Thiết kế và quy hoạch khu Đại học tập trung

279

Vai trò “nhạc trưởng” của quy hoạch tổng thể (master plan) ở đây vô cùng quan trọng. Quy hoạch tổng thể hoạch định hệ thống giao thông cùng với các trục bố cục không gian của toàn hệ thống và phân khu chức năng.

Xử lý kiến trúc không gian hình khối và các giải pháp trong quy hoạch chi tiết từng cấu trúc thành viên là mục tiêu tạo ra bản sắc của từng trường.

 1. Mở đầu

Một trong những định hướng quan trọng hàng đầu của Nhiệm vụ Quy hoạch xây dựng hệ thống Đại học, Cao đẳng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (Quyết định số 699/QĐ-TTg và 700/QĐ-TTg ngày 01/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch xây dựng Hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng tại vùng TP. Hồ Chí Minh và vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050) là tạo lập những Khu Đại học tập trung (Khu ĐHTT) đáp ứng điều kiện đào tạo – nghiên cứu hiện đại cho các trường được di dời từ Trung tâm thành phố, phù hợp với tinh thần của “Quy hoạch mạng lưới các trường Đại học, Cao đẳng giai đoạn 2006-2020 (Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ) và “Đề án đổi mới toàn diện Giáo dục Đại học (Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020).

Khu ĐHTT được biết đến như một xu hướng tiên tiến trong quy hoạch thiết kế các trường Đại học nói chung, nhất là trong kinh nghiệm quốc tế thời kỳ tái cấu trúc mạng lưới trường tại các Đô thị lớn. Những mô hình với cấu trúc chung đa phương và song phương nhằm cải biến triệt để phương thức xây dựng riêng lẻ từng trường để đi tới những khả năng khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên chính là đất đai – cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất và con người đã càng ngày minh chứng được tính ưu việt.

Tuy nhiên, để đạt được tính hiệu quả cao trong quy hoạch và sử dụng, Khu ĐHTT – như một Đô thị đặc thù, chịu khá nhiều tác động của các yếu tố khác nhau. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập tới những yếu tố cơ bản nhất làm cơ sở cho những giải pháp mô hình Khu ĐHTT thích ứng với điều kiện Việt Nam nói chung và từng địa bàn nói riêng.

 2. Những yếu tố tác động chính

Về mặt bản chất, tổ chức không gian kiến trúc quy hoạch các trường Đại học hiện đại thế kỷ 21 đều đối mặt với 5 bài toán phải giải quyết, đó là Công năng (Funtionaly), Cộng đồng (Community), Giao thông (Mobility), Ứng xử với địa hình tự nhiên (Naturaly) và Bản sắc (Identity). Là một tổ hợp các trường Đại học, bài toán công năng, giao thông, ứng xử với địa hình nhằm hướng tới cấu trúc hiệu quả nhất về hạ tầng kỹ thuật, còn hai bài toán cộng đồng và bản sắc lại nhằm hướng tới hiệu quả về xã hội – mức giới hạn cái CHUNG để đảm bảo cái RIÊNG.

• Yếu tố Nhu cầu (đối với quy mô cơ cấu thành viên, cơ sở vật chất kỹ thuật và đất đai): Mô hình tổ chức không gian nào thích hợp cho một Khu ĐHTT trước hết phụ thuộc vào quy mô sinh viên và số lượng trường thành viên. Xu hướng gia tăng quy mô cho một trường Đại học dẫn tới sự thay đổi trong phân loại trường. Theo đó, thịnh hành ở châu Âu, Mỹ và Australia trường xếp loại nhỏ có quy mô dưới 8.000 sinh viên, trường trung bình là dưới 15.000 sinh viên, trường lớn có từ 15.000 sinh viên trở lên, các trường siêu lớn có quy mô trên 30.000 sinh viên. Thông thường, các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, đất đai có những sự khác biệt lớn ở các ngưỡng phân loại, thay vì đơn thuần theo đầu sinh viên. Khi tập trung trong một Cụm, quy mô sinh viên toàn khu tác động trực tiếp tới tính hiệu quả của mô hình tổ chức không gian thông qua các giải pháp xác lập các bán kính phục vụ, quy mô phục vụ và từ đó tới các giải pháp tổ chức giao thông. Tương tự như vậy, số lượng các trường thành viên cũng tác động tới việc xác lập các phần tử chung đa phương và song phương trong toàn Khu.

