Thảm cỏ biển Việt Nam với những thách thức trong điều kiện biến đổi khí hậu

2074

I. Mở đầu

Hệ sinh thái cỏ biển đóng vai trò quan trọng trong cả hệ thống ven biển rộng lớn và có mối tương tác qua lại với môi trường sống này. Các thảm cỏ biển được coi như một nguồn lợi biển quan trọng bởi khả năng ổn định nền đáy, tổng hợp các chất hữu cơ từ vô cơ như cacbon, nitơ, oxy và phốt pho, tham gia vào chuỗi thức ăn, chu trình dinh dưỡng và là nơi sống cho nhiều loài có giá trị kinh tế cao.

Từ năm 1999 đến nay, Việt Nam đã có khoảng 60 công trình công bố về hệ sinh thái cỏ biển, đó là những cố gắng nỗ lực của các nhà khoa học để giúp cho hệ sinh thái cỏ biển Việt Nam theo kịp với thế giới. Tuy nhiên, những nghiên cứu về hệ sinh thái cỏ biển còn hạn chế so với các hệ sinh thái biển khác. Hơn nữa, những hiểu biết về hệ sinh thái cỏ biển còn chưa đầy đủ và các thảm cỏ biển đang dần dần bị mất đi trên tòan thế giới và cả Việt Nam. Những tiến bộ trong nghiên cứu cỏ biển không kịp để lấp những lỗ hổng về khả năng dự báo trong tương lai. Ở đây, chúng tôi muốn đánh giá hiện trạng của hệ sinh thái cỏ biển Việt Nam để chuẩn đoán những điểm mạnh và điểm yếu với mục đích xác định những thách thức phải đối mặt khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và quản lý các thảm cỏ biển.

II. Hiện trạng thảm cỏ biển Việt Nam

1. Đa dạng loài

Việt Nam nằm trong vùng Biển Đông nơi có sự đa dạng loài cao theo xu hướng tăng dần từ vùng cận nhiệt đới phía bắc tới vùng nhiệt đới phía nam. Tổng kết từ các nguồn tài liệu từ năm 1997 đến nay cho thấy Việt Nam có tổng số 14 loài cỏ biển, đó là: Zostera japonica, Halophila decipiens, H. minor, H. beccarii, H. ovalis, Enhalus acoroides, Thalassia hemprichii, Cymodocea serrulata, C. rotundata, Halodule pinifolia, H. uninervis, Syringodium isoetifolium, Thalassodendron ciliatum, Ruppia maritima (Nguyễn Văn Tiến và cs, 2004). Tuy nhiên, sau trận bão Linda năm 1997, thì loài cỏ biển Thalassodendron ciliatum đã bị biết mất hoàn toàn tại Côn Đảo (Nguyễn Xuân Hòa và cs, 2002)

So với các nước trong khu vực thì Việt Nam đứng thứ 3 về đa dạng loài cỏ biển chỉ sau Ôx-trây-lia thứ nhất (20 loài) và Philipin đứng thứ hai (16 loài) (UNEP, 2004). So sánh thành phần loài giữa các vùng biển đặc trưng: Bắc, Trung, Nam Việt Nam có thể thấy đa đạng loài thay đổi rõ nét giữa các vùng. Điều này không chỉ thể hiện ở thành phần loài, diện tích phân bố mà còn ở cả đặc trưng sinh học của cỏ biển, là kết quả của sự tương tác của các quần thể của từng loài với điều kiện môi trường. Vùng biển Tây Nam Trung Bộ có đa dạng loài cao nhất (Côn Đảo: 10 loài; đảo Phú Quốc: 9 loài; Khánh Hòa: 9 loài; Bình Thuận: 8 loài; Phú Quí: 7 loài; Nguyễn Văn Tiến và cs, 2006), sau đó là Tam Giang – Cầu Hai và Lập An thuộc miền trung có 6 loài, vùng biển có thành phần loài cũng diện tích phân bố thấp là phía Bắc (Hạ Long, Cát Bà: 5 loài).

Bảng 1. Thành phần loài và phân bố cỏ biển Việt Nam

Nguồn: Nguyễn Hữu Đại (2002); Nguyễn Văn Tiến và Đàm Đức Tiến (2000) Nguyễn Văn Tiến và cs (2002); Nguyễn Văn Tiến và cs (2004).

