Cự Đà – Một miền quê thương lắm

386

Trở lại Cự Đà – Ngôi làng cổ ven đô vào một chiều cuối xuân, con đường không còn mưa bay, những mảng mây thưa xen lẫn mây dày giăng kín bầu trời. Từ trung tâm quận Hà Đông đến Cự Đà khoảng cách không xa, chỉ độ dăm cây số, nhưng phải đi len lỏi qua mấy xã, đường hẹp như con rắn luồn lách qua những làng, chật chội như nêm, lúc nào cũng ồn ã người, phương tiện xin xít chen nhau.

Từ thời Lê Trung Hưng trở về trước, làng Cự Đà có tên là Ngô Khê. Ngô là cây ngô đồng, Khê là khe nước, nghĩa là làng ven suối ngô đồng. Làng có 4 dòng họ lớn vào loại danh gia vọng tộc: Đinh, Trịnh, Vũ, Vương. Cách đây vào khoảng 350 năm, một người họ Vương từ Thanh Hoá về làng Ngô Khê định cư, khi cuộc sống đã khấm khá, trở thành một thế lực trong làng, họ đã đổi tên làng Ngô Khê thành làng Cự Đà để nhớ lại cố hương của mình. Nhà nghiên cứu Vũ Hiệp gốc người Cự Đà đã có công tìm về Thanh Hoá để nghiên cứu sự việc này mới vỡ nhẽ là tại đây cũng có một làng mang tên Cự Đà. Trong chữ Hán, Cự là lớn, Đà là triền núi, Cự Đà có nghĩa là triền núi lớn. Vào giai đoạn hưng thịnh nhất của làng, nhiều người làm ăn phát đạt ở tứ xứ đều đặt bản hiệu với chữ “Cự” lên đầu.
Nhân dân làng Cự Đà nắm được thế đất thế sông và lợi dụng tốt điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà mà cộng đồng cư dân nơi đây giàu lên nhanh chóng. Chẳng mấy chốc sự giàu sang này đã không chỉ nổi tiếng khắp vùng, lan ra nhiều thành phố của cả nước, thậm chí cả ở nước ngoài.

kienviet-songlam-110517-14.jpg

kienviet-songlam-110517-11.jpg  kienviet-songlam-110517-9.jpg  kienviet-songlam-110517-8.jpg

Khác với các làng cùng nằm trên giải đất ven sông như Đa Sĩ, Hữu Thanh Oai, Tả Thanh Oai và Khúc Thuỷ – nơi xuất phát của nhiều bậc danh nhân văn hoá lớn của đất nước-, làng Cự Đà lại nổi lên với nhiều doanh nhân lớn vào loại nhất nhì nước Nam này. Vào cuối những năm 40 của thế kỷ trước, nhiều nhà đại phú nơi đây đã xưng vương như: “vua điền địa” có tới 400 – 500 mẫu ruộng, “vua ôtô, tàu thuỷ”, “vua dệt” và những cửa hiệu buôn bán lớn. Ngày đó tại Hà Nội, Hải Phòng cả Sài Gòn nữa, những cái tên như cụ Hai Tiên, Cự Đạt, Cự Hiển, Cự Phách, Cự Hoành, Cự Doanh, Cự Đồng, Cự Bổng… được nhiều người biết đến. thậm chí ở Paris, New York cũng có dân Cự Đà tham gia thương trường. Ngày nay trong dân gian vẫn còn lưu giữ những câu chuyện như trong cổ tích.

