Biến đổi khí hậu và những nguy cơ đối với phát triển đô thị ven biển

252

Lịch sử đã chứng minh thực tế sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã có nhiều giai đoạn, với những biến đổi lớn, nhỏ, có quy luật và cũng có những đột biến. Những biến đổi trong lịch sử cho thấy có lúc biển tiến ( ví dụ như khu vực Ninh Bình dường như trước đây là biển) và cũng có lúc biển lùi, với hàng trăm ha bồi đắp cho thêm ở nhiều vùng ven biển. Loài người cũng đã chứng kiến nhiều thời kỳ có sự biến đổi khí hậu và cũng tìm ra nhiều phương thức để ứng phó. Mục tiêu phát triển kinh tế biển, khai thác thế mạnh của biển, nhưng đồng thời là đối mặt với thách thức của tác động biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp để phòng chống và ứng phó.

Sự phát triển đô thị là một quá trình liên kết phát triển của nhiều thành phần trong cấu trúc đô thị, mỗi thành phần đều có những giá trị liên kết bền vững theo những quy luật phát triển, do đó sự biến đổi khí hậu sẽ có nguy cơ phá vỡ những cấu trúc bền vững của đô thị hiện tại và tương lai. Đây là vấn đề ảnh hưởng có tính chất toàn cầu , đồng thời cũng là những nhiệm vụ trực tiếp của mỗi chúng ta trong mỗi giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cho sự phát triển đô thị bền vững.

Diễn biến của biến đổi khí hậu

a. Diễn biến chung

Biến đổi khí hậu, với các biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, ngoài nguyên nhân do sự thay đổi của chu kỳ tự nhiên, còn có nguyên nhân trực tiếp của các hoạt động kinh tế – xã hội của con người gây phát thải quá mức vào khí quyển, gây hiệu ứng nhà kính.

Theo báo cáo đánh giá của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung bình tòan cầu đã tăng khoảng 0,740C trong thời kỳ 1906-2005 và tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó. Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu thế tăng ở khu vĩ độ cao hơn 300C. Tuy nhiên lượng mưa lại có xu thế giảm ở khu vực nhiệt đối từ những năm 1970. Hiện tượng mưa lớn có dấu hiện tăng ở nhiều khu vực trên thế giới.

Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ 20 với tốc độ ngày càng cao. Hai nguyên nhân chính làm tăng mực nước biển là sự giãn nở nhiệt của đại dương và sự tan băng.

Số liệu quan trắc mực nước biển trong thời kỳ 1961- 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8 ± 0,5mm/năm, trong đó đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12mm/năm và tan băng khoảng 0,70 ± 0,50mm/năm.

b. Diễn biến đối với Việt Nam

– Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1958 – 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,5oC đến 0,7oC. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961-2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà N ội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6oC. N ăm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,3oC và cao hơn thập kỷ 1991 -2000 là 0,4 – 0,5oc.

– Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam. Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958-2007) đã giảm khoảng 2% ..

– Không khí lạnh: Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất hiện mà gần đây nhất là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ.

– Bão: Những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn. Quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có đường đi dị thường hơn.

– Mưa phùn: Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần từ thập kỷ 1981 – 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.

– Mực nước biển: Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam cho thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993-2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới. Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dáu dâng lên khoảng 20cm.

Nguy cơ của biến đổi khí hậu đối với phát triển đô thị Việt Nam

a. Tác động đến cơ cấu sử dụng đất

Nhưng dạng tác động của biến đổi khí hậu đối với cơ cấu sử dụng đất tại hệ thống đô thị là các hiện tượng như xâm thực bờ biển, xói lở bờ biển, triều cường và ngập nước. Trong những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến những hiện tượng này tại hệ thống ven bờ biển dài 3.200 km trên toàn vùng đới bờ biển và thềm lục địa ven biển tại Việt Nam.

Tại Huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trước kia là nơi có diện tích lấn biển nhiều nhất nước, hàng năm trung bình đất liền lấn biển từ 80-100m do phù sa của hai con sông Đáy và sông Vạc bồi đắp nhưng 5 năm gần đây hiện tượng xâm thực biển khiến cho đất nhiễm mặn và điều kiện thời tiết khắc nghiệt đã ảnh hưởng sản xuất rất nhiều. Hiện tượng xâm thực biển ngày càng lớn mỗi năm biển xâm thực từ 15-20km làm cho việc bồi lắng cũng trở nên khó khăn hơn.