2. Sự suy giảm cỏ biển và hậu quả

Trong khi 12.000 km2 diện tích cỏ biển đã mất trên toàn cầu, riêng vùng biển Châu Á-Thái Bình Dương có 10 điểm cảnh báo về sự suy giảm cỏ biển, chiếm 25% tổng số các vùng cỏ biển mất trên toàn thế giới (Short và Wyllie -Echeverria, 1996). Riêng Việt Nam, theo thống kê từ các tài liệu hiện có thì diện tích cỏ biển đang suy giảm từ 40% đến 50% bởi hàng loạt các tác động do con người gây ra (Nguyễn Hữu Đại và cs, 2002; Nguyễn Văn Tiến, 2004). Trong đó, vùng biển Khánh Hòa đã mất đi 30% trong vòng 5 năm từ năm 1997 đến 2002 (Nguyễn Hữu Đại và cs, 2006) do các hoạt động nuôi trồng thủy sản. Diện tích thảm cỏ biển vùng biển phía bắc giảm đi đến 90% do các hoạt động xây dựng phát triển ven bờ. Một số thảm cỏ biển Zostera japonica ở vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng đã bị biến mất hoàn toàn. Đây là loài cỏ biển ôn đới chỉ xuất hiện ở vùng biển Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á. Nhìn chung, các thảm cỏ biển rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường nước và chúng giảm đi nhanh chóng khi môi trường bị tác động mạnh.

Mất cỏ biển dẫn đến mất các chức năng và dịch vụ đi kèm của vùng ven biển. Thảm cỏ biển mất làm thay đổi lưới thức ăn và mất nguồn lợi biển. Sự suy giảm chất lượng nước biển và phá hủy nơi sinh cư tự nhiên đã làm giảm đáng kể nguồn lợi sinh vật biển. Khoảng 85 loài được liệt kê là những loài đang bị đe dọa trong đó hơn 70 loài có trong sách Đỏ Việt Nam. Trữ lượng nguồn lợi biển, năng suất và kích thước cá biển đang giảm sút; ví dụ năm 1984 đến 1994 trữ lượng cá giảm 30% (Nguyễn Văn Quân, 2006). Theo ngư dân ở Bãi Thơm (đảo Phú Quốc) cho biết khi các thảm cỏ biển ở đây mất đi thì trữ lượng hải sản cũng suy giảm rõ rệt. Sự suy giảm của các thảm cỏ biển cũng làm giảm nguồn lợi cá ngựa 200 – 250 kg/ha (năm 1980) xuống còn 70-80 kg/ha (Nguyễn Văn Quân, 2006). Trong hiện tại và tương lai, sự suy giảm này còn tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống của người dân và thế hệ mai sau. Mặc dù, tỷ lệ đói nghèo của cộng đồng dân cư ven biển thấp hơn các vùng khác, nhưng sự gia tăng dân số cùng với các phương thức đánh bắt hủy diệt và phát triển không bền vững sẽ sớm tác động đến nền kinh tế.

III. Những thách thức của thảm cỏ biển

1. Tác động của con người lên thảm cỏ biển

Con người tác động lên cỏ biển thông qua các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp. Tác động trực tiếp thường là các yếu tố cơ học như hoạt động của tàu thuyền, phương thức đánh bắt, hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản, cải tạo đất…

• Hoạt động của tàu thuyền, xây dựng cảng và đô thị: Hoạt động của con người ngày càng gia tăng ở vùng ven biển đang trở thành nguyên nhân chính làm thay đổi hệ sinh thái cỏ biển (như: thuyền bè neo đậu, sử dụng phương thức đánh bắt huỷ diệt, khai thác bừa bãi, các công trình xây dựng ở các khu vực ven biển) thông qua đó con người tác động lên chất lượng nước và trầm tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự sống của cỏ biển (Short và Wyllie-Cheverria, 1996; Hemminga và Duarte, 2000) đồng thời làm thay đổi lưới thức ăn trong môi trường biển mà cỏ biển là một mắt xích quan trọng. Vùng ven biển trở thành tâm điểm của các dịch vụ xã hội và cộng đồng dân cư. Hoạt động cảng cũng gây ra áp lực lớn cho các thảm cỏ biển cận kề do sự tăng độ đục và các chất dinh dưỡng xâm nhập bởi sự đi lại của tàu thuyền cũng như hoạt động giao thông hàng hải. Đô thị hóa ven bờ biển cũng liên quan đến đổ cát, đất khi xây dựng, tăng xói lở bờ biển là vấn đề chính ở những vùng biển di lịch và ảnh hưởng đến thảm cỏ biển và các hệ sinh thái khác. Trong một số trường hợp, hoạt động du lịch tác động trực tiếp khi người ta “cải tạo” bãi biển bằng cách nhổ thực vật (trong đó có cỏ biển) để phục vụ nhu cầu tắm biển. May thay, có một số chỉ tiêu mà du lịch ven biển phải thực hiện gồm có việc gìn giữ các dịch vụ sinh thái và giữ một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ thảm cỏ biển.

