Đô thị hóa: Nét văn hóa truyền thống còn hay mất?

543

Đã từ lâu, ở Hà Nội từng đẩy mạnh các hoạt động nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với chương trình phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch – văn minh. Cuộc vận động đã có những hiệu quả cụ thể. Tuy nhiên, từ tháng 9/2008, TP đã mở rộng, trong công tác thực hiện chương trình nói trên gặp một thực tế rất đáng quan tâm. Đó là ngoại thành Hà Nội đang chuyển đổi nhanh, rất nhiều làng, xã đang và sẽ giã từ nông thôn ngàn đời, từ giã nông nghiệp muôn thủa mà tham gia vào đời sống đô thị với tư cách phường phố.

 trang9.jpg

Nét văn hóa truyền thống còn hay mất?

Đô thị hóa làm thay đổi việc sử dụng đất, chuyển từ đất canh tác thành đất đô thị, giá trị tăng lên nhiều lần, thị trường mua bán đất sôi động, xây dựng nhà cửa tràn lan thiếu quy hoạch, thiếu quản lý thống nhất của chính quyền. Đô thị hóa làng xã còn đòi hỏi cải tạo, nâng cấp hoặc xây dựng mới hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đô thị, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở các làng xã đô thị hóa hiện nay tồn tại nhiều vấn đề bức xúc. Do mạng lưới giao thông, hệ thống cấp nước, thoát nước cấp điện, thông tin… của các làng xã đô thị hóa hiện nay rất thấp, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường. Vệ sinh môi trường thấp, trở ngại đối với phát triển kinh tế và xã hội.

Sự biến đổi xây dựng kiến trúc nông thôn thành kiến trúc đô thị bên cạnh những mặt tích cực đồng thời cũng đã tác động tiêu cực đến cảnh quan môi trường cùng cuộc sống của người dân địa phương, cũng cần được nghiên cứu giải quyết trong thời gian tới.

 Việc quy hoạch và quản lý đất đai chưa được đặt đúng vị trí, vì vậy đất ở bị chia nhỏ, mua bán vòng vèo, mật độ xây dựng tăng ngoài phạm vi kiểm soát.

Về dân số, làng xã đô thị hóa ngày càng tăng, bên cạnh tăng tự nhiên còn là tăng cơ học do những người địa phương khác đến mua đất xây nhà, tìm kiếm việc làm. Dân số tăng làm mật độ dân cư cao, gây áp lực nặng nề đối với hạ tầng xã hội của làng xã vốn đã yếu kém và lạc hậu, đồng thời làm tăng nguy cơ phát triển tệ nạn xã hội.

Lối sống cộng đồng truyền thống bị tác động tiêu cực bởi lối sống thị dân “đèn nhà nào nhà ấy rạng”. Bên cạnh đó lối sống của người dân địa phương vẫn chưa bắt kịp với lối sống văn minh đô thị, nếp sống tiểu nông phần nào gây khó khăn cho việc quản lý đô thị. Lại không có định hướng kiến trúc đúng đắn nên tại nhiều phường dấu ấn kiến trúc truyền thống gần như không còn, các đặc điểm không gian kiến trúc truyền thống bị xóa nhòa, cảnh quan kiến trúc ở các phường mới đô thị hóa trở nên lộn xộn, manh mún do trình độ thẩm mỹ còn thấp, lại chưa có chính sách hướng dẫn quản lý việc xây dựng, quy hoạch chi tiết chưa đủ để làm cơ sở cho người dân xây dựng và cơ quan quản lý địa phương giám sát.

Do vậy vấn đề đặt ra là phải làm gì để giữ lại cái gốc văn hóa cổ truyền kẻo mai mốt xi măng hóa tất cả, không còn dấu gì nữa của quá khứ vốn rất đáng trân trọng. Thực ra đây là một vấn nạn. Xin nêu vài suy nghĩ, bắt đầu bằng việc xem xét vị trí làng xã cổ truyền. Làng xã vốn là hạt nhân của quốc gia. Hằng số làng – nước đã được định hình từ xa xưa. Làng xã lại là cái nôi sinh thành văn hóa dân tộc. Mỗi làng xã ven đô đã giữ gìn bảo lưu một nền văn hóa dân gian phong phú với những tập quán, phong tục, lối sống, phát âm, lễ hội, ca dao, đình, đền, chùa, miếu.v.v.. tất cả cố kết lại thành một cộng đồng cư dân vững chắc.

kienviet-dothihoaconhaymat-2.jpg

 Quá trình đô thị hóa xem ra có thể làm mất đi ít hoặc nhiều những giá trị văn hóa đó. Và quá trình đô thị hóa càng nhanh càng mạnh thì càng dễ dẫn đến sự mai một những giá trị văn hóa truyền thống cố hữu với một tốc độ đáng sợ. Kinh nghiệm các nước trong khu vực cho biết rằng quá trình đô thị hóa phải đi đôi với việc bảo tồn giữ gìn nền văn hóa truyền thống. Sự gắn bó giữa người và người là một đặc điểm của nhân loại, nhưng ở Việt Nam, sự gắn bó ấy còn là sản phẩm đặc thù của hoàn cảnh kinh tế xã hội Việt Nam, trở thành điều kiện sống còn và sức mạnh trường tồn của dân tộc.

Xây đắp hàng ngàn cây số đê và thường xuyên chống lụt chống hạn, rồi sau đó là đẩy mạnh việc khẩn hoang, không ngừng mở rộng diện tích canh tác, sự nghiệp vĩ đại đó sao có thể thành công nếu như không có sức mạnh của cộng đông? Sự tồn tại lâu đời của công xã có tác dụng củng cố tính cộng đồng làng xã. Cho đến nay, những nhà nghiên cứu công xã Việt Nam còn có những đánh giá khác nhau về tác dụng hai mặt tích cực và tiêu cực của nó, nhưng đều thống nhất nhận định về vai trò quan trọng của nó trong việc hình thành những phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam trong quan hệ hàng ngày, trước hết là tình cảm cộng đồng giữa người với người.

Cho nên nếu như chế độ làng xã đã mang lại những thuận lợi cho sản xuất và chiến đấu, thì sản xuất và chiến đấu lại củng cố thêm những truyền thống tích cực của làng xã. Đó là nhiệt tình chia sẻ với nhau mọi niềm vui và nỗi buồn. Có thể nói rằng: Tính cộng đồng của con người Việt Nam là sản phẩm tất yếu của sự nghiệp chống thiên tai dịch họa, trở thành cơ sở bền vững cho tinh thần dũng cảm phi thường và đầu óc mưu trí sáng tạo. Cho nên duy trì được căn cốt cộng đồng cư dân và đổi mới một cách thận trọng thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ nền văn hóa cổ truyền khi đi vào đô thị hóa.

Sự chuyển đổi sâu sắc nhất là từ kinh tế nông thôn lấy nông nghiệp làm chính trở thành kinh tế đô thị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại là chính. Do hoàn cảnh người nông dân đã lâu đời quen với nghề nông, không thể dễ dàng và nhanh chóng chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp, vậy sự chuyển đổi này không đủ thời gian chuẩn bị và được hướng dẫn cặn kẽ nên người dân gặp rất nhiều khó khăn, những người không thể chuyển nghề được trở thành thất nghiệp

Nguyễn Vinh PhúcTheo BaoXayDung