Tại vùng ven biển huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh) đang xảy ra hiện tượng biển xâm thực bất thường, cuốn trôi nhiều tài sản của nhân dân ven biển. Tình trạng này kéo dài từ tháng 5/2009 tới nay.

Bình thường tại đây triều cường chỉ xảy ra vào tháng 10 âm lịch hàng năm, nhưng trong tháng 5 và những ngày đầu tháng 6 nước biển lấn sâu vào đất liền khoảng 20m. Hai năm nay biển xâm thực mạnh, mỗi năm từ 20 đến 30m, cuốn trôi hàng ha rừng phi lao phòng hộ. Tại xã Thạch Bằng biển cũng xâm thực mạnh, cuốn trôi nhiều hàng quán, tường bao của các hộ kinh doanh phục vụ ăn uống xây dựng ven biển.

Năm 2009, một đoạn đất liền dài gần 1km dọc bờ biển Nam Ô thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) bị biển xâm thực gần 200m. Một số ngôi nhà bị xói lở đánh bật cả móng và đổ tường nhà xuống biển. Nhiều gia đình đã phải chạy đi nơi khác trước sự tàn phá của sóng biển. Nhưng vẫn còn nhiều gia đình liều bám trụ lại đây. Gần 300m đất liền dọc đường Sơn Trà – Điện Ngọc (phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà) cũng bị biển xâm thực đánh bật gốc những trụ điện..
Trong năm 2009, do ảnh hưởng của triều cường, kết hợp với mưa, bão và dòng chảy sông Mã, bờ biển và đất rừng phòng hộ ở xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, bị sạt lở nghiêm trọng.

Cụ thể, đường bờ biển từ cửa lạch sông Mã xuống đến khu du lịch Vạn Chài bị bị nước biển tàn phá chỗ sâu nhất khoảng 100 m, nơi nông cũng đến 40 m. Nước biển xâm thực cũng cuốn trôi gần 30 ha đất, trong đó, có khoảng 20 ha đất rừng phòng hộ, 10 ha đất nuôi trồng thuỷ sản của nhân dân.

Cũng vào tháng 1 năm 2009, hiện tượng triều cường và xâm thực bờ biển cũng xảy ra đối với Bình thuận và Trà Vinh đã xảy ra 5 điểm sạt lở với chiều dài trên 6.400 m bờ biển và đê bao ngăn mặn (Bình Thuận: 2 điểm/ 2.500m bờ biển; Trà Vinh: 3 khu vực/ 3.900m đê bao, trong đó vỡ hoàn toàn 800m); làm sập 27 nhà dân, nguy cơ làm sập 56 nhà khác, nước biển dâng cao đang uy hiếp 207 hộ dân thuộc tỉnh Bình Thuận và ảnh hưởng 40ha đất trồng dưa của dân của Trà Vinh.

Đô thị ven biển sẽ bị tác động bởi biến đổi khí hậu Ảnh: saigontoserco.com

b. Tác động đến xã hội, di dân và tái định cư

Chưa có những con số thống kê chính thức nhưng những tác động của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây đã tác động tới đời sống xã hội của người dân và đặc biệt là khu vực dân cư tập trung đông tại những đô thị ven biển. Hiện tượng nước biển dâng và bão lũ đã khiến nhiều người dân bị mất nhà và buộc phải di dời ra những vùng khác. Bên cạnh đó hàng ngàn người chết và mất tích trong những trận bão, lũ. Sức công phá của lũ đã phả hủy hàng ngàm căn nhà và những công trình đê biển.