• Phương thức đánh bắt: Tàu bè tăng nhanh chóng về số lượng và cả kích thước, điều đó song song với việc tăng các tác động tiêu cực lên thảm cỏ biển thông qua hành động neo tàu, cũng như đánh bắt thả lưới ở vùng biển nông, và ngay cả các hoạt động nhỏ liên quan đến việc thu lượm hải sản như đào con sò và kéo lưới trên vùng triều và hơn nữa là phương thức đánh bắt bằng thuốc nổ (Nguyễn Văn Tiến, 2004). Tám mươi phần trăm hộ gia đình ven biển có thu nhập từ các hoạt động đánh bắt, là nguồn thu nhập đáng kể cho người nghèo mà còn cả với những hộ giàu (MoFi, 2000). Hầu hết những hộ nghèo đều sống phụ thuộc vào đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Những ngư dân ven biển đều muốn may mắn và trở nên giàu có nên họ đã sử dụng những phương thức đánh bắt cạn kiệt như dùng bình ắc quy và xung điện để diệt những đàn cá lớn (như ở Tam Giang – Cầu Hai; Stanley 2006).

• Nuôi trồng thủy sản: Bên cạnh đó, nuôi trồng nước mặn và nước lợ đang phát triển nhanh chóng ở vùng ven biển. Đay là ngành công sản xuất thức ăn có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất. Số đầm nuôi tăng dần theo đường cong số mũ, công nghiệp chế biến thức ăn tăng nhanh cũng đã tác động đến cỏ biển (Nguyễn Hữu Đại, 2002; Duarte, 2002). Tổng số các đầm nuôi tôm tăng lên từ 250.000 ha năm 2000 đến 478.000 ha năm 2001 và 530.000 ha năm 2003 và đến nay Việt Nam có thể trở thành khu vực nuôi tôm lớn nhất thế giới (Hambrey, 2001). Những hoạt động này gây áp lực đến cỏ biển thông qua hoạt động đổ thải cũng như hủy hoại chất lượng nước và trầm tích.

• Cải tạo đất: Quá trình lắng đọng bùn gia tăng ở các vùng ven biển là tác động chính của con người lên hệ sinh thái cỏ biển do các các hoạt động cải tạo hoặc thay đổi mục đích sử dụng đất. Lắng động bùn là vấn đề chính ở vùng biển Đông Nam Á nói chung do tốc độ xói lở tăng, hoạt động chặt phá rừng bừa bãi và cải tạo đất. Lắng động bùn làm giảm ánh sáng khuyếch tán xuống cỏ biển hoặc trôn vùi cỏ làm cho cỏ biển bị chết. Những nơi có hiện tượng tượng lắng đọng bùn cao thì đa dạng, sinh khối và sinh sản của cỏ biển giảm nhanh chóng.

3. Sự thay đổi nhanh chóng của khí hậu toàn cầu

Những tác động gián tiếp của con người thường là những xáo trộn của thiên nhiên do nhiều nguyên nhân, chúng kết hợp với ứng xử của con người ở các khu vực ven biển trong giao thông, hoạt động giải trí. Các tác động gián tiếp gồm tăng mực nước biển, CO2 và tia cực tím, và các tác động của con người lên đa dạng sinh học biển (Short và Neckle, 1999).