kienviet-songlam-110517-9.jpg

Chuyện kể: có một ông già nón lá rách bươm, đeo chiếc bị cói đại, đi trên chuyến đò dọc trên dòng sông Nhuệ trong xanh thơ mộng, tấp nập thuyền bè xuôi ngược đôi bờ với những làng quê trù phú lên Hà Nội. Ông ngồi bên mạn thuyền, hai chân khoả nước. được chủ thuyền nhã nhặn mời ngồi gọn lên thuyền, ông nói: “ta làm vậy cho mát mẻ thôi mà”. Khi đến bến lên, thấy ông chỉ trả một nửa giá vé, chủ thuyền có ý đòi nốt. Ông già nói: “ta có ngồi cả chỗ đâu, ta chỉ ngồi một nửa, vậy sao ta phải trả cả vé”. Chủ thuyền thấy đuối lý đành lặng lẽ quay sào. Lên đến Hà Nội ông tiến vào tiệm vàng to nhất ở phố hàng Bạc. Thấy ông lão nâu sồng rách rưới, mặt chủ tiệm vàng biến sắc, ngỏ ý biếu cụ ít tiền và mời cụ đi mau. Ông già gắt gỏng: “không, ta không thèm ăn xin nhà anh chị, ta đến để mua vàng”. Chủ tiệm bán tín bán nghi thưa: “dạ thưa cụ, xin cụ cho biết ý cụ mua được bao nhiêu ạ?”. Ông cụ cả quyết: “ta mua cả hiệu” và rồi đặt cái bị nặng trịch xuống bàn. Vợ chồng chủ tiệm mang toàn bộ số vàng có trong cửa hiệu ra, nhưng tiền đếm xong, vàng của nhà vẫn không đủ, phải sang mượn tạm cửa hàng bên cạnh. Đó là chuyện về ông vua ruộng, vua lúa – ông là người đã từng mua cả dãy phố ở chốn đô thành.

kienviet-songlam-110517-3.jpg

kienviet-songlam-110517-4.jpg  kienviet-songlam-110517-2.jpg  kienviet-songlam-110517-12.jpg

 Khi mở rộng đường 6 tại khu vực Hà Đông, máy đào xúc của đơn vị thi công đã gặp được cả một hũ vàng và bạc trắng hoa xoè vương vãi khắp nơi. tất cả những cái đó đều là của người làng Cự Đà đấy.
Từ cuối thập niên 30 thế kỷ trước, làng Cự Đà đã có điện, có đèn đường, có sân bóng, nhiều gia đình đã có ôtô sang trọng. Dọc bờ sông Nhuệ có hàng chục bến đá, bến hàng tấp nập thuyền bè. Đêm đêm những chiếu tổ tôm, những cửa hàng cao lâu chật khách, đèn rực sáng suốt canh thâu.

kienviet-songlam-110517-13.jpg

kienviet-songlam-110517-5.jpg

Sự trù phú và quy củ của dân làng Cự Đà thể hiện trên nét thâm nghiêm cổ kính, trong việc tổ chức ăn ở của cư dân cộng đồng. làng xóm được tổ chức như một quy hoạch hoàn chỉnh, đậm nét phong thuỷ á đông, khoa học. chẳng thế mà thiên nhiên, sinh thái, vượng khí muôn phương đều hội tụ nơi đất này. Trải dọc ven bờ sông là đường trục chính của làng, bám theo con lộ chính là 18 trục đường xóm với 18 cái cổng cổ kính, không cái nào giống cái nào, nối với 18 bến đá vừa phục vụ sinh hoạt, vừa là thương cảng. Bám vào 18 đường trục xóm là 18 đường sinh khí dẫn gió mát lành từ con sông vào từng căn nhà. Theo đường trục chính dọc làng, xen vào khu dân cư là những công trình mang đậm giá trị lịch sử như chùa linh minh, đình thờ thành hoàng làng, đình vật, đền bà, đàn xã tắc cùng với nhà hội đồng, các nhà thờ của mỗi dòng họ, trường học, cột cờ, chợ quê, sân bóng…

kienviet-langcuda-110517-1.jpg

Dấu ấn đậm nét nhất của làng cổ Cự Đà đến tận bây giờ là hàng trăm ngôi nhà cổ đậm bản sắc văn hoá của nền văn minh lúa nước. Các ngôi nhà này chứa đầy tri thức kiến trúc dân gian: loại 3 gian theo lối nội tự ngoại khách, hoặc 3 gian 2 dĩ, 5 gian 2 dĩ theo lối tiền kẻ, hậu bẩy, bát trụ… nhiều nhà hiên tiền cuốn mui thuyền, cửa và các chi tiết kiến trúc được chạm khắc tinh vi. Đặc biệt nhất của làng Cự Đà so với tất cả các nơi khác là sự hiện diện của mấy chục ngôi nhà cổ hai tầng mang phong cách kiến trúc Pháp, xuất hiện sớm nhất trong các làng quê Việt Nam. Ngay từ khi xuất hiện những ngôi nhà tây thế này,  làng tổ chức gắn biển, ghi số nhà theo thể thức đô thị. Vào những năm 1939- 1940, thư từ, bưu kiện cũng như khách thập phương đến tìm người quen hay buôn bán không gặp khó khăn gì.