Thiên tai mưa, bão, lũ thường xảy ra ở miền Trung, ít nhất cũng ở vài ba tỉnh, nhiều nhất có thể trên toàn miền như năm 1964, 1970, 1975, 1985, 1987, 1996, 1998, 1999, 2003, 2006, 2007, 2010. Những trận mưa như thác, nhấn chìm hàng trăm làng mạc, có những làng bị nước lũ quét sạch, hàng trăm có khi hàng nghìn người chết, tổn thất về vật chất rất to lớn, gây hậu quả nặng nề, lâu dài. Trong những năm gần đây, thiên tai ở miền Trung xảy ra ngày càng thường xuyên hơn, trầm trọng hơn, thiệt hại ngày càng lớn hơn.

Theo thống kê năm 2007 chỉ tính riêng 3 cơn lũ xảy ra tại miền Trung đã làm 155 người chết; 12 người mất tích; 137 người bị thương; hơn 57.900 hộ gia đình phải sơ tán; gần 5.000 ngôi nhà bị đổ và trôi; 18.833 ha lúa ngập, hư hại; 37.473 ha màu bị ngập; 35.415 tấn lương thực bị ướt và lũ cuốn; tổng thiệt hại về vật chất 4.434 tỉ đồng, đó là chưa kể những thiệt hại do các cơn bão gây ra. Mức độ thiệt hại trong các trận bão lũ trên là đặc biệt nghiêm trọng và chưa từng có trong lịch sử.

Năm 2009, chỉ một cơn bão số 9 vào tháng 10 đã khiến những thiệt hại to lớn ở vùng duyên hải Miền Trung với 55 người chết, 13 người mất tích, 133 người bị thương. Ngoài ra bão lũ đã làm 6.105 ngôi nhà bị sập và cuốn trôi. Việc di dời dân trở nên khó khăn, trên thực tế mặc dù đã có những dự báo về khí tượng thủy văn nhưng việc ứng phó với những tác động này là không thể tránh khỏi những thiệt hại to lớn.

Đối diện với bão lũ ở miền trung thì vùng duyên hải Bắc Bộ lại chịu ảnh hưởng của hạn hán. Cũng trong năm 2009 này được đánh dấu là một năm lịch sử về hạn hán ở Bắc Bộ, lịch sử lặp lại cách đây 107 năm. Nguyên nhân gây ra tình trạng khô hạn trên diện rộng miền bắc là do hiện tương El-Nino. El-nino khiến cho mùa lũ ở Bắc Bộ kết thúc sớm (vào giữa tháng 8) hơn trung bình nhiều năm và lượng mưa cũng thiết hụt, tính chung cho cả mùa mưa, lũ lượng mưa chỉ đạt 70-80% trung bình nhiều năm

Đối với khu vực duyên hải Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu long hiện tượng triều cường và nước biển dâng là nguy cơ lớn đến các hoạt động dân sinh trong khu vực. Điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008-2010, tần xuất xuất hiện triều cường tăng nhanh so với những năm trước và đánh giá là có mức độ đột biến trong lịch sử hơn 43 năm qua ( mức đỉnh lên tới 1,58m ngày 10 tháng 11 năm 2010) đã gây ra những tác động xói lờ bờ sông, thiệt hại về nhà cửa là rất lớn, gây ra những nguy hiểm cho dân cư sống ven sông Sài Gòn.

Mực nước biển ở Việt Nam có thể dâng thêm 100 cm vào cuối thế kỷ 21. Ảnh minh họa.

c. Tác động đến kinh tế và hoạt động kinh tế

Như đã phân tích và đánh giá, các đô thị lớn và hệ thống đô thị ven biển được xác định nền kinh tế lớn và chiếm ưu thế là du lịch và cảng biển. Tuy nhiên trước thực trạng của Biến đổi khí hậu việc phát triển du lịch như thế nào, phát triển cảng biển ra sao phải cần được xem xét lại một cách nghiêm túc và có tính đến tác động của biển đổi khí hậu

Đến hoạt động du lịch: Hiện cả nước có hơn 125 bãi tắm lớn và nhỏ, trong đó có 20 bãi biển đạt tiêu chuẩn quốc tế. Các của Việt Nam nhìn chung khá bằng phẳng, nước trong, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ, rất thích hợp cho tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí trên biển. Bên cạnh đó là những nghiên cứu của Tổ chức Birdlife International thực hiện, khi nước biển dâng 1m sẽ tác động làm suy giảm giá trị của 46 (chiếm 33%) các khu bảo tồn, 9 (23%) các khu đa dạng sinh học điển hình, 23 (21%) các khu vực có sự tồn tại đan xen giữa các khu bảo tồn đa dạng sinh học điển hình. Trong trường hợp nước biển dâng lên 5m, 52 khu bảo tồn chiếm 37% sẽ bị ảnh hưởng…Đây lại là những nguồn tài nguyên biển nhằm khai thác du lịch.

