Ngắm "kỳ quan" nhà đá thủ công

119

Đó là căn nhà ba gian, diện tích chỉ khoảng 40m2 nhưng phải mất tới 4 năm mới hoàn thành.Toàn bộ cột đá, gác mái của ngôi nhà đều được làm thủ công. Để xong một chiếc cột đá chống nhà cũng phải mất hàng tháng trời. Chủ nhân và cũng là người thợ làm nên công trình độc đáo đó là cụ Đỗ Khắc Đức, nghệ nhân đá nổi danh Ninh Vân, Ninh Bình.

Cháu nội cụ Đức đang giải thích về hoa văn thủ công với đủ cả đàn, sáo, túi gấm bài thơ…

Nhà 40m2 xây trong… 4 năm!

Nhắc đến công trình được chế tác từ đá lớn và độc đáo nhất, bao giờ người ta cũng nghĩ đến cụm công trình nhà thờ đá Phát Diệm (huyện Kim Sơn, Ninh Bình) như một quần thể kiến trúc có hoa văn công phu đặc sắc nhất Việt Nam. Một số gia đình khá giả ngày nay cũng chuộng “mốt” làm biệt thự đá như ngôi biệt thự đá ở khu đô thị Linh Đàm (Hà Nội), nhưng đó đều là những ngôi nhà đá được chế tác bởi máy móc hiện đại, nhân công hùng hậu với chi phí bạc tỉ. Còn nếu tính công trình kiến trúc nhà dân làm từ đá bằng phương pháp thủ công hoàn toàn (bằng tay chứ không có máy móc) thì có lẽ duy nhất chỉ có ở làng đá Ninh Vân, Ninh Bình mà thôi.

Căn nhà đá độc đáo ấy do cụ Đỗ Khắc Đức kỳ công làm từ cuối năm 1954 đến tận năm 1958 mới hoàn thiện. Ngày ấy, cuộc sống của người dân làng đá Ninh Vân vẫn khốn khó, nhọc nhằn với nỗi lo miếng cơm manh áo. Gia đình cụ Đức cũng chẳng ngoại lệ với 3 đứa con nhỏ nheo nhóc, con lớn nhất mới 8 tuổi, con thứ hai 4 tuổi và cậu con út chưa đầy năm. Nhưng đau đáu với suy nghĩ mình là người làm đá cho thiên hạ mà bản thân lại không có một căn nhà bằng đá thật đẹp để ở, cụ Đức liền nói dối vợ là đang nhận công trình làm nhà đá cho người trên tỉnh, rồi vần đá về để vợ con cùng làm. Ông Đỗ Khắc Hoàng (người con trai cả của cụ Đức) năm nay đã ngoài 60 tuổi, vẫn nhớ như in những ngày cùng mẹ mài đá thành cột nhà: “Hồi đó tôi mới 8 tuổi, mỗi ngày được bố cho 2 hào mua bánh rán ăn rồi mài đá suốt cả ngày với mẹ, chỉ toàn làm bằng tay chứ chẳng có máy móc gì cả. Tảng đá được để lên trên bãi cát rồi dùng cục đá mài với nước, cát để mài nhẵn hình cột nhà tròn hoặc vuông theo ý bố tôi bảo”.

Mỗi ngày cụ chỉ đưa được cho vợ 1 bò gạo để nấu cơm độn, khi thì củ khoai, khi thì củ sắn cho cả nhà 5 miệng ăn. Người vợ nhìn đàn con nheo nhóc, khổ cực quá liền bảo chồng: Sao ông không đến nhà người ta để thanh toán ít tiền công trình. Nhưng lần nào đi tỉnh về, cụ Đức cũng đều bảo nhà người ta hẹn đến khi hoàn thành mới trả tiền. Sau 4 năm miệt mài đục, vẽ, khắc đến chai lỳ cả bàn tay, cuối cùng khi công trình hoàn thành thì cũng là lúc người vợ ngớ người ra khi thấy chồng gọi anh em họ hàng đến giúp sức dựng ngay căn nhà đá trên mảnh đất tổ tiên để lại. “Những cột đá nặng nên rất đông họ hàng, làng xóm đến giúp mới dựng được căn nhà đá lên. Mà hồi đó làm gì có xi măng như bây giờ nên bố tôi phải dùng mật mía trộn với vôi thành chất kết dính để gắn các vết nối giữa các tảng đá lại với nhau. Tôi còn nhớ ngày ấy, căn nhà đá của gia đình tôi dù chỉ là nhà ba gian rộng chừng 40m2 thôi nhưng đã là một căn nhà đẹp lạ mắt, chẳng ai có. Không chỉ có người làng, người xóm trầm trồ mà ngay cả những người ở trên tỉnh về hay những khách lạ đến làng cũng đều đến nhà tôi xem”, ông Hoàng nhớ lại.

Để có giá gương tâm ý, cụ Đức phải làm trong nhiều tháng.