kienviet-langcuda-110517-2.jpg

Sau những kỷ nguyên trù phú, gặp bước thăng trầm, dân làng Cự Đà về sau cũng chuyển dần cách thức sản xuất kinh doanh cho phù hợp để thích nghi hoàn cảnh. Về làng Cự Đà bây giờ người ta thấy ruộng xanh mướt lúa, đường vàng miến rong. Đi vào lối xóm bỗng bắt gặp những chum tương đại, ngọt ngào một mùi vị rất riêng. Xen lẫn các gia đình có những dãy chum tương là nhiều gia đình có trạm chưng cất rượu. rượu ở đây cũng đã thành thương hiệu danh tiếng bay xa lên tận rừng xanh núi đỏ, ra Bắc vào Nam trên những chặng đường dài đến với những đệ tử thần lưu linh.
Cuộc sống người dân làng cổ Cự Đà đang êm đềm bỗng gặp”cơn bão” đô thị hoá ập đến. “Con đường đô thị hoá” là dịp may, là cái thang không cùng cho bao kẻ leo lên đến nấc bậc tận cùng của quyền lợi, nhưng cũng là cái hoạ khủng khiếp giáng xuống đầu người nông dân khi mất hết ruộng đất. Đành rằng ai cũng hiểu “đô thị hoá” là quy luật tất yếu của bất cứ quốc gia đang phát triển nào, nhưng không phải dựa vào tất yếu ấy tức là không phải làm gì nữa, và không cần có biện pháp nào để tạo thế cân bằng mới, để lo toan cho sự ổn định và phát triển ý nghĩa tam nông.

kienviet-langcuda-110517-3.jpg

Quy hoạch khu đô thị Thanh Hà đã và đang được triển khai, con đường qua khu đô thị mới từ quận Hà Đông qua Thanh Oai, Ứng Hoà ra phía cầu Giẽ Phú Xuyên như một con vật khổng lồ ngày một vươn dài, nuốt chửng những đồng lúa đang lên xanh, cuốn trôi bao cuộc sống yên bình. Rồi đây khi mất ruộng, mất nghề, người nông dân trên những vùng quê này và trước hết dân làng cổ Cự Đà biết sống ra sao? Muốn hiểu nó, phải đến với nó mới vỡ nhẽ.
Được biết dân làng đã được nhà đầu tư khu đô thị Thanh Hà thanh toán tiền đền bù để nhanh chóng lấy đất làm đô thị. Lúc này làng Cự Đà đang đứng trước thử thách mới, lại phải gồng mình chịu trận trước hai chiều gió: luồng gió đô thị hoá đi ngược với chiều gió bảo tồn và giữ gìn bản sắc giá trị vật thể cũng như phi vật thể của một địa chỉ cổ kính đã được thế hệ bao dân làng dày công dựng lập.

