Làng tôi mở hội

185

Làng vốn thuần nông, không nghề phụ cũng không tiện buôn bán …cuộc sống tuy không chật vật nhưng cũng không dư dả. Các cụ làng hàng năm mở hội vừa, 3 năm mở hội lớn, khách mời cũng tùy theo mà mời nhiều hay ít. Cỗ làng cũng chỉ vừa phải, các món hoang phí như pháo bông, cờ bạc là hạn chế. Quý nhất là niềm vui, cái tình, cái nghĩa.

Làng tôi ở bên sông Đuống

Nơi có bờ cát trắng phẳng lỳ , bên dòng ” xanh xanh bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc “. Cái dải đất dài với những làng quê nối tiếp nhau men theo sông Hồng, tên nghe đã biết nằm bên dòng nước: Hải Bối – bãi sông bồi, Tằm Xá – làng nuôi tằm trồng dâu, Đông Ngàn – cánh rừng phía Đông …

Đứng ở bìa làng mà nhìn ra vẫn um tùm sau lũy tre là mái đình cong vút của mấy làng liền anh, mái đình sừng sững mặc cho đâu đấy xôn xao những con đường trải nhựa từ đê chạy qua làng, kéo theo cơn lốc san ruộng bán nền xây nhà tầng chia lô lúc ầm ĩ khi âm thầm.

Làng Bắc Cầu bên kia sông Đuống, đầu làng là doi đất nơi sông Hồng đổ vào sông Đuống.

Như bao năm nay, cứ sau ngày giỗ Tổ Hùng Vương một ngày là đến Hội làng. So với những hội làng đầu Xuân thì làng vào hội hơi muộn, khi ruộng mạ đã đứng chân, đợt rét tháng ba cũng đã tắt hẳn, ấy là cái thời khắc cả làng xôn xao chuẩn bị hội làng .

Giống như bao làng khác, Hội làng là có lễ tế, dâng hương, có cỗ bàn đình đám nhưng hội làng khác một chút ấy là chuyện làng em mời làng anh chung quanh đến dự hội.

Làng tôi xây Đình

Nghe các cụ kể lại thì làng tôi các cụ tổ đến đây khai khẩn lập nghiệp đã mấy trăm năm, đình đền chắc hẳn cũng dựng dần từ hồi ấy, nhưng có lẽ cũng khiêm nhường nhỏ bé. Cho đến tận năm 1853, làng tôi mới có điều kiện dựng lên ngôi đình bề thế.

Ngày ấy làng còn nhỏ bé, cả làng cũng mới vài chục nóc nhà, cả làng cũng chỉ hơn trăm người, trai đinh cũng chỉ vài chục người. Nhưng cả làng chắt chiu dành dụm để dựng lên ngôi đình tươm tất .

Chuyện xây Đình thì việc hệ trọng là mua được gỗ tốt. Bè gỗ lim trôi về đến bến sông Đuống thì trời sập tối, người làng lênh đênh cả tháng sông nước theo bè gỗ giờ đã thấm mệt đành gửi dân làng Bắc Cầu trông giúp .

Làng Bắc Cầu có ba thôn (Thượng, Trung, Hạ ) tọa lạc trên đồi đất chẽ ra sông Hồng, nơi con nước rẽ nhánh đổ vào sông Đuống. Người Bắc Cầu ở đây đã lâu, trai đinh khỏe mạnh đông đúc.

Sáng hôm sau, khi sương đêm còn mờ mịt, dân làng thấy những bóng người vạm vỡ gò lưng kéo gỗ, đoàn người nối nhau trải dài 2 cây số từ bến nước cho đến thửa ruộng trước đình.

Dân làng ngỡ ngàng nhận ra đoàn người ấy là các trai đình bản làng Bắc Cầu suốt đêm lặng lẽ kéo gỗ làng tôi từ bến nước vào tận cửa sân đình. Cả làng vỡ òa lời chào tiếng hỏi, kéo nhau ra đón tiếp trong niềm cảm kích trước nghĩa cử của dân ba làng Bắc Cầu.

Sau khi làm Đình xong, làng sửa soạn lễ vật sang làng Bắc Cầu trước là dâng lời cảm tạ, sau là xin kết nghĩa anh em. Vì làng xây đình sau nên ở ngôi chạ em.

Cánh đồng trước Đình Lại Đà , nơi xưa kia làm nơi tập kết gỗ , xa xa là Đình làng Đông Ngàn.