Cỏ biển hiện đang sống trong một môi trường có nhiệt độ trung bình và CO2 thấp. Tuy nhiên xu hướng thay đổi khí hậu như nhiệt độ, mực nước biển và hàm lượng CO2 tăng sẽ gây ra những áp lực đối với nhiều loài cỏ biển. Kèm theo đó là những tác động của con người đến các hệ sinh thái ven bờ làm thay đổi chất lượng nước biển nhanh hơn thời gian thích nghi của cỏ biển. Những tác động của con người làm tổn thương và giảm đa dạng cỏ biển. Con người thay đổi cấu truc bờ biển bởi những hoạt động xây dựng cảng, dịch vụ ven biển ngăn cản sự di trú của cỏ biển khi mực nước biển tăng. Thêm vào đó, các thảm cỏ biển tiếp tục bị mất để phát triển vùng ven biển dẫn đến những hậu quả khó lường trong tương lai

Cùng với các hoạt động khai thác dưới biển là các hoạt động chặt phá rừng đầu nguồn, nước thải sinh hoạt và công nghiệp đổ trực tiếp ra biển làm cho chính con người và các hệ sinh thái tự nhiên đang phải đối mặt với hiện tượng thay đổi khí hậu toàn cầu. Sự thay đổi khí hậu toàn cầu đang ngày càng tăng dự báo sự biến động lớn sắp xảy ra sẽ tác động mạnh đến dại dương của toàn trái đất và cùng ảnh hưởng đến cỏ biển. Sự biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sinh sản, phân bố và chức năng của thực vật (Short và Neckles, 1999), như nhiệt độ nước biển tăng từ hiệu ứng nhà kính, mực nước biển tăng làm thay đổi độ sâu của nước và mực thủy triều, dòng chảy, độ muối.

• Nhiệt độ tăng: Nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng 1-3,5oC vào cuối thế kỷ 21 (Short và Neckles, 1999). Nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của cỏ biển và khả năng cân bằng các bon, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố của cỏ biển. Các quần xã cỏ biển bao gồm chính chúng và các loài tảo sống bám trên lá cỏ. Sinh trưởng và phát triển của tảo phụ thuộc chính và nhiệt độ. Nhiệt độ tăng sẽ kích thích và thúc đẩy sự sinh trưởng mạnh các loài tảo và thực vật phù du làm che phủ mặt nước, tăng độ đục và làm giảm ánh sáng xâm nhập xuống nền đáy đồng thời làm giảm sự quang hợp của cỏ biển (Bryars và Neverauskas, 2004; de Boer, 2007). Thêm vào đó, hiện tượng phì dinh dưỡng trong nước cũng phá hỏng sự cân bằng giữa thực vật biểu sinh và cỏ làm giảm sự quang hợp của cỏ biển (Short và Neckles, 1999), sinh trưởng cỏ biển suy giảm (Bernard và cs, 2007). Như vậy, tác động lâu dài của sự thay đổi khí hậu tăng ưu dưỡng làm mất các thảm cỏ biển ở vùng nước nông ven biển. Nhiệt độ nước biển tăng là nguyên nhân làm tăng cường độ các cơn gió lốc vùng nhiệt đới, cùng với các trận bão mạnh (Dyer, 1995). Các trận bão, gió lốc gây nhiễu loạn và làm suy giảm các thảm cỏ biển ở nhiều vùng trên thế giới (Short và Wyllie-Echeverria, 1996) và Việt Nam (Nguyễn Văn Tiến và cs, 2002). Bão tăng làm tăng các trận mưa lớn gây ra lũ lụt, xáo trộn trầm tích (Dyer, 1995). Những yếu tố trên làm thay đổi chất lượng biển, sóng lớn nhổ bật rễ cỏ là nguyên nhân gây hại cho thảm cỏ biển.

• Mực nước biển tăng: Theo báo cáo về sự thay đổi khí hậu của liên hiệp quốc năm 1995 cho rằng: mực nước biển toàn cầu tăng từ 10-25 cm trong vòng 100 năm qua và trong thế kỷ tới sẽ tăng thêm từ 15 đến 95 cm (Watson và cs, 1996). Mực nước biển tăng làm they đổi thủy triều ảnh hưởng đến ánh sáng, dòng chảy, độ muối và tất cả những yếu tố này sẽ điều khiển sự phân bố và đa dạng của cỏ biển.

Độ sâu tăng và ánh sáng giảm: Mực nước biển tăng làm tăng độ sâu của nước biển làm giảm ánh sáng khuyếch tán xuống nền đáy. Nơi sinh cư của cỏ biển giảm và sinh sản cũng giảm, giá trị và chức năng của chúng cũng giảm theo. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong thế kỷ 21 mực nước biển tăng làm độ sâu của biển tăng thêm 50 cm sẽ làm giảm 50% ánh sáng khuyếch tán và làm giảm sinh trưởng của cỏ biển từ 30 đến 40% (Short và cs, 1995).