kienviet-langcuda-110517-4.jpg

Muốn nhanh chóng trở về làng cổ, nhưng con đường giao thông đã quá tải lại vòng vèo chật chội, biết làm sao? Cái không khí đặc quánh cát bụi mù mịt giăng giăng khắp nơi. Con sông một thuở làm nên giàu sang và niềm tự hào cho cư dân đôi bờ, nhưng từ lâu đã trở thành con sông chết: đặc quánh, quằn quại, đen đúa và sặc mùi xú uế… tìm mãi mới đến được chỗ bờ giếng trước cửa đình trên, gặp một khoảng đất tạm đỗ được chiếc xe, chúng tôi vào thăm gia đình một người quen, ông Hà, một sỹ quan quân đội hưu trí. Rời quân ngũ, ông cũng đã từng làm cán bộ chủ chốt của xã, nay ông bà vừa làm nghề nông vừa cất rượu thêm – nghề tay trái, nhưng đủ gánh mọi chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày. Lò rượu của ông Hà là một trong hai chục lò cho ra những mẻ rượu chất lượng cao và ổn định, lần nào về với ông, tôi cũng được thưởng thức thứ rượu thơm đậm chất quê. Rượu ông mang bán gần xa trong vùng, đặc biệt cung cấp rất đều đặn cho nhà thuốc “Nghi Hưng Long” một hiệu thuốc từ rất xa xưa đã có tiếng ở vùng Hà Đông. Len lỏi qua đường trục vào xóm chùa Ba, lối vào nhà ông, thấy cát, gạch, xi măng, sắt thép ngổn ngang. Theo ông Hà, nhận xong tiền đền bù là ông phải mua ngay cho đủ nguyên vật liệu để dựng hai ngôi nhà cho hai cậu con trai. Ngôi ba tầng cho con trai thứ được làm trước, xong, sẽ đập tiếp căn nhà cấp 4 hiện ông đang sử dụng vào việc thờ phụng và ở, để cất ngôi nhà dành cho con trai trưởng. Nhà ông Hà không còn là nhà cổ từ lâu rồi, lại thành công trường xây dựng bề bộn, nên ông khuyên chúng tôi sang thăm ngôi nhà cổ họ vương, dòng họ danh giá một thời, nay con cháu đi làm ăn xa, đã bán cho gia đình ông lai. Ông lai vắng nhà, nên tiện đường chúng tôi rẽ vào ngôi nhà cổ đối diện với nhà ông Hà. Ông bảo, chủ ngôi nhà này cho biết:
– Căn nhà cổ này tôi chuẩn bị phá để chia cho các con, mỗi đứa một phần đất, một phần tiền. Tôi cũng giống ông Hà, phải xây hai ngôi nhà mới cho thật đẹp, thật hiện đại, không kém ngôi nhà ở đầu xóm, – ông tâm sự: “kể ra, phải phá ngôi nhà cổ này, tài sản vô giá mà các cụ tôi để lại, tôi như đứt từng khúc ruột và biết là có lỗi với tổ tiên, nhưng biết làm sao được! đã thấy nhiều ngôi nhà cổ khác có  hàng trăm năm tuổi mà cũng không giữ nổi “.
Khi được hỏi nguyên nhân, ông ngậm ngùi trả lời:
– Chúng tôi đâu phải hạng người vô trách nhiệm, dân làng đã nhiều lần kiến nghị với nhà nước nhanh chóng quyết định công nhận làng chúng tôi là làng cổ, có chính sách, quy chế bảo vệ cho rõ ràng cụ thể để dân làng có thêm quyền lợi, trách nhiệm giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá cổ. Tiếc thay, làng Cự Đà sắp mất hết cổ kính mà vẫn không thấy bất cứ một phản ứng nào từ phía nhà nước.