Tách đá từ núi, mài đá thành cột đều bằng… tay

Số lượng đá để làm nên căn nhà đá độc đáo này lên tới hàng chục khối. Ngày ấy, đá khá sẵn ở trên núi cạnh làng nhưng để tách được đá ra khỏi núi là cả một kỳ công bởi tất cả đều chỉ trông vào đôi tay trần chứ không có máy móc hỗ trợ như bây giờ. Để tách được đá từ núi, người thợ phải dùng một thứ dụng cụ gọi là chét (một cục sắt) cùng với một cái nêm rồi tách đá bằng cách đục một lỗ chét nhỏ trên tảng đá, cho nêm vào và dùng búa tạ đập ra. Hồi đó, để tách được đá bằng tay như vậy, người ta phải tìm được thanh vân trên mặt đá rồi mới đục nhiều lỗ theo đường thẳng tắp.

Một buổi sáng, mỗi người thợ cũng chỉ đục được một lỗ chét mà thôi. Không những tốn nhiều thời gian, công sức mà công việc này chỉ những người thợ giỏi mới tách được đá từ núi mà không làm hỏng tảng đá. Lỗ chét chỉ cần lệch một chút là sẽ khiến tảng đá bị vẹo, bị xiên sang một hướng khác, hỏng cả tảng luôn. “Vì thế, khâu đục lỗ chét rất quan trọng trong quá trình tách đá thủ công bằng tay, lỗ chét không chỉ phải thẳng, vuông mà phải thật đều nhau cả về diện tích”, anh Đỗ Khắc Oanh, cháu nội của cụ Đức, hiện đang kế nghiệp nghề làm đá truyền thống của tổ tiên nói.

Ngày ấy, để mang được đá từ núi về làng cũng là cả một kỳ công, người ta phải vận chuyển hoàn toàn dựa trên sức người. Ngọn núi Đụn cách làng chừng 2 km là nơi mà trước đây cụ Đức lấy đá, sau hàng tháng trời tách đá trên núi còn phải đợi đến mùa nước nổi kết cây chuối thành bè chở về làng. Nhưng vào những mùa cạn nước thì dân làng phải dùng con lăn bằng gỗ vần từng đoạn chở đá về làng.

Vận chuyển được đá về nhà rồi, cả nhà lao vào mài, đục thì giỏi lắm một tháng mới mài nhẵn được một chiếc cột nhà vuông. Mài cột tròn thì còn kỳ công và mất thời gian hơn nhiều, bởi để mài được cột tròn trước tiên người ta phải mài thành cột vuông rồi mới mài tiếp thành cột tròn. Để có được một chiếc cột tròn phải mất tới gần 2 tháng, chưa kể phải thêm vài tháng đục, khắc hoa văn. Cả căn nhà ba gian độc đáo này có tới 10 cột vuông, 2 cột tròn và 6 cột ngang.

Bờ tường cũng làm bằng đá.

Gia công thép xoắn mới chạm nổi hoa văn

Quá nửa thế kỷ trôi qua, căn nhà đá duy nhất được làm hoàn toàn thủ công bằng tay vẫn đứng vững dù mảnh đất Ninh Vân đã trải qua bao khắc nghiệt của thiên nhiên. Trong cơn bão năm 1962, các nóc nhà trong làng đá gần như đổ sập cả, chỉ có căn nhà đá “cổ lỗ sĩ” chẳng hề lung lay. Cụ Đức là một nghệ nhân, nên các hoạ tiết, hoa văn cụ khắc trên cột nhà cũng mang đậm bản sắc dân tộc. Trên thanh xà ngang bằng đá giữa nhà khắc hoa văn theo lối cổ đồ với đủ cả đàn, sáo, nhị, túi gấm bài thơ, triện tàu lá giắt, tùng cúc trúc mai. Các cột nhà đều được khắc hoạ tiết uốn lượn mềm mại với những dòng câu đối truyền thống. Thanh đá xà ngang phía trên cánh cửa cũng có những nét hoa văn đục tinh xảo bởi bàn tay nghệ nhân tài hoa của làng. Trong căn nhà đá ấy, cụ Đức còn tự tay làm một chiếc giá gương bằng đá với hình ảnh hàng tùng dài kéo tới chữ “tâm – tư”.

Việc đục, khắc hoạ tiết trên đá ngày ấy không đơn giản như bây giờ. Dù là chi tiết nhỏ nhất hay những hình khắc lớn thì đều phải làm bằng tay. Người ta phải dùng thép xoắn gia công thành mũi đục rồi lấy màu cho mũi đục (tương tự như thợ rèn lấy màu cho dao ngày nay) thật sắc thì mới chạm khắc được lên mặt đá. Người thợ phải tỉ mẩn từng nét đục, nhích từng li mới tạo nên được nét hoa văn uốn lượn, tinh tế. Mỗi hoạ tiết “tùng cúc trúc mai” phải mất nhiều tuần mới chạm xong. Còn ngày nay, với mũi đục hợp kim người ta dễ dàng chạm khắc đá mà không mất nhiều thời gian và công sức.

Ngôi nhà đá được làm hoàn toàn bằng tay bởi cụ Đỗ Khắc Đức, nghệ nhân đầu tiên được Nhà nước phong tặng năm 1985, đã trở thành niềm tự hào của làng đá Ninh Vân. Gia đình cụ từng vinh hạnh được đón tiếp nhiều vị lãnh đạo cao cấp tới thăm như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp… Tiếp nối nghề truyền thống của làng cổ, cháu nội cụ Đức – anh Đỗ Xuân Oanh bây giờ cũng trở thành người làm đá có tiếng ở Hà Nội, với hàng chục công trình từ tâm chế tác tượng Phật nơi đình, chùa.

Theo Giadinh