• Yếu tố Liên thông: Trước hết, đây là yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong khai thác 3 nguồn tài nguyên quan trọng của trường Đại học là đất đai và hạ tầng; cơ sở vật chất kỹ thuật – nhà và công trình; con người – lực lượng cán bộ giảng dạy. Đồng thời, liên thông để loại bỏ phương thức xây từng trường đơn lẻ. Cũng chính vì vậy mô hình mở, chống khép kín là tiền đề cho việc giải quyết bài toán về tính cộng đồng trong quy hoạch thiết kế trường Đại học hiện đại.

• Yếu tố Đô thị và quy hoạch Đô thị tác động đến việc tổ chức không gian Khu ĐHTT thông qua vị trí (địa lý) của Khu ĐHTT trong quy hoạch của Đô thị và mối quan hệ tương hỗ giữa Đô thị và Khu ĐHTT. Sự tác động này thể hiện rất rõ xuất phát từ khả năng Khu ĐHTT, trong quá trình hình thành và phát triển, có những yếu tố tạo thị rất mạnh (các nhóm dịch vụ văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục… cũng như những kết nối hạ tầng…). Từ đó việc lựa chọn vị trí cho Khu ĐHTT trở thành rất quan trọng góp phần phát huy tính tương hỗ hiệu quả của Khu ĐHTT và Đô thị.

Như vậy, 3 yếu tố đầu mang tính định hướng cho tính chất của Khu ĐHTT, còn 3 yếu tố sau sẽ tác động chủ yếu đến mô hình tổ chức không gian Khu ĐHTT thông qua các cấu trúc dân cư, kinh tế xã hội, chức năng và quy hoạch.

• Yếu tố cấu trúc dân cư, kinh tế xã hội như đã đề cập, Khu ĐHTT là một Đô thị đặc thù mà ở đó tính đặc thù rõ nét nhất là thành phần cư dân và hoạt động “kinh doanh” chủ yếu.

Cấu trúc dân cư chủ yếu là sinh viên, nghiên cứu sinh với độ tuổi phần lớn trung bình trong khoảng từ 18 – 30 tuổi. Ngoài ra là đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ, thành phần dịch vụ Đô thị khác và cuối cùng là các nhân khẩu phụ thuộc (gia đình). Để phục vụ cho “thành phố trẻ” với hoạt động chủ yếu là đào tạo và nghiên cứu và sản phẩm là con người qua đào tạo tất phải tạo lập những không gian đặc thù.

• Yếu tố cấu trúc chức năng tác động đến tổ chức không gian Khu ĐHTT thông qua những điểm chủ yếu sau: 1.Cấu trúc ngành nghề của các trường thành viên tác động tới khả năng thiết lập các cơ sở Chung (đa phương và song phương) cũng như cơ sở Riêng của các trường; 2.Tổ chức không gian các cơ sở Chung và Riêng được coi như những cấu trúc không gian đặc thù so với của các trường riêng lẻ; 3.Quy mô, vị trí của các cơ sở Chung và Riêng cũng như các giải pháp tổ chức giao thông, các tuyến liên kết các cơ sở này trong toàn tổ hợp.