Mực nước biển tăng làm tăng vận động của khối nước ở vùng ven biển và cửa sông, ảnh hưởng đến cỏ biển và cấu trúc habitat. Vận tốc của dòng chảy tăng gây ra sự xáo trộn trầm tích, tăng độ đục và cũng là yếu tố làm giảm ánh sáng tác động tiêu cực lên habitat. Khi mực nước biển tăng sẽ gây ra hiện tượng xâm nhập mặn vào đất liền làm tăng độ muối ở các vùng cửa sông. Độ muối thay đổi ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của cỏ biển. Hầu hết cỏ biển có thể sống trong ngưỡng độ muối rộng, tuy nhiên độ muối tăng hay giảm đều tác động trực tiếp đến cỏ biển. Môi trường nước mặn tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình nảy mầm, quang hợp, sinh trưởng của cỏ biển. Cỏ biển sống ở vùng cửa sông nơi tiếp xúc với thực vật nước lợ như Ruppia spp. thích ứng với độ muối vào khoảng 10‰, nhưng độ muối sẽ là áp lực môi trường gây tổn thương cỏ biển nếu vượt quá 45‰ (Quammen & Onuf, 1993). Các tế bào cỏ biển chịu đựng áp lực thấm lọc ở nồng độ muối quá thấp hoặc quá cao sẽ yếu dần và thậm chí chúng sẽ bị chết. Bên cạnh đó, độ muối còn là chỉ thị của nước biển ảnh hưởng đến cỏ biển. Mỗi loài cỏ có khả năng thích ứng với nồng độ muối khác nhau ở cả vùng nhiệt đới và ôn đới.

• Hàm lượng CO2 tăng: Hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng tác động trực tiếp đến thực vật toàn cầu (Amthor, 1995), trong đó có thực vật thủy sinh. Cỏ biển sử dụng CO2 trong quá trình quang hợp, vì vậy CO2 tăng thì sinh trưởng và sinh khối của cỏ biển cũng tăng, ví dụ Zostera marina (Zimmerman và cs, 1997). Tuy nhiên, quá trình quang hợp của cỏ biển còn phụ thuộc vào các yếu tố môi trường khác như dinh dưỡng, nhiệt độ và ánh sáng. Madsen và cs (1996) cho rằng quang hợp của thực vật thủy sinh giảm khi quá trình tăng CO2 kéo dài; làm giảm diện tích lá, tốc độ quang hợp đạt cực đại; và đường cong quang hợp sẽ ngược với nồng độ CO2. Tảo bám sống trên bề mặt lá cỏ cũng tăng theo do phản ứng với CO2. Nếu tảo bám tăng do hàm lượng CO2 tăng và nhất là ở những vùng cửa sông có hiện tượng ưu dưỡng sẽ làm cỏ biển giảm đi nhanh chóng.

• Tác động của tia cực tím: khi tầng ôzôn của khí quyển càng mỏng thì tia cực tím tác động xuống trái đất càng tăng. Tia cực tím tác động tiêu cực đến thực vật và tầng bình lưu. Tia cực tím ảnh hưởng đến cả thực vật thủy sinh do chúng có khả năng thâm nhập vào khối nước đến độ sâu 10 m và có thể lên đến 70 m (Smith và cs, 1992). Tia cực tím tác động mạnh đến thực vật biển vùng triều, nhất là khi thủy triều xuống thực vật bị lộ ra ngoài. Cỏ biển vùng nhiệt đới bị tác động mạnh vì nhận được nhiều tia cực tím nhất

IV. Đề xuất các giải pháp quản lý thảm cỏ biển Việt Nam

Để đạt được mục tiêu bảo vệ thảm cỏ biển, các nhà khoa học, xã hội và nhà quản lý cần phối hợp thực hiển lập kế hoạch giám sát các hoạt động khai thác và phát triển vùng ven biển. Tổng kết các kinh nghiệm quản lí hệ sinh thái cỏ biển ở Châu Âu, Duarte (2002) đã đưa ra ý tưởng là trong chiến lược bảo vệ các thảm cỏ biển, cần có sự phối hợp các nhân tố xã hội, quản lý và khoa học là vô cùng cần thiết để bảo tồn hệ sinh thái cỏ biển một cách hiệu quả (hình 1).