Sự gia tăng nhiệt độ khiến mùa nóng kéo dài hơn. Trong khi đó, ở Hà Nội và các đô thị phía Bắc thời gian tốt nhất cho khách du lịch đến từ nước ngoài là mùa thu, mùa đông và mùa xuân khi nhiệt độ từ 15-22 độ C. Do vậy, điều này đã tác động không nhỏ tới doanh thu của toàn ngành du lịch nước ta

d. Tác động đến cơ sở hạ tầng đô thị

Cơ sở hạ tầng đô thị trong những năm gầy đây đã xuất hiện những tác động của hiện tượng Biến đổi khí hậu.

– Năm 2009, cơn bão số 9 đã khiến thành phố Đà Nẵng thiệt hại lớn, các tuyến đường trong thành phố hầu hết cây cối đã bị đánh đổ, ước tính 40% diện tích cây xanh của thành phố bịt hỏng, hay đối với đường ven bờ biển Nguyễn Tất Thành sóng đã đánh sập và làm hư hỏng hầu như tòan bộ kè. Đoạn Cầu Phú lộc sóng đánh mất nửa mố cầu, có đoạn sóng đã ăn vào nửa con đường.

Cũng trong năm 2009 trận bão số 9 đã là cho đoạn đường Hồ Chí Minh đi qua Thừa Thiên Huế bị sạt taluy khỏang 1.290m3. Hiện tượng xâm thực bờ biển và mặn hóa đất liền hiện là mối lo lớn đối với chất lượng nước ngầm. Đặc biệt vùng duyên hải bắc bộ khả năng nước ngầm nhiễm mẵn rất có thể diến ra. Các công trình đầu mối như cấp nước thoát nước, cấp điện, xử lý nước thải, chất thải rắn tại các hệ thống đô thị ven biển cũng có nguy cơ ảnh hưởng.

Nhiệt độ tăng lên cũng khiến cho dịch bệnh cũ và nhiều dịch bệnh mới phát triển mà con người khó có thể kiểm soát. Trong báo cáo gần đây của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPPC) đã khẳng định, dưới tác động của nhiệt độ các căn bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, viêm phổi… đều tăng lên. Còn theo dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), biến đổi khí hậu sẽ làm khoảng 150 nghìn người chết và 5,5 triệu người ốm mỗi năm.

Mực nước biển dâng và sự không ổn định của địa mạo ở vùng ven biển miền Trung ngày càng diễn biến phức tạp. Mực nước biển dâng bao gồm: dâng do thủy triều, dâng do bão, lũ, dâng do biến đổi khí hậu. Vì vậy những năm gần đây, tình hình bờ biển bị xâm thực xảy ra nhiều hơn. Sự đe dọa của mực nước biển dâng lên các khu dân cư và cơ sở hạ tầng dọc bờ biển là thường xuyên hơn. Đã nhiều năm qua, cứ đến mùa mưa bão, người dân sống dọc ven biển của các địa phương vùng ven biển miền trung thường rơi vào trạng thái lo lắng bởi nạn xâm thực của sóng biển. Cứ vào mỗi mùa mưa bão, nhà cửa, đất đai và nhiều tài sản khác bị sóng cuốn ra biển.

Điển hình trong nhiều năm qua, gần 100 hộ dân sống dọc biển Nam Ô (TP Đà Nẵng) luôn phải sống trong nỗi ám ảnh bởi sự xâm thực của sóng biển. 750ha đất sản xuất, đất sinh hoạt của người dân nơi đây đang ngày càng bị thu hẹp bởi biển ngày càng “ăn” sâu vào đất liền.