• Yếu tố cấu trúc quy hoạch: tính đặc thù của quy hoạch Khu ĐHTT được thể hiện rất rõ rằng: Một mặt, từng trường Đại học thành viên đều có những Khu chức năng Riêng của mình (nổi bật nhất là Khu Học tập – Nghiên cứu), mặt khác trong tổng thể quy hoạch, các trường lại hình thành Khu các trường bên cạnh các Khu chức năng khác như Khu Trung tâm Thể dục thể thao, Khu Trung tâm Hội nghị hội thảo, Khu Trung tâm Thư viện Thông tin và các Khu ở. Do vậy, trong quy hoạch tổng thể, tính kết nối giữa các trường nói chung và các cấu trúc chức năng của các trường nói riêng cũng như khả năng tiếp cận của chúng với các Trung tâm luôn là bài toán đa chiều cần được giải trong quy hoạch tổng thể.

TapTrung2.jpg

                        Khu Đại học TP.Adelaide (Australia)
 
3. Một số giải pháp

Thông qua những tổng hợp trên kinh nghiệm quốc tế và trải nghiệm thực tiễn, thông qua những phân tích các nhóm yêu cầu và yếu tố tác động trực tiếp tới mô hình tổ chức không gian Khu ĐHTT, dưới đây sẽ đề xuất một số mô hình về quy mô, cấu trúc chức năng cũng như những giải pháp cho những khu chức năng chính.

• Mô hình 1: Liên hợp các trường độc lập về đào tạo có các khu sử dụng chung đa phương và song phương.

Khu Đào tạo – Nghiên cứu có thể bố trí thành 1 khu hoặc từ 2-5 hiệu khu, ưu tiên bố trí các trường cùng ngành dọc liền kề bên nhau để tổ hợp các phần tử song phương. Các Trung tâm với vai trò là trọng tâm của tổng thể có thể được bố trí tập trung theo Khu hoặc theo Tuyến, theo đó định hướng bố cục cho toàn tổ hợp hoặc phát triển theo mô hình hướng tâm, hoặc hình quạt hoặc theo Tuyến.

Về quy mô, Khu ĐHTT theo mô hình này có thể phân thành 2 loại:

– Loại 1: Số lượng trường thành viên khoảng từ 6 – 12 trường, với tổng quy mô khoảng 80.000 – 120.000 sinh viên, diện tích đất từ 500 – 1.000 ha.

– Loại 2: Số lượng trường thành viên từ 4 – 6 trường, với tổng quy mô khoảng 30.000 – 50.000 sinh viên, diện tích đất từ 200 – 500 ha.

Ở đây cũng lưu ý rằng về quy mô, ngưỡng hiệu quả là 80.000 – 100.000 sinh viên cùng với số cơ sở nghiên cứu triển khai khác, ngưỡng 100.000 – 120.000 sinh viên là ngưỡng không khuyến cáo, chủ yếu dành cho dự báo phát triển có kiểm soát.

• Mô hình 2: Liên hợp tương hỗ giữa trường lớn và nhóm trường nhỏ.

Theo mô hình này (trên thực tiễn cần di dời của các trường trên địa bàn Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh nơi có nhiều trường lớn, trường trọng điểm), từ  1- 2 trường có quy mô lớn có thể là động lực phát triển tương hỗ với nhóm trường nhỏ trong một Khu ĐHTT. Ngoài các bài toán về các phần tử chung đa phương như trường hợp mô hình 1, ở đây các phần tử chung song phương sẽ phát huy được khá mạnh tính hiệu quả trong đầu tư và sử dụng. Mô hình này đặc biệt đáng chú ý với các trường công lập và thuộc nhóm đầu tư chủ yếu bằng ngân sách nhà nước. Quy mô của mô hình này khoảng 20.000 – 30.000 sinh viên với từ 3 – 5 trường thành viên và quỹ đất khoảng 200 – 300 ha.

• Mô hình 3: Khu ĐHTT đa cấp là mô hình tập hợp các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp có các khu sử dụng chung.

