“Kho vàng dòng” bên sông Tô

41
Thời gian gần đây, việc trùng tu di tích, cải tạo làng cổ bên cạnh những cái được, cũng có nhiều cái mất.  Và một trong những cái mất lớn nhất là đang mai một dần những di tích cổ, làng cổ. Không thuộc diện được trùng tu, nhưng làng Mọc lại đang nhanh chóng bị “biến mất” vì đô thị hóa. Chưa đầy chục năm trong quá trình đô thị hóa, làng Mọc giờ đang… thoi thóp. Chỉ cần thêm vài chục năm nữa thôi, theo nhiều người, ngôi làng cổ này sẽ “biến mất” một cách vĩnh viễn.
 
2011_116_9_LangMoc2.jpg
Những ngôi nhà chung cư, nhà kết cấu theo kiểu cách hiện đại ngày một nhiều,“nuốt” làng cổ 2.000 năm tuổi
 Trầm tích sông Tô

Theo một số người già trong làng, chả cần tính đến nghìn năm về trước, chỉ cần cách đây khoảng đôi ba trăm năm thôi, sông Tô lịch ngày ấy có độ lớn ngang ngửa sông Hồng. Dòng sông chia đôi bờ tả hữu. Người các làng 2 bên sông muốn qua thăm nhau phải qua thuyền, qua đò.

Nằm kề cận với các làng như làng Láng, làng Khương, các bến đò được hình thành, giao lưu của người dân được nối nhịp bằng những mái chèo, con đò. Cuộc sống êm đềm, thơ mộng, “cận thị, cận giang” như vậy nên làng Mọc là nơi tìm đến và sinh sống của rất nhiều người. Văn hóa, thiết chế cứ thế mà lớn dần. Các di tích lịch sử, nhà thờ tổ và nhà dân được xây dựng lên, với một kết cấu cổ đã đưa làng Mọc trở thành làng cổ theo ghi nhận và đánh giá của các nhà nghiên cứu đương đại.

Lúc còn sống, tuy bộn bề với công việc, các công trình nghiên cứu nhưng cố Giáo sư Trần Quốc Vượng vẫn dành nhiều thời giờ nghiên cứu làng Mọc. Nhất là những năm với tư cách là Ủy viên Tư vấn của UBND TP. Hà Nội về các di tích, khảo cổ Thăng Long, Giáo sư đã nhiều lần nói về giá trị văn hóa cổ, cần phải bảo tồn với làng Mọc – một trong 7 làng cổ của Hà Nội.

Lúc này, trong quá trình đô thị hóa, vì là đất vàng, nằm trong “tầm ngắm” nên đã có nhiều ý kiến về “cổ – kim” với ngôi làng này, cùng những ý kiến tranh luận hết sức khốc liệt. Nhiều người, vì một mục đích nào đó đã muốn “hiện đại hóa làng cổ”, như để có cớ can thiệp vào làng. Để bảo vệ làng cổ, cố Giáo sư Trần Quốc Vượng đã từng đanh thép lên tiếng và kiến nghị: Tôi khẳng định Hòa Mục là 1 trong 7 làng cổ của Hà Nội. Ai nói làng Hòa Mục không phải là làng cổ, là “làng nhẩy dù” thì không biết gì về lịch sử cả.

Không chỉ mình cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, để bảo vệ làng cổ Hòa Mục trước sự “nhòm ngó” của các nhà quy hoạch, các nhà làm dự án, rất nhiều nhà sử học khác cũng đau đáu vào cuộc. Vì họ biết, Hòa Mục là làng cổ thật, và muốn giữ làng thì phải trả lại cho làng hai chữ: Làng cổ. Ngoài cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, tiêu biểu nhất phải kể đến Nhà sử học Bùi Thiết. Bằng rất nhiều văn bản, ý kiến, ông đã từng phát biểu trước công luận rằng: Dám nói không ngoa, đi khắp Hà Nội khó tìm thấy làng nào như Hòa Mục vì có đầy đủ thiết chế văn hóa cổ xưa nhất. Xin nhớ rằng Hòa Mục có tên Nôm là Kẻ Đáy (làng cổ nào có tên Nôm bắt đầu bằng từ “kẻ” đều thể hiện văn hiến và bản sắc văn hóa). Điều ấy chứng tỏ làng rất có giá trị về lịch sử, văn hóa. Phá đi làng cổ Hòa Mục là phá đi giá trị kết tinh mấy ngàn năm của cư dân nông nghiệp xung quanh Hà Nội. Là vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản.

