Kiến Trúc là Âm Nhạc tinh kết

378

Iannis Xenakis là một tên tuổi lừng lẫy trong thế giới âm nhạc hiện đại. Sự nghiệp âm nhạc của ông – với hơn 60 tác phẩm bao quát tất cả các thể loại, trong đó một số lớn đã trở thành cổ điển – được đánh giá là một tượng đài kỳ vĩ đã và đang toả sáng suốt nửa sau thế kỷ 20 đến tận ngày nay.

Iannis Xenakis tại phòng thu của mình năm 1960.Ảnh: Adelmann.

Gian hàng hãng Philips tại Expro 1958

Ngoài âm nhạc, ông còn là một nhà toán học và một kiến trúc sư. Không ai có thể minh hoạ xuất sắc hơn ông về tầm quan trọng của tư duy khoa học trong mỹ học đương đại. Sau đây là nội dung tóm tắt cuộc phỏng vấn mà Iannis Xenakis dành cho tạp chí Thông tin UNESCO :

Tại sao ở ông lại có các mối liên hệ giữa 2 không gian sáng tạo: Âm nhạc và Kiến trúc?

Bởi kiến trúc là một không gian 3 chiều mà trong đó người ta sống. Những chỗ lồi lõm là rất quan trọng về mặt âm thanh cũng như tạo những ấn tượng thị giác. Kiến trúc không đơn thuần là trang trí mà còn là mối quan hệ giữa các tỷ lệ và mảng khối. Trong kiến trúc, có những thành phần duy lý và trong âm nhạc cũng vậy. Cây cầu nối giữa kiến trúc và âm nhạc dựa trên cấu trúc tinh thần của con người. Nếu ta muốn biết hình chữ nhật có những phần nào đối xứng, cách tốt nhất là xoay tròn. Chỉ có 4 cách xoay tròn hình chữ nhật quanh một trục. Trong âm nhạc cũng có những cách biến hoá ấy: đó là điều đã được khám phá trong lĩnh vực giai điệu ở thời Phục hưng, sau này trường phái “âm nhạc chuỗi” (music seriel) cũng sử dụng. Bốn biến cách được thực hiện trong kiến trúc và trong âm nhạc là như nhau.

Gian hàng hãng Philips tại Expro 1958

Một ví dụ khác: Tôi đã thiết kế gian trưng bày của hãng Philips với những ý tưởng từ một bản nhạc cho dàn nhạc mà tôi soạn vào hồi đó. Tôi muốn tạo ra những không gian thay đổi, biến dạng liên tục, xuất phát từ sự di chuyển của một đường thẳng. Điều đó tạo nên những paraboloid hyperbolic trong kiến trúc và những chùm glissando trong âm nhạc.

Trong lịch sử có ví dụ nào về sự gặp gỡ – thậm chí là sự đồng nhất – này không?

Có. B.Bartok là người đã sử dụng tỷ lệ vàng để thực hiện những hợp âm của mình. Thế mà tỷ lệ vàng lại thuộc lĩnh vực thị giác. Đó là một tỷ lệ hình học với một thuộc tính phụ là mỗi số hạng là tổng của 2 số hạng trước. Từ những kim tự tháp Ai-cập đến những đền đài Hy-lạp, tỷ lệ vàng này đã được sử dụng như chiếc chìa khoá thần kỳ để tạo nên những kiệt tác kiến trúc.

Nhưng với ông, sự tương ứng ấy có phải là cơ bản không?

Goeth đã nói: “Kiến trúc là âm nhạc tinh kết.” Nếu ta đào sâu cái công thức ấy, ta sẽ đi đến những cấu trúc tinh thần thuộc dạng lý thuyết nhóm. Việc xoay đảo hình chữ nhật hay các giai điệu, đó là các nhóm biến cách. Cũng chính lý thuyết nhóm đề cập đến những đối xứng của các hạt cơ bản trong vật lý lượng tử. Có nhiều mức độ tương ứng. Có những mức như việc tạo lập các không gian âm thanh hoặc kiến trúc bằng cách sử dụng trục âm học như là những glissando hay trục số.