Đây là dạng mô hình nhỏ của Khu ĐHTT với cấu trúc theo nguyên lý của các mô hình trên, tuy nhiên không chú trọng tới các phần tử chung song phương do quy mô và cấp học khác nhau.

Mô hình này rất có điều kiện phát triển ở quy mô một tỉnh bới có thể thực hiện bài toán đầu tư quy hoạch tập trung trong hệ thống đào tạo trên địa bàn. Mô hình này cũng khá cơ động và linh hoạt trong các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cho những khu đất có quy mô nhỏ (100 – 150 ha) dành bố trí 1- 2 trường di dời từ vùng nóng kết hợp với hệ thống trường trên khu vực bản địa.
 
4. Một số giải pháp quy hoạch kiến trúc chung

Một trong những bài toán khó khăn nhất cần giải trong tổ chức không gian Khu ĐHTT là giải quyết hài hòa giữa tính cộng đồng, tính mở trong toàn khu với tính bản sắc của từng trường, từng cấu trúc thành viên để thiết lập nên bản sắc của toàn Khu ĐHTT.

Do vậy, vai trò “nhạc trưởng” của quy hoạch tổng thể (master plan) ở đây vô cùng quan trọng. Quy hoạch tổng thể hoạch định hệ thống giao thông cùng với các trục bố cục không gian của toàn hệ thống và phân khu chức năng. Đồng thời với sự phân bổ mật độ, miền xanh, mặt nước, chiều cao điểm nhấn, kiến trúc cảnh quan theo các trục phát triển đặc trưng của không gian học đường và nghiên cứu, tổ hợp các không gian chức năng, giao lưu, liên kết… nhằm tạo nên một sự thống nhất, hài hòa cũng như ngôn ngữ đặc thù của toàn tổ hợp; Xử lý kiến trúc không gian hình khối và các giải pháp trong quy hoạch chi tiết từng cấu trúc thành viên là mục tiêu tạo ra bản sắc của từng trường.

Trong xu thế phát triển mạnh của Giáo dục Đại học, tính giao lưu, cộng đồng nhằm tạo môi trường sư phạm với những quần thể tổ hợp công trình có kiến trúc mở, đóng một vai trò quan trọng. Sự ngăn cách cứng giữa các trường, các cấu trúc thành viên cần được hướng tới thay thế mang tính ước lệ bằng cây xanh, mặt nước, đường giao thông… Tổ chức giao thông, một mặt, do quy mô diện tích lớn, vẫn đảm bảo chức năng lưu thông chuyên chở đô thị, mặt khác, lại trở thành nhiệm vụ tổ chức không gian liên kết với nội hàm cơ bản là thiết lập các hệ thống đường đi bộ, không gian đi bộ, được hỗ trợ bởi các tuyến giao thông không khói và các không gian thư giãn hay phòng học ngoài trời.

Bài toán Ứng xử với thiên nhiên cũng xuất phát từ tính đặc thù của môi trường sư phạm nhằm tạo lập sự thân thiện với môi trường, đối thoại để đi đến hài hòa với thiên nhiên. Ngoài việc cần duy trì một mật độ cây xanh, mặt nước cao (40% ữ 50%) còn cần thực thi những nguyên tắc như tránh san ủi mặt bằng, tránh giao cắt phá hoại sơn địa tạo lập tầng bậc sinh thái từ công trình – công trình xanh; Cụm công trình – Tổ hợp không gian sinh thái và cuối cùng, thành phố Đại học – Công viên sinh thái.

