnh có thể tham khảo, học hỏi, rút kinh nghiệm của những nước đi trước để tránh lặp lại những sai lầm không đáng có, đồng thời sẵn sàng đón nhận việc chuyển giao công nghệ và mô hình tiên tiến vận dụng vào điều kiện thực tế của Việt Nam. Khi lĩnh hội được điều này, Việt Nam hoàn toàn có thể đi tắt đón đầu trào lưu kiến trúc sinh thái và thiết kế bền vững mà toàn thế giới đang hướng tới.

TS. KTS Nguyễn Quang Minh
Trường Đại học Xây dựng
Nguồn ảnh: Tác giả, internet
Theo Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 05-2011