Thế nhưng mặc! Làng vẫn bị bào mòn, bị gặm nhấm bởi những dự án, những khu đô thị cao ngất ngưởng.
2011_116_9_LangMoc3.jpg 

Bao giờ trở lại ngày xưa?

Đi trong không gian làng cổ Hòa Mục bây giờ, người ta thấy mình thật bé nhỏ. Làng lúc nào cũng chực như bị các hệ thống nhà cao tầng ở các khu đô thị kề cận “nuốt” mất. Làng sắp sửa mất tên, cái tên chung của làng bây giờ bị cái từ tổ dân phố mới toanh “cướp mất”. Số nhà, số ngõ, số tổ dân phố rối tung, làm cho người ta không thể hình dung ra một làng cổ đã có niên đại gần 2.000 năm tuổi.

Bao giờ trở lại ngày xưa là ước muốn không ít những người già và những người hoài cổ. Họ ước vậy, không phải họ muốn chấp nhận sự lạc hậu, không hòa đồng mà họ tiếc nuối cái thời bình dị, êm đềm, các thiết chế văn hóa được duy trì, ổn định cho xóm, cho làng.

Ông Lai Tiến Sơn – người con của một trong 5 dòng họ lớn có mặt đầu tiên từ khi thành lập làng, luôn trăn trở, lo toan trước một cuộc sống hiện đại, đầy xô bồ đang xâm chiếm làng. Ông bảo, thú thực, chỉ sau 20 năm “công cuộc đô thị hóa” ông đã thấy cái giá phải trả cho dòng họ, cho dân làng mình đã quá lớn. Đấy chính là mất đất, mất ruộng, không công ăn việc làm và một cuộc sống đầy sự lo toan cho các thế hệ tiếp theo của dân làng cổ Hòa Mục.
 
 2011_116_9_LangMoc1 copy.jpg
Vì là dân thuần nông, ruộng mất, không nghề phụ nên dân làng cổ Hòa Mục đành phải “cải tạo” nhà cổ để xây nhà trọ kiếm sống

Theo ông Sơn, làng cổ Hòa Mục bị “xâm chiếm” ấy là các khu đất nông nghiệp kề cận bị quy hoạch, để xây dựng lên các khu đô thị. Dân thuần một nghề nông, không được tạo công ăn việc làm. “Miệng ăn, núi lở”, tiền đền bù chả mấy chốc cạn kiệt. Dân làng không còn nghề mưu sinh, nên phần lớn bán đất, xây nhà để cho thuê cho trọ, kết cấu làng cổ bắt đầu bị phá vỡ.

Nguy hiểm của cái chuyện “mất cần câu cơm” của dân làng cổ thuần nông này ấy là sự bán đất để mưu sinh. Trước, làng cổ chỉ chủ yếu là nhà kết cấu cổ, nay đất bị bán, người nơi khác bỏ tiền ra mua, nhà cao tầng cứ thế vươn lên. Nhà cổ, kết cấu cho làng cổ cứ thế bị mai một dần, chịu sự lép vế với nhà cao tầng, kết cấu hiện đại. Chả mấy chốc không gian nhà vườn của ngôi làng nghìn năm tuổi biến mất. 

Với vẻ mặt lo toan, ông Lai Tiến Cường đăm chiêu: Ngoài nghề nông, người Hòa Mục không có nghề phụ. Giờ ruộng đất mưu sinh hết, chúng tôi đang bị trả giá. Giờ chúng tôi lại muốn mình trở thành nông dân hơn bao giờ hết. Có vất vả nhưng còn có điều kiện để giữ lại nhà cổ, vườn cổ và làng cổ của mình.

Cũng như bao số phận dân trong ngôi làng cổ này, để mưu sinh, ngoài ruộng bị thu hồi, gần 200m2 đất trong khuôn viên nhà cổ của của ông Cường cũng đã bị dự án khu đô thị lấy mất. Hiện để có nguồn sinh sống, gia đình ông cũng phải xây nhà trọ cho sinh viên, người tứ chiếng thuê kiếm sống. Từ cuộc sống của 1 gia đình trong ngôi nhà cổ, hiện ông đang cùng gia đình sống chật chội trong những căn phòng của ngôi nhà bé tẹo.
 
Đơn Thương – Theo Daidoanket

2 BÌNH LUẬN