Hình 1. Kết hợp các yếu tố để bảo vệ hiệu quả hệ sinh thái cỏ biển

Từ các kết quả hoạt động giám sát về môi trường sinh thái, hiện trạng thảm cỏ biển và phân tích những bất cập trong quản lí hiện nay có thể đề xuất một số giải pháp cấp bách nhằm quản lý có hiệu quả.

Xác định rõ sự phân bố của cỏ biển: Để bảo vệ và quản lý nguồn lợi cỏ biển, cần nắm rõ sự phân bố và thành phần loài cỏ biển. Cỏ biển phản ứng ra sao khi điều kiện môi trường thay đổi và sự biến động theo mùa của cỏ biển.

Quan trắc định kỳ: Kỹ thuật viễn thám sử dụng các phương pháp quang học để quan trắc độ phủ của cỏ biển cho phép phát hiện diện tích thảm cỏ biển thu hẹp hay mở rộng nhưng không thể giải quyết những vấn đề xảy ra bên trong thảm cỏ. Vì vậy cần nghiên cứu và áp dụng phương pháp quan trắc có khả năng phát hiện những biến động nội tại cũng như hình thành các chỉ số cảnh báo sớm. Việc hoàn thiện mạng lưới quan trắc ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu có thể cung cấp công cụ chuẩn đoán trên diện rộng và các xu hướng biến động của cỏ biển.

Giáo dục nâng cao nhận thức: Trong việc quản lí và hoạt động lâu dài của các Khu bảo tồn cỏ biển, khác với trước đây vai trò của cộng đồng dân cư ven biển ngày càng được đề cao. Nếu không chú trọng công tác giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ thảm cỏ biển cho nhân dân địa phương thì sự nghiệp bảo vệ cỏ biển sẽ không thành công. Các đe dọa lên cỏ biển khác nhau mà các hoạt động quản lý có hiệu quả không giống nhau trừ khi có sự phối hợp đồng bộ giữa quan điểm và hiểu biết của cộng đồng. Chiến lược giáo dục cần thực hiện có trọng điểm ở những nơi dễ kiểm soát. Vì thế, cần phải tạo sự đồng thuận, ủng hộ cao của Chính quyền và nhân dân địa phương trong việc bảo vệ cỏ biển là rất quan trọng. Tổ chức các cuộc gặp mặt giữa các nhà khoa học, nhà quản lý và dân địa phương để trao đổi chia xẻ thông tin về cỏ biển.

Trồng phục hồi: Kỹ thuật di trồng cỏ biển đã đạt được thành công ở một số nước phát triển. Tuy nhiên, di trồng cỏ biển trên phạm vi rộng sẽ rất tốn kém, đây cũng là hạn chế chính của các nước đang phát triển. Do đó, dù chương trình trồng rừng ngập mặn đã được thực hiện rộng khắp ở các quốc gia như Việt Nam và Thái Lan nhưng những sáng kiến như vậy chưa khả thi đối với cỏ biển. Thêm vào đó, khi lấy cỏ giống từ bãi cỏ này đem trồng ở nơi khác thì cũng đã tác động tiêu cực lên quần thể đó, điều này làm giảm đi giá trị của việc di trồng cũng như lựa chọn cách quản lý. Vì vậy, trong điều kiện nước ta nói chung vấn đề bảo vệ cỏ biển nên theo hướng an toàn, ít tốn kém và trong nhiệm vụ quản lí và phát triển bền vững nguồn lợi cỏ biển, lấy nhiệm vụ bảo vệ, bảo tồn là ưu tiên. Điều quan trọng là cần giữ cho môi trường nước biển không bị ô nhiễm và không bị những tác động tiêu cực thì cỏ biển có thể tự phục hồi trở lại mà không cần phải di trồng vừa tốn kém vừa khó thành công mà còn làm ảnh hưởng đến các thảm cỏ tự nhiên.

Tổ chức lực lượng bảo vệ: Cần thiết phải kiện toàn tổ chức lại lực lượng bảo vệ gồm các cơ quan chức năng như làm nhiệm vụ bảo vệ như Kiểm ngư, Thanh tra Thuỷ sản, Bộ đội Biên phòng. Tăng thêm các trạm kiểm soát, cắm mốc phao chỉ giới và cung cấp đủ trang thiết bị tàu thuyền, vũ khí v.v cho lực lượng bảo vệ. Bên cạnh đó cần thiết có sự tham gia của chính người dân vào lực lượng bảo vệ.