Trong các trận bão cuối năm 2007 và 2008, tại phường Hòa Hiệp Nam (quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng), nước biển đã ăn sâu vào đất liền, cuốn trôi nhà cửa và ao tôm của 16 hộ chuyên nuôi tôm giống. Cạnh đó, một đoạn đê dài gần 2 km chạy dọc sông Cu Đê (đoạn cầu Nam Ô, thuộc phường Hòa Hiệp Bắc) cũng bị sạt lở nghiêm trọng, đe dọa đến sự an toàn của cầu Nam Ô. Sóng biển xâm thực đã đánh sập và hư hỏng hàng chục căn nhà. Sóng biển cũng đã ăn sâu 100m vào khu vực dân cư phía Bắc ghềnh Nam Ô, gần 40 ngôi mộ buộc phải di dời khẩn cấp trước khi bị nước biển nhấn chìm.

Xói sạt bờ biển là hiện tượng phổ biến ở ven biển Hải Phòng, kể cả ở bờ các đảo và nhiều đoạn bờ nằm sâu phía trong các cửa sông. Xói lở các đoạn bờ đảo Cát Hải đã trở thành điển hình cả nước. Tổng số chiều dài đường bờ biển Hải Phòng bị xói lở 16,1 km, tốc độ trung bình 5,4m/năm trên tổng số 125 km đường bờ biển, chiếm tổng số 23,0%. Cường độ xói sạt bờ biển Hải Phòng được chia làm 4 cấp: yếu (0 – 2,5 m/năm); trung bình (2,5 – 5 m/năm); mạnh (5 – 10 m/năm) và rất mạnh (trên 10 m/năm). Các đoạn bờ xói sạt rất mạnh là Cát Hải và Bàng La trước 1965, tốc độ cực đại đạt tới 25 m/năm.

Dự báo nguồn cung cấp nước sẽ bị giảm thiểu do các vùng cửa sông có thể bị thay đổi do thay đổi chế độ triều và dòng chảy. Các đầm lầy ven biển, là khu vực sinh sống của nhiều loài cua cá và chim biển, sẽ bị đe doạ do NBD. Đa dạng sinh học của Việt Nam có thể bị suy giảm mạnh và các khu vực sinh cư đặc thù của động vật biển có thể biến mất. NBD có thể dẫn tới sự suy giảm hay biến mất hoàn toàn của rừng ngập mặn tại các khu vực thấp, làm gia tăng xâm nhập mặn và xói lở, và càng tăng khả năng tổn thương do thiên tai nước dâng bão. Nguồn nước ngọt sinh hoạt và tưới tiêu có thể bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn. Dân cư sinh sống ven biển dễ bị tổn thương do ngập lụt sẽ phải di dời. Điều này làm tăng áp lực khai thác đất đai và sẽ làm gia tăng nạn phá rừng để làm nhà và trồng trọt. Kết quả của phá rừng là đa dạng sinh học sẽ bị suy giảm, xói lở gia tăng và ngập lụt trở nên nghiêm trọng hơn.

e. Tác động đến các công trình kiến trúc

Đối với hệ thống đô thị hiện nay đang có xu thế hướng ra biển, xây dựng những khu nghỉ dưỡng, resort sẽ phải chịu ảnh hưởng lớn của nước biển dâng và bão lũ. Nhữung đô thị như Thành phố Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu đang có những hiện tượng xói lở bờ biển làm ảnh hưởng lớn đến cảnh quan cũng như các công trình trên biển.

Trước năm 2000, vài trăm ha đất của Hải Lý đã mất. Từ năm 2001 đến nay địa phương này lại có khoảng 100 ha đất sinh hoạt, đất sản xuất bị trôi tuột xuống biển. Dân di cư đến đâu, nền đất thổ cư xưa được cải tạo thành đầm tôm đến đấy nhưng 2 năm nay, biển tiến vào, đầm tôm cũng mất. Hiện tượng này đã gây mất đất dân cư và đất công trình công cộng mà trong đó đáng kể đến là xã Hải Lý, huyện Hải Hậu tỉnh Ninh bình có đến 3 ngôi nhà thờ bị nước biển cuốn trôi. Bờ biển Hải Hậu là một trong những vùng trọng điểm bị xói lở mạnh của cả nước. Trong 100 năm lại đây, bờ biển nơi này đã bị lấn sâu vào đất liền, có chỗ tới 10km. Ngoài Hải Lý còn có các xã Hải Thịnh, Hải Hoà, Hải Triều, Hải Chính, Hải Đông bị tác động mạnh bởi nước biển dâng trong đó Hải Triều mất đến non nửa diện tích, cả vùng phải di dời ngót chục cái nhà thờ.