Phối cảnh ý tưởng thành phố vũ trụ

Ông luôn đưa ra những tính toán và gắn kết nó với âm nhạc

Cũng còn những cách nhìn khác. Ví dụ tiết tấu, tiết tấu là gì? Là chọn những điểm trên một trục, cụ thể là trục thời gian. Người nhạc sĩ đo thời gian như người bộ hành đếm cột cây số. Và các phím đàn piano, đó cũng là kiến trúc. Chúng được điều chỉnh liên tục, ở trường hợp này là thời gian, ở trường hợp kia là không gian. Giữa 2 cái có sự tương ứng. Sở dĩ có được như vậy là vì có một cấu trúc tinh thần ở cấp độ sâu hơn, điều mà các nhà toán học gọi là cấu trúc cấp loại.

Điều kỳ lạ là những cấu trúc cấp loại, những đẳng cấu, lý thuyết nhóm … đều do các nhà toán học đề xuất. Họ đã tạo ra một khoa tâm lý học chiều sâu, khác với tâm lý học thế kỷ 19. Mãi về sau, J.Piaget mới thấy là sự tiến triển những cấu trúc tinh thần ở trẻ em trùng hợp với những định nghĩa trong toán học và vật lý.

Trong công việc soạn nhạc của ông, tin học đóng vai trò quan trọng do những triển vọng lớn lao của nó. Thậm chí, ông còn phát minh ra một máy soạn nhạc. Ông có thể nói về việc đó?

Trong phòng thí nghiệm của tôi, tôi đã phát triển một hệ thống cho phép bất kỳ ai cũng có thể soạn nhạc bằng cách vẽ. Đó vừa là một công cụ làm việc cho các nhà soạn nhạc, vừa là một công cụ sư phạm giúp cho trẻ em tư duy âm nhạc mà không phải qua ký âm pháp hoặc phối khí – tóm lại là học trực tiếp. Điều đó chỉ có thể làm được nhờ khoa tin học đem đến những khả năng có thể so sánh với việc phát minh ra chữ viết: làm ngưng đọng tư duy bằng những biểu tượng. Ở đây, ta có thể ngưng đọng tư duy âm nhạc bằng máy, bời vì ta cũng có thể cất giữ tư duy âm nhạc.

Iannis Xenakis, c. 1988. Photo: Anderson.

Vậy là trẻ em học nhạc sẽ không bị phụ thuộc vào một ngôn ngữ âm nhạc cụ thể nào?

Đúng thế. Chẳng hạn một đứa trẻ Ấn-độ hoặc Bali đã từng học âm nhạc cổ truyền của quê hương nó, nếu sử dụng cái máy này, sẽ bắt đầu tư duy âm nhạc khác trước. Nó có thể học theo J.S.Bach mà không hề biết ký âm. Dần dần, đứa trẻ tiếp nhận điều đó và hình thành môi trường âm nhạc riêng của nó theo một phong cách riêng.

Ông sử dụng máy tính điện tử như thế nào?

Tin học chỉ là một công cụ. Đôi khi tôi sử dụng những hàm số toán hay những lý thuyết vật lý trong  việc soạn nhạc, là vì giữa âm nhạc và những con số có một mối liên hệ sâu sắc. Toàn bộ lý thuyết toán Pythagore cũng nảy sinh từ đó. Nhưng tất cả đều dựa trên chính cấu trúc tinh thần của con người. Hiểu được điều đó, chúng ta có thể sử dụng từng mảng tư duy toán học, đôi khi còn đi trước cả toán học nữa.

