Phát triển hệ thống cảng biển VN: Trông chờ vào quy hoạch – (P1) Thừa, thiếu và lỗi của quy hoạch

32

Quy hoạch chưa đồng bộ, chưa kịp thời, tính dự báo chưa cao, chậm ban hành quy hoạch chi tiết…, thực trạng trên đã khiến hệ thống cảng biển Việt Nam dù được đầu tư khá lớn vẫn được nhận định là “nhiều nhưng chưa chất”.

Không ít về số lượng, lại liên tục được đầu tư nâng cấp song hệ thống cảng biển Việt Nam thực chất vẫn không thể đáp ứng yêu cầu. Tầm nhìn quy hoạch còn hạn hẹp, chất lượng quy hoạch còn thấp được coi là nguyên nhân chính của tình trạng này.

Mỏi mắt tìm cảng nước sâu

Thống kê cho thấy, cả nước hiện có gần 150 cảng, trong đó có 49 cảng biển tập trung thành 8 nhóm cảng lớn với 166 bến cảng và 330 khu vực neo đậu cho tàu thuyền ra vào. Tổng chiều dài bến cảng lên tới gần 40km, trong đó gần 26km dài bến để làm hàng tổng hợp, hàng container.

Số còn lại để làm hàng chuyên dùng. Cũng theo thống kê thì chúng ta đang có 35 luồng vào cảng quốc gia công cộng và 12 luồng vào cảng chuyên dùng, cơ sở hạ tầng cảng biển Việt Nam vẫn luôn được xếp vào hàng yếu kém về chất lượng, lạc hậu về trình độ kỹ thuật công nghệ so với yêu cầu và các nước tiên tiến trong khu vực.

Đáng nói hơn nữa, chỉ chưa đầy 2%, hay chính xác hơn là 1,37% trong số hơn 330 cầu bến của cả nước có thể đáp ứng cho tàu trên 5 vạn DWT vào làm hàng. Cầu bến cho tàu 2 – 5 vạn DWT chiếm 21,43%, cho tàu 1 – 2 vạn DWT chiếm 39,72% và cho tàu dưới 1 vạn DWT chiếm 38,46%.

Cảng biển Việt Nam, tính về số lượng là thế, về chất lượng cũng “không khá hơn là mấy” theo nhận định có phần chua xót của nhiều chuyên gia. Trên thực tế, trừ một số bến mới được xây dựng đưa vào khai thác gần đây được trang bị các thiết bị xếp dỡ tương đối hiện đại còn lại hầu hết các bến cảng vẫn sử dụng các thiết bị bốc xếp thông thường, quản lý điều hành quá trình bốc xếp bảo quản giao nhận hàng hóa với kỹ thuật công nghệ lạc hậu nên năng suất xếp dỡ của các cảng rất thấp. Bình quân năng suất xếp dỡ hàng tổng hợp 3.000 – 4.000 t/m dài bến, hàng container 12 – 25 thùng/cẩu – giờ, chỉ bằng khoảng 50 – 60% năng suất của các cảng tiên tiến trong khu vực.

Chất lượng quy hoạch – còn nhiều điều đáng bàn

Xin được nhắc lại rằng, theo quy hoạch đến 2010, định hướng đến 2020 (được Thủ tướng Chính phủ ban hành cuối năm 1999), sẽ phát triển hệ thống cảng biển đến năm 2010 có khả năng thông qua 100 triệu tấn hàng hóa. Tuy nhiên, chỉ mới đến năm 2006, lượng hàng hóa thông qua các cảng đã lên tới hơn 154 triệu tấn. Đến hết năm 2009, con số này đã là trên 251 triệu tấn. Dự kiến năm 2010 này, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt trên 280 triệu tấn, cao gần gấp 3 lần con số dự báo.

Với xu thế này, Việt Nam phải nâng công suất hệ thống cảng biển lên gấp 3 lần so với hiện nay mới đáp ứng được nhu cầu. Đấy là chưa nói đến việc sự phân bố giữa các vùng và khu vực lại không đồng đều, các cảng phía Bắc chiếm 25-30% khối lượng nên thừa công suất; các cảng miền Trung chiếm 13%, đang ở tình trạng thiếu hàng hóa, chỉ sử dụng một phần công suất, còn các cảng phía Nam chiếm 57%, riêng container đến 90%, hiện đang ở tình trạng quá tải. Trước thực trạng này, khó tránh dư luận đặt dấu hỏi về chất lượng của quy hoạch?

Những ngày cuối năm 2009 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Thời điểm hiện tại, các nhà hoạch định chính sách chuyên ngành Hàng hải cũng đang tiếp tục triển khai xây dựng quy hoạch chi tiết cho từng nhóm cảng biển. Chuyện cảng biển nơi thừa cứ thừa, nơi thiếu cứ thiếu hay chuyện cảng biển thừa lượng, thiếu chất trong thời gian tới có được cải thiện hay không vẫn phải trông vào các nhà quản lý.

Thanh Bình – theo Giaothongvantai.com.vn