“Con đường đau khổ” và sức ép cơ quan công quyền

35

Mấy hôm nay giới luật học Việt Nam xôn xao chuyện một người dân kiện Sở GTVT Tp.HCM vì việc thi công gói thầu số 7 khu vực kênh Nhiêu Lộc trễ hạn, ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của gia đình ông này.

Không biết tự bao giờ, người dân Tp.HCM đã quá quen với cảnh những con đường bị đào xới. Cảm giác đầu tuần đi làm bị kẹt xe là một cảm giác không mấy gì dễ chịu. Người ta đành phải chặc lưỡi cho qua vì hiểu hạ tầng của Tp chưa tốt. Mặc dù đã dặn lòng như thế, nhưng đôi khi nguyên nhân gây kẹt xe không phải do đường xá nhỏ hep, phương tiện giao thông cá nhân quá đông mà vì những “lô cốt”.

Cơ quan công quyền có nhiều lí do để giải thích cho câu chuyện “đào xới” này. Ngay cả trong trường hợp những công trình, những con đường mới vừa được nghiệm thu, đưa vào hoạt động thì hoạt động đào xới vẫn cứ xảy ra như thường. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết, chủ ý của tác giả không phải là khen tài của các cơ quan công quyền trong việc giải trình lí do với cấp trên hoặc với người dân mà chủ yếu bàn đến những tác động của các hoạt động trên đối với người dân như thế nào.

Đã không ít lần, các phương tiện truyền thông đưa tin ảnh, hình về những “con đường đau khổ” tại các đô thị. Có một thực tế là những qui tắc về xây dựng và bảo vệ môi trường được qui định trong các văn bản luật dường như chưa “bước vào” được những công trình xây dựng công cộng (sau đây gọi tắc là công trình) ngổn ngang kia.

Người dân vẫn phải chấp nhận chuyện làm đường là phải có bụi, kẹt xe là chuyện bình thường. Lâu dần, tâm lí trên trở thành một thói quen. Chính tâm lí dễ dãi này của người dân tạo nên một cách hành xử thiếu tích cực từ phía những cơ quan chịu trách nhiệm quản lí đối với lĩnh vực này.

Người ta không hề chịu một sức ép nào cả thì đương nhiên tâm lí của các chủ đầu tư cũng sẽ trở nên dễ dàng bỏ qua câu chuyện trễ hạn thi công của các nhà thầu. Kết quả cuối cùng là những con đường đau khổ kia cứ mãi “vất vưởng” chứng kiến những trận bụi mịt mù và những khoảnh khắc kẹt xe đáng sợ.

Một nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi con người có quyền sống trong một môi trường trong lành. Chúng ta tôn trọng nguyên tắc hết sức căn bản ấy và ghi nhận một cách trịnh trọng vào trong luật.

Nhưng kết quả thì như thế nào?

Những công trình công cộng được đào xới lên nhưng tiến độ thi công lại quá chậm. Dưới góc độ một người dân bình thường, không có nhiều kiến thức về xây dựng, liệu người ta có thấy bình thường hay không khi các công trình bị đáo xới không một bong người hoặc được thi công một cách cầm chừng?

Chưa bao giờ câu nói “ở trong chăn mới biết chăn có rận” lại đúng và hay đến thế. Vì dù là chủ đầu tư hay là chủ thầu, thì các cá nhân, tổ chức liên quan cũng sẽ không hình dung được những tác động của các công trình này đến đời sống của những người ở xung quanh như thế nào.

Cái cảm giác bụi mù mịt, cảm giác kẹt xe không phải được cảm nhận qua những câu phát biểu đầy “cảm thông” hay qua những giây phút “vi hành” hiếm hoi của các quan chức ngành giao thông vận tải mà nó hiện hữu trong đời sống thường nhật gắn liền với hững công trình này, đó là chưa kể đến là chuyện kinh doanh của những cơ sở kinh doanh chịu ảnh hưởng của việc thi công những công trình này.

Về nguyên tắc, Nhà nước có quyền thực hiện việc cải tạo, xây dựng các công trình công cộng xuất phát từ chức nằng quản lí của mình. Nhưng phải bảo đảm những yêu cầu về việc bảo đảm về vệ sinh môi trường và cuộc sống của những người dân xung quanh.

Một cách dễ hình dung, việc thi công các công trình công cộng cũng tương tự như việc đá bóng. Các cầu thủ muốn tự mình dắt bóng đến khung thành hay chuyền cho đồng đội để ghi bàn…. tuỳ thích. Miễn sao bóng không được vượt ra ngoài biên.

Tương tự, việc thi công các công trình này như thế nào, các kĩ thuật xây dựng, vật liệu là theo thoả thuận giữa nhà thầu và chủ đầu tư. Nhưng phải bảo đảm rằng việc thực hiện các công việc trên là không vược giới hạn về vệ sinh môi trường và đời sống của người dân sống lân cận. Nếu việc thi công vượt giới hạn này thì cũng tương tự như câu chuyện người cầu thủ đá bóng vượt đường biên sân bóng.

Trên thực tế, chưa hề có một cá nhận, tổ chức nào khiếu nại chuyện thi công các công trình công cộng vi phạm giới hạn trên. Do đó, mấy hôm nay giới luật học Việt Nam xôn xao chuyện một người dân kiện Sở GTVT Tp.HCM vì việc thi công gói thầu số 7 khu vực kênh Nhiêu Lộc trễ hạn, ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của gia đình ông này. Sự kiện này “lạ” ở chỗ: Việc một người dân kiện cơ quan nhà nước vốn dĩ đã hiếm. Càng hiếm hoi khi nguyên nhân mà người dân khởi kiện lại vì mấy cái lô cốt!

Mặc dù người trực tiếp thi công gói thầu số 7 này là nhà thầu TMEC-CHEC 3, nhưng việc thực hiện công vịêc trên là theo yêu cầu từ chủ đầu tư (mà trong trường hợp này là sở GTVT Tp.HCM). Trong quan hệ khiếu kiện này, vai trò của Sở GTVT và người dân là bình đẳng. Đừng vì đối tượng bị kiện là một cơ quan nhà nước mà nghĩa đây là một quan hệ quản lí.

Kết quả của vụ kiện như thế nào phải chờ phán quyết của toà án. Tuy vậy, việc khởi kiện này là một động thái đáng mừng. Nó tạo nên sức ép cần thiết với cơ quan nhà nước trong việc xây dựng các công trình công cộng. Sức ép đó không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm các tài sản ở những bất động sản liền kề (khu đất gần đó).

Trên thực tế, những công bố của nhà nước về các nội dung chủ đầu tư, nhà thầu, tiến độ hoàn thành… đều được thực hiện tại các công trình. Nhưng việc trễ hạn không phải là chuyện hiếm. Một khi nguy cơ bị khởi kiện vì sự “rề rà” này là có thật chắc hẳn tình hình sẽ khác đi rồi.

Phạm Hoài Huấn – Theo Tuần Việt Nam