Nghiên cứu về điểm sáng

Một ví dụ là khi các nhạc sĩ ở thế kỷ 10 phát minh ra việc ký âm, không phải bằng việc vẽ mơ hồ những “neumes” (ký hiệu thô sơ để ghi các bài hát nhà thờ) nữa, mà bằng khuông nhạc và những đơn vị phân bậc các đặc điểm âm thanh: cao độ và trường độ. Bằng cách như vậy, người ta đã biến những cảm giác vốn không liên quan gì đến cảm giác không gian thành những ký hiệu không gian, từ 4 thế kỷ trước Nicole Oresme và 6 thế kỷ trước R.Descartes. Âm nhạc đã đi trước như thế đấy!

Ông có thấy sự khác biệt giữa tư duy âm nhạc cổ truyền và những khía cạnh hiện đại của âm nhạc đương thời?

Hoàn toàn không. Thậm chí chính là một sự tiến hoá khá đều đặn đã dẫn đến “âm nhạc chuỗi”. Việc giải phóng các chức năng điệu thức do âm nhạc “thang âm mười hai” (dodecaphonism) rồi “âm nhạc chuỗi” đem lại chỉ là tương đối. Vì chính A.Schonberg và trường phái Vienna đã tự trói mình bằng cách trở lại việc vận dụng loại hình phức điệu có từ thời Phục hưng. Đó là sự phê phán của tôi đối với “âm nhạc chuỗi” từ những năm ’50. Nếu A.Schonberg hiểu biết hơn về những tiến bộ khoa học của thời đại mình – bao gồm cả triết học, toán học, vật lý – hẳn ông đã sử dụng phép tính xác suất.

Vậy để trở thành nhà soạn nhạc, phải cập nhật những tri thức của thời đại?

Đúng vậy. Dĩ nhiên điều đó ngày càng khó khăn. Nhưng nếu không biết tất cả thì cũng phải biết càng nhiều càng tốt. Vì lợi ích căn bản của tri thức là có thể giúp chuyển tải thông điệp một cách dễ dàng.

Convent of La Tourette (elevation), 1959

Ông giải thích như thế nào về vị trí trung tâm của tư duy khoa học trong mỹ học âm nhạc của ông?

Tôi đã hình thành tư duy của mình trong văn hoá Hy-lạp cổ đại, chủ yếu là văn hoá Athena các thế kỷ 5-6 trước Công nguyên. Đó là một thời kỳ lịch sử có sức sáng tạo mãnh liệt hiếm thấy. Toán học, theo định nghĩa hiện nay, ra đời lúc bấy giờ. Theo quan điểm cấu trúc, khoa học tiền đề – trường phái Euclide – ngày nay vẫn tiếp tục, không hề có gián đoạn. Triết học cũng vậy. Xưa nay, người ta vẫn cho rằng toàn bộ thế gian đều dựa trên luật nhân quả. Vậy mà vũ trụ học hiện đại đang đặt ra câu hỏi: Liệu vũ trụ có thể sinh ra từ hư vô, nghĩa là không có một nguyên nhân nào không? Câu trả lời dường như là có thể. Vậy là truyền thống Parmenides có thể thay đổi và tiến hoá.

Ngoài ra, tôi còn chịu ảnh hưởng từ Le Corbusier và O.Messiaen. Trong âm nhạc, O.Messiaen luôn bị thu hút vào các con số, dẫu ông không phải là nhà toán học. Điều đó thấy rõ trong “những phương thức chuyển biến hạn chế” của ông, trong việc ông ưa chuộng những tiết tấu Ấn-độ và Hy-lạp – 2 nền âm nhạc ấy là cực kỳ toán học. Trong lĩnh vực tiết tấu, nghĩa là xử lý thời gian ở trạng thái thuần tuý, không có nền âm nhạc nào đi xa hơn nhạc gõ Ấn-độ. Nhạc gõ châu Phi thì khác hẳn song cũng rất đáng chú ý. Với những nền âm nhạc ấy, tôi cảm thấy mình ở trong một môi trường hoàn toàn tự nhiên. Thậm chí tôi cảm thấy nhạc phương Tây còn “ngoại lai” hơn những nền âm nhạc ấy.

Theo giaidieuxanh