Kể từ nay đó, mỗi dịp hội làng, làng cử người sang mời chạ anh Bắc Cầu dự hội. Khi đoàn đại diện chạ anh sang, làng cử đoàn đại biểu ra tận đầu đê đón rước. Đoàn đón rước gồm các quan viên, có cờ lọng, âm nhạc trống chiêng tháp tùng. Khi có dịp chạ em sang Bắc Cầu, thì cũng được chạ anh đón tiếp trọng thị từ bến đò vào Đình.

Tình nghĩa thâm sâu trong họ ngoài làng

Trải qua gần 160 năm giao hảo, nghĩa tình làng tôi với ba làng Bắc Cầu nay thêm sâu đậm, không chỉ diễn ra trong dịp hội hè, nơi đình trung, điếm sở mà như mạch nước ngầm thấm đẫm đến từng trái tim hơi thở dân làng.

Trận đói năm 1945 lại thêm trận lụt vỡ đê Vực Dê, làng mênh mông là nước. Giữa lúc nguy khốn ấy, người anh em Bắc Cầu đã kịp thời sang cứu giúp, nhiều con thuyền từ Bắc Cầu lao sang làng mình, len lỏi qua các bụi cây nóc nhà để cứu người cứu tài sản. Trận vỡ đê năm ấy làng không ai bị chết đuối hay lũ cuốn trôi.

Năm 1946, thủ đô huyết lệ. Sau khi biết quân dân Hà Nội vượt sông Hồng lên chiến khu, giặc Pháp điên cuồng truy đuổi. Bắc Cầu là nơi hàng nay giặc vào làng cướp phá, dân Bắc Cầu chạy sang làng lánh nạn. Người làng tôi nhường cơm sẻ áo cho người anh em trong cơn hoạn nạn .

Du kích Bắc Cầu, Ngọc Thụy hằng đêm vượt sông Đuống về làng diệt tề trừ gian, ban ngày về làng nghỉ ngơi tập luyện .

Năm 1947-1948, làng bị giặc vây hãm càn quét, du kích hai làng đang đóng trong làng đã sát cánh cùng quân dân làng chống trả kiên cường.
 

Cụ cao tuổi làng Lại Đà ( chạ em ) tâm tình với cụ cao tuổi làng Bắc Cầu ( chạ anh) , ông Nguyễn Phú Hoành , bí thư thôn Lại Đà ( người đứng giữa ).Các cụ hai làng đang kể truyện làng xưa với các bạn trẻ trong Đình làng Lại Đà.

Năm 1971, nước sông Hồng dâng cao, Bắc Cầu bị lở đất sát đình, làng gánh 200 gốc tre sang để Bắc Cầu đan kè chắn sóng.

Năm 1994, làng tôi làm đường làng, Bắc Cầu cử đoàn sang thăm hỏi, giúp một khoản tiền, gọi là “của ít lòng nhiều”. Năm sau chạ anh Bắc Cầu làm đường, chạ em cử người sang phúc đáp. Mùa xuân 2003 Bắc Cầu khánh thành đình mới, làng cung tiến đôi câu đối: ” Nghĩa Ấp quang huy thiên niên giao hữu truyền tự cổ / Đức Dân phồn thịnh vạn đại liên chi hiển vu kim”.

Tình nghĩa làng với Bắc Cầu gắn bó keo sơn vì vậy làng có câu ca rằng ” Dô ta kéo gỗ làm Đình / Gỗ lim tuy nặng nhưng tình nặng hơn”.

Làng vốn thuần nông, không nghề phụ cũng không tiện buôn bán …cuộc sống tuy không chật vật nhưng cũng không dư dả. Các cụ làng hàng năm mở hội vừa, 3 năm mở hội lớn, khách mời cũng tùy theo mà mời nhiều hay ít. Cỗ làng cũng chỉ vừa phải, các món hoang phí như pháo bông, cờ bạc là hạn chế. Quý nhất là niềm vui, cái tình, cái nghĩa.

Hôm nay làng tôi mở hội, lại một dịp vui đón chạ anh Bắc Cầu sang chơi. Hai tay bưng bát cơm quê, dông dài kể chuyện dãi dề tình thâm.

Hội làng Lại Đà – Đông Hội- Đông Anh 13/4/2011 ( 11 tháng 3 Tân mão)

(KTS.Trần Huy Ánh -Ghi theo lời kể của cụ Nguyễn Phú Sơn , tác giả cuốn Lại Đà xưa và nay)
 

1 BÌNH LUẬN