Cưỡng chế thi hành các văn bản pháp luật: Hiện nay đã có khá nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản của Quốc hội Việt Nam và của UBND các tỉnh. Để giảm thiểu ô nhiễm dầu trong nước, cần hạn chế đến mức tối thiểu hoạt động của các tàu thuyền trong khu vực, khoanh vùng hoạt động của tàu thuyền và có các biện pháp kiểm soát việc xả thải từ tàu. Nghiêm cấm khai thác thuỷ sản trên các thảm cỏ biển, không cho tàu thuyền neo đậu tại các khu vực cỏ biển phân bố tập trung. Qui định nơi neo đậu tàu thuyền. Mặt khác, cần nghiêm cấm chặt phá rừng đầu nguồn đồng thời tiến hành trồng phục hồi rừng trên đảo để bảo vệ thảm cỏ biển. Hoàn thiện những chính sách bảo vệ cỏ biển. Ví dụ ở Mỹ khi ai đó làm hỏng cỏ biển, họ phải bồi thường bằng cách trồng lại một bãi cỏ mới. Ý thức cộng đồng bảo vệ các hệ sinh thái tăng khi các chính sách quản lý được hoàn thiện hơn. Du lịch cũng là tác nhân dẫn đến sự suy thoái các hệ sinh thái cần hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Hợp tác quốc tế: Cần tăng cường trao đổi học tập kinh nghiệm về nghiên cứu, quản lý hệ sinh thái cỏ biển với các nước đã có kinh nghiệm và đạt được những thành công nhất đinh như: Mỹ, Ôx-trây-lia và một số nước Châu Âu. Các cơ quan quản lý các khu bảo tồn biển mà có hệ sinh thái cỏ biển nên đăng kí tham gia mạng lưới giám sát cỏ biển toàn cầu “SeagrassNet” và Chương trình giám sát cỏ biển dựa vào cộng đồng “SeagrassWatch”.

 

Từ Thị Lan Hương , Nguyễn Văn Tiến

 

Tài liệu tham khảo

Tài liệu tiếng Việt

1. Nguyễn Hữu Đại, Phạm Hữu Trí, Nguyễn Thị Lĩnh, Nguyễn Xuân Vỵ, 2002. Sự suy giảm các thảm cỏ biển ở Khánh Hoà và khả năng phục hồi chúng. Tuyển tập Báo các Khoa học Hội nghị Khoa học tòan quốc về Biển Đông, Nha Trang, 16-19/2002: 359-368.

2. Nguyễn Hữu Đại, Phạm Hữu Trí, Nguyễn Thị Lĩnh, Nguyễn Xuân Vỵ, 2006. Chương VIII. Các giải pháp bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái cỏ biển. Tóm tắt Báo cáo Đề tài: “Nghiên cứu giải pháp bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển và khắc phục ô nhiễm môi trường biển tự sinh” trong Tuyển tập các kết quả chủ yếu của chương trình Điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ Biển. Quyển II. Mã số KC.09.

3. Nguyễn Xuân Hòa và Trần Công Bình, 2002. Quan trắc các thảm cỏ và dugongs ở Côn Đảo, 1998-2002. Báo cáo Hội nghị Khoa học “Biển Đông – 2000”, Nha Trang, 19-22, tháng 9 năm 2002.

4. Từ Thị Lan Hương, 2004. Những mối đe dọa đối với hệ sinh thái cỏ biển và những vấn đề đặt ra cho quản lý. Trang: 57-77. Trong: Nguyễn Văn Tiến, Lê Thanh Bình, Nguyễn Hữu Đại, Trần Hồng Hà, Từ Thị Lan Hương, Đỗ Nam, Đàm Đức Tiến, 2004. Tiếp cận quản lý hệ sinh thái cỏ biển Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật: 131 trang

5. Nguyễn Văn Quân, 2006. Bước đầu nghiên cứu nguồn lợi cá trong thảm cỏ biển đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Báo cáo Khoa học Hội thảo Khoa học, công nghệ và kinh tế biển phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. 126-135.