 Một số yêu cầu với các Khu chính

• Khu các Trung tâm: Có thể bao gồm các Trung tâm Hội nghị Hội thảo, Trung tâm Thể dục thể thao, Trung tâm Thư viện – Lưu trữ, Trung tâm Hội chợ Triển lãm, Trung tâm Điều hành, Trung tâm Thương mại dịch vụ… Trong các Trung tâm kể trên có những Trung tâm mang tính hướng nội (phục vụ các hoạt động Đào tạo, Nghiên cứu của các trường) nhiều hơn (như Thư viện Lưu trữ, Điều hành…) có những Trung tâm mang tính hướng ngoại (Trung tâm Hội chợ Triển lãm, Trung tâm Thương mại dịch vụ) và có những Trung tâm vừa hướng nội, vừa hướng ngoại (Trung tâm Hội nghị Hội thảo và Trung tâm Thể dục thể thao). Do vậy, ta thấy các hoạt động ngay dù hướng nội, nhưng tính mở rất cao bởi đối tượng phục vụ cho tất cả các trường, đồng thời còn là nơi tổ chức sự kiện không những chỉ với từng trường cho toàn khu, mà còn có khi là cho đô thị nói chung.

Các trung tâm đều có khối tích, diện tích lớn nên hầu như đều đóng vai trò điểm nhấn trọng tâm trong toàn bố cục. Các trung tâm có thể được bố cục quy hoạch vào một khu trung tâm có diện tích đủ lớn (đa phần là sự kết hợp của 4 trung tâm đặc trưng nhất như Trung tâm Hội nghị Hội thảo, Trung tâm Thư viện – Lưu trữ, Trung tâm Điều hành và Trung tâm Thể dục thể thao). Các Trung tâm Hội chợ triển lãm và Trung tâm Thương mại dịch vụ với đặc thù hoạt động thường bố trí ở những khu vực giao thoa với đô thị.      
 
• Khu Đào tạo – Nghiên cứu: Tùy theo quy mô và số lượng trường có thể bố trí thành các Hiệu khu (từ 1 đến 3 trường trong 1 Hiệu khu). Đặc điểm đây chính là phần RIÊNG quan trọng của từng trường bao gồm các khối điều hành, khối học chung, khối học – nghiên cứu các khoa, khối thực hành và khối thể chất (phục vụ chương trình giáo dục thể chất). Phần nhiều, các đơn vị Nhà học khoa sẽ tạo nên những tiết điệu của bố cục, còn Nhà học chính và các công trình công cộng sẽ tạo lập các điểm nhấn đặc thù. Khu Đào tạo – Nghiên cứu được tổ hợp theo hướng tạo mọi điều kiện cho những khả năng tiếp cận tối ưu giữa các trường với Khu các Trung tâm.

•  Khu Ký túc xá: Khu Ký túc xá sinh viên trong Khu ĐHTT được coi như một khu chức năng chung đặc thù nên hạn chế việc quy hoạch xây dựng Khu Ký túc xá riêng cho từng trường mà có thể bố trí tập trung hoặc phân thành 2 đến 5 Tiểu khu, tương ứng với các Hiệu khu. Nhà ký túc xá tổ chức theo nhóm với các mẫu đa dạng cả về số tầng cao và giải pháp kiến trúc hình khối. Các không gian công cộng bao gồm các dịch vụ ăn uống, sửa chữa, văn phòng phẩm, y tế, thương mại giáo dục và đặc biệt là sân bãi, công trình rèn luyện thể chất cũng như những không gian cây xanh, mặt nước…

 5. Kết luận

Quy hoạch Khu ĐHTT không có nghĩa là quy hoạch thiết kế nhiều trường Đại học trong một khu đất. Tổ chức không gian Khu ĐHTT chịu nhiều tác động của các yếu tố và yêu cầu khác nhau. Giải những bài toán đó trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc cơ bản được đúc rút từ những kinh nghiệm thực tiễn và xu hướng thiết kế hiện đại trong lĩnh vực xây dựng trường Đại học, chính là thực hiện được mục tiêu quy hoạch thiết kế xây dựng Khu ĐHTT – những Đô thị đặc thù, nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên quan trọng là đất đai – hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và con người.
 
TS.KTS.Trần Thanh Bình
Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học
Nguồn ảnh: Internet
Theo Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 05-2011