Tại Đà Nẵng khu vực dân cư Quận Liên Chiểu bị tác động khá lớn của xói lở bờ biển, ảnh hưởng trực tiếp đến các công trình xây dựng.

g. Tác động đến môi trường đô thị

Hiện nay hệ thống đô thị Việt Nam công tác bảo vệ và xử lý môi trường đô thị đang là một trong những vấn đề bức xúc. Hầu hết các đô thị thoát nước thải sinh hoạt đều chưa được xử lý, hệ thống xử lý chất thải rắn chủ yếu là chôn lấp không hợp vệ sinh, ngoài các đô thị lớn loại I, loại II còn được đầu tư chôn lấp hợp vệ sinh. Đây chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong những tác động của Biến đổi khí hậu, của nước biển dâng. Môi trường vệ sinh của dân cư sau khi bão lũ sẽ gây ra những dịch bệnh. Hiện tượng gia súc gia cầm chết trôi dạt khắp nơi và phân hủy đã gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Ngay cả đối với khu vực chịu tác động của triều cường thường xuyên nhưng vùng đồng bằng sông Cửu long và thành phố Hồ Chí minh ô nhiễm môi trường khu dân cư ngay trong thành phố rất nghiêm trong trong quá trình triều cường và nước rút để lại một thực trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các vấn đề là ô nhiễm nước sinh hoạt, cảnh quan và dịch bệnh gia tăng.

Bên cạnh đó môi trường đô thị cũng lại là nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu với hiện tượng hiệu ứng nhà kính, phát thải CO2 trong các hoạt động sản xuất. Hiện nay chiến lược phát triển sạch hơn đã được ban hành tuy nhiên việc cam kết phát thải đối với khu công nghiệp, đặc biệt là hoạt động khoan dầu khí trên biển vẫn cần được quản lý nghiêm ngặt.

1. Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với Biến đổi Khí hậu, Quyết định 158/QĐ-2008/QĐ-TTg.
2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên tình trang di cư và mất chỗ ở của con người, Trung tâm Con người và thiên nhiên, tài liệu phục vụ Hội thảo của tổ chức CARE Quốc tế, 2008.
3. Tránh biến đổi khí hậu nguy hiểm, chiến lược giảm nhẹ, Báo cáo phát triển con người của UNDP, năm 2007/2008.
4. Ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, GSTSKH Nguyễn Ngọc Trân, năm 2009
5. Kịch bản Biến đổi khí hậu Việt Nam, Bộ Tài Nguyên Môi trường, năm 2009.
6. Lương văn Việt (2008). Sự phát triển đô thị và xu thế biến đổi khí hậu tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuyển tập báo cáo HNKH lần 10. pp 369-375.
7. Urban Development To Combat Climate Change: Dongtan Eco-city and Risk Management Strategies, Peter R. Head, OBE, FREng, FRSA1, and J. Gary Lawrence.
8. CDM (1999). Feasibility study and Preliminary Design Ho Chi Minh City Sewerage Project Nhieu Loc – Thi Nghe Basin. August 1999.
9. H. Storch et al., 2009. Adaptation Planning Framework to Climate Changes for the Urban Area of Ho Chi Minh City, Vietnam. The 5th Urban Research Sympossium. Marseille, France.
10. H.L. Phi, 2008. Impacts of Climate changes and urbanisation on Urban Inundation in HCMC. Accepted paper at Intl. Conference of Urban Drainage 11. Edinburg, Scotland.
11. H. L. Phi, 2007. Climate Changes and Urban Flooding in Ho Chi Minh City. Proc. The Third International Conference on Climate and Water. Helsinki-Finland Sep. 2007. pp 194-199.

 

TS. Đỗ Tú Lan; ThS. Lê Hồng Thủy