6. Nguyễn Văn Tiến, Lê Thanh Bình, Nguyễn Hữu Đại, Trần Hồng Hà, Từ Thị Lan Hương, Đỗ Nam, Đàm Đức Tiến, 2004. Tiến tới quản lý hệ sinh thái cỏ biển Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Trang: 11-31.

Tài liệu tiếng Anh

7. Amthor, J.S., 1995. Terrestrial higher-plant response to increasing atmospheric (CO2) in relation to the global carbon cycle. Global Change Biol. 1, 243-274.

8. Bernard, G., Boudouresque, C.F., Picon, P., 2007. Long term changes in Zostera meadows in the Berre lagoon (Provence, Mediterranean Sea). Esturine, Coastal and Shelf Science 73: 617-629.

9. Bryars, S. Neverauskas, V., 2004. Natural recolisation of seagrasses at a disused sewage sludge outfall. Aquat. Bot. 80: 283-289

10. Costanza, R., d’Arge, R., de Groots, R., Farber, S., Grasso, M., Hannon, B., Limburg, K., Naeem, S., O’Neil, R.V., Paruelo, J., Raskin, R.G., Sutton, P., van den Belt, M., 1997. The value of the world’s ecosystem services and natural capital. Nature, 387: 253 – 260.

11. de Boer, W.F., 2007. Segrass-sediment interactions, positive feedbacks and critical threholds for occurrence: a review. Hydrobiologia 591: 5-24.

12. Duarte, C.M., 2002. The future of seagrass meadows. Environ. Conserv. 29: 192-206.

13. Duarte, C.M., Terrados, J., Agawin, N.S.R., Fortes, M.D., 2000. An experimental test of the presence of competitive interactions among SE Asian seagrasses. Mar. Ecol. Prog. Ser. 197, 213 -240.

14. Dyer, K.R., 1995. Response of estuaries to climate change. In: Eisma, D. (Ed.), Climate Change: Impact on Coastal Habitation. CRC Press, Boca Raton, pp. 85 – 110.

15. Gacia, E., Duarte, C.M., Marba, N., Terrados, J., Kennedy, H., Fortes, M.D., Tri, N.H., 2003. Sediment deposition and production in SE-Asia seagrass meadows. Estuarine, Coastal and Self Science 56: 909-919.

16. Hambrey, J., Tuan, L. A., Thuong, T.K. 2001. Aquaculture and poverty alleviation 2: cage culture in coastal waters of Vietnam. World Aquaculture. Vol 32 No. 2.

17. Hemminga, M.A. and Duarte, C.M., 2000. Seagrass ecology. Cambridge, UK: Campridge University Press.

18. Madsen, T.V., Maberly, S.C., Bowes, G., 1996. Photosynthetic acclimation of submersed angiosperms to CO2 and

HCO¬¬3-. Aquat. Bot. 53: 15-30.

19. MoFI, 2000. Poverty and Aquatic Resources in Vietnam: An Assessment of the Role and Potential of Aquatic Resource Management in Poor People’s Livelihoods. 37 pages.

20. Quammen, M.L. and Onuf, C.P., 1993. Laguna Madre: Seagrass changes continue decades after salinity reduction. Estuaries, 16: 302-310.

21. Short, F.T., Neckles, H.A., 1999. The effects of global climate change on seagrasses. Aquat. Bot., 63: 169-196.

22. Short, F.T., Wylie-Echeverria, S., 1996. Natural and human induced disturbance of seagrasses. Environ. Conserv. 23: 17-27.

23. Spalding, M.D., Taylor, M., Martins, S., Green, E., and Edwards, M., 2001. The global distribution and status of seagrass ecosystems. World Conservation Monitoring Centre.

24. Stanley, B., 2006. Emphasis of people, not things, calms the waters in Tam Giang lagoon.

25. UNEP, 2004. Seagrass in the South China Sea. UNEP/GEF/SCS Techical Puclicaton No. 3.

26. Zimmerman, R.C., Kohrs, D.G., Steller, D.L., Alberte, R.S., 1997. Impacts of CO¬2 enrichment on productivity and light

reqirements of eelgrass. Plant Physiol. 115: 599-607.

27. Watson, R.T., Zinyowera, M.C., Moss, R.H., 1996. Climate change 1995 – Impacts, adaptations, and mitigation of climate change: Scientific-technical analysis. Contribution of working group II to the Second Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, Cambridge University Press, NY, p. 878.