kienviet-langcuda-110517-5.jpg

 Khi hỏi về khu đô thị thanh hà sắp ra đời, ông bảo trả lời thẳng:
Tuy đất cự đà không còn thịnh phú như xưa, nhưng cuộc sống người dân vẫn đầy đủ và có phần tích luỹ. Chúng tôi rất lo khi, cứ đô thị hoá thế này, hết ruộng rồi, lấy gì làm sinh kế. Trong làng có những người làm miến, làm tương, nấu rượu và một số nghề khác như xây dựng, chạy chợ, làm thuê… Nhưng họ cũng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ thôi, chủ yếu vẫn là làm ruộng. Rồi đây, cuộc sống dân làng sẽ phải tản ra chợ ra đường cả. Con cái chúng tôi biết làm gì, biết sống thế nào? Tệ nạn xã hội thì đang từng ngày từng giờ rình rập. Trước lúc CIENCO 5 lấy đất, chính quyền địa phương đã thay mặt dân kiến nghị với nhà nước phải dành cho dân một quỹ đất làm khu dãn dân, vì trong làng đất chật người đông, nhà nào cũng có nhu cầu san hộ. Số đất dãn dân này cũng nhằm trợ giúp cho dân có điều kiện bảo tồn di sản văn hoá làng cổ. Đến nay chính quyền các cấp vẫn giữ thái độ im lặng, thật tội cho người dân quê tôi!
Chúng tôi được biết, mỗi gia đình ở đây nhận một khoản tiền đền bù, diện ông Hà và ông Bảo, mỗi gia đình cũng trên hai tỷ đồng, nhiều trường hợp khác, tiền còn lớn hơn. Nhận tiền đền bù giữa thời bão giá, lạm phát leo thang và nhiều khó khăn khác chồng chất là thêm một đòn nặng quất vào người nông dân. thử hỏi họ có thể chấp nhận mạo hiểm giữ tiền trong nhà hay gửi tiền tiết kiệm để… Ngày một hao dần? Thôi thì cứ chia đất, chia tiền cho các con, khẩn trương xây dựng nhà cửa mà lấy chỗ ở… chỉ từ tết âm lịch đến nay, hàng chục ngôi nhà cổ đã biến mất. Với đà này, chẳng mấy chốc làng cổ sẽ chẳng còn ý nghĩa gì. Trong tình trạng ngổn ngang đó, biết chắc số phận của những ngôi nhà cổ sẽ diễn ra thế nào! Tôi thật bàng hoàng, nhưng không ngờ nó lại bị “hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn” gấp gáp đến như vậy.  
Khi được giao nhiệm vụ nghiên cứu về làng cổ Cự Đà, biết chắc chắn một làng ven đô sẽ không thể tránh khỏi guồng đô thị hoá, những người thực hiện đề tài đã kết luận: phải có phương án quy hoạch làm sao để trong tương lai vẫn giữ được bản sắc văn hoá làng theo giá trị cổ phong. muốn vậy, nhất thiết phải có một khu dãn dân. Nằm giữa khu đô thị mới và khu làng cổ, khu dãn dân chính là khu đệm, là cầu nối giữa cái ngàn xưa đến cái muôn sau. khu dãn dân cách ly này có chức phận giải quyết cái mới phát sinh của khu đô thị, không vướng bận, không lệ thuộc vốn cổ cần bảo vệ, trong khi đó, khu làng cổ vẫn được giữ gìn và không bị xâm phạm. Không được xây dựng xen ghép những công trình mới làm méo mó những giá trị văn hoá cổ.

kienviet-songlam-110517-2.jpg

Lâu nay, biết bao công trình nghiên cứu có giá trị về làng Cự Đà đã được đề cập trên các phương tiện thông tin đại chúng và báo chí, tất thảy đều khẳng định: cần cấp thiết công nhận Cự Đà là làng cổ và kiến nghị rất nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ và tháo gỡ cho giá trị của ngôi làng cổ bớt chịu những lo âu về tương lai. Dân làng Cự Đà chờ đợi và ngao ngán. Các nhà nghiên cứu làng cổ mang nặng nỗi ưu tư thất vọng. Bao khách thập phương đi qua hoặc đến vãn cảnh làng Cự Đà đều buông tiếng thở dài, nhiều người chỉ biết đánh mắt về phía cuối trời…
Chia tay ông Hà và ông Bảo mà lòng chúng tôi trĩu nặng. Chúng tôi đi dọc làng Cự Đà từ xóm chùa 1, xóm chùa 3 nhà ông Hà qua xóm Hiếu Đễ, Nhân Nghĩa, Ba Gang, Bến Cóc và đến xóm 18 cuối làng, suốt 18 xóm đâu đâu cũng là công trường, cả làng Cự Đà đang là “đại công trường”. Chúng tôi cảm nhận đường đất như đang sụt lở dưới chân… người bạn tôi thảng thốt:
 Cự Đà ơi! Làng cổ ơi! Thương lắm!

                                                                                                  Tháng 5.2011

Bài: KTS Nguyễn Địch Long

ảnh SongLam