Hội KTSVN gửi "ý kiến đóng góp cho Quy hoạch HN" lên VP TW Đảng

44

HỘI KIẾN TRÚC SƯ VIỆT NAM – THÀNH VIÊN LIÊN HIỆP HỘI KTS QUỐC TẾ; HỘI ĐỒNG KTS CHÂU Á VÀ LIÊN HIỆP CÁC HỘI VĂN HỌC – NGHỆ THUẬT VIỆT NAM

Số:105 /KT Hà Nội, ngày 23 tháng 8 năm 2010
V/v: góp ý kiến “QHC xây dựng Thủ đô
đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
 

 

Kính gửi: Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Hội Kiến trúc sư Việt Nam (KTSVN) đã nhận được văn bản số 10204, ngày 17 tháng 8 năm 2010, của Văn phòng TW Đảng về việc góp ý Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Sau khi tổ chức nhóm chuyên gia nghiên cứu hồ sơ đồ án quy hoạch chung; căn cứ vào Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, các chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về Thủ đô; Nhiệm vụ Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 187/ QĐ-TTg ngày 21/11/2008, những kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại các Báo cáo lần I, lần II, lần III, Hội KTSVN xin báo cáo Văn phòng TW Đảng Cộng sản Việt Nam như sau:

I. Hội KTSVN xin chân thành cảm ơn Văn phòng TW Đảng đã yêu cầu Hội KTSVN tham gia ý kiến nhận xét về quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội. Đây là lần đầu tiên Hội được một cơ quan Đảng, Nhà nước có văn bản chính thức cho phép Hội được tham gia nhận xét về quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội, Hội KTSVN cũng đã có những nhận xét về các Báo cáo lần I, lần II, lần III của Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội nhưng theo đề nghị riêng của Công ty Posco E&C, đại diện của Liên danh tư vấn quốc tế PPJ.

II. Nhận xét về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 (theo Báo cáo mới nhất mà Hội nhận được từ Văn phòng TW Đảng), Hội KTSVN có ý kiến như sau:

II.1. Hội KTSVN đã có văn bản số 96/KT ngày 10/8/2009 gửi Thủ tướng Chính phủ; tiếp sau đó Hội đã có văn bản số 140/KT ngày 26/10/2009 và văn bản số 26/KT ngày 10/3/2010 gửi Thủ tướng Chính Phủ, Bộ Xây dựng nhận xét và kiến nghị đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Qua theo dõi, Hội KTSVN thấy tư vấn đã có nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh sửa một số nội dung của đồ án đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, những tiếp thu, chỉnh sửa như sau:

1. Xác định mục tiêu từ “xây dựng Thủ đô trở thành một thành phố bền vững toàn diện hàng đầu thế giới vào những năm 2030 và những năm sau” đến các tiêu chí “xanh, văn hiến, văn minh, hiện đại”.

2. Điều chỉnh liên tục tỷ lệ đất xây dựng từ 40% xuống 28,6%, rồi lên 32% và đến nay là 30%.

3. Điều chỉnh chỉ tiêu GDP từ 20.000USD/người/năm xuống 11.000USD/người/năm.

4. Địa điểm xây dựng sân bay quốc tế số 2 lúc ở Phú Xuyên, lúc về Ứng Hòa và đến nay không còn được nhắc lại nữa.

5. Quy hoạch chuỗi đô thị giữa sông Đáy và sông Tích, sau lại chuyển thành “vành đai xanh”, nay lại gọi là “hành lang xanh”.

6. Xác định nhiều địa điểm xây dựng Trung tâm Hành chính Quốc gia từ Phương Trạch, Tây Hồ Tây, Mễ Trì, Thạch Thất, Đồng Mô, Mỹ Đình, chân núi Ba Vì. Như vậy, từ nay đến năm 2050 theo báo cáo mới thủ đô chưa có địa điểm chính thức cho Trung tâm Hành chính Quốc gia. Trụ sở cơ quan các Bộ và cơ quan ngang Bộ vẫn theo hiện trạng hoặc xây dựng riêng lẻ theo sự chỉ đạo của Chính phủ “tiếp tục quy hoạch chọn địa điểm để đưa một số Bộ, ngành ra ngoài khu vực nội đô”, đồng thời khẳng định “dành khu đất dự trữ tại Ba Vì, xây dựng cơ quan chính phủ sau năm 2050” (trang 29, Báo cáo QHC xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050).

7. Đổi trục “Thần đạo” thành trục “Thăng Long”, nay thành trục “Hồ Tây – Ba Vì”.

8. Dự báo quy mô đân số không nhất quán và không rõ cơ sở tính toán…

9. Sử dụng không nhất quán các khái niệm “hành lang xanh” và “vành đai xanh” trong các báo cáo. Vấn đề này đã được UBND Thành phố lưu ý trong văn bản số 553/CV-UBND ngày 22/1/2010.

Hội KTSVN hoan nghênh thiện ý của tư vấn, nhưng cũng cho rằng những chỉnh sửa đã được nêu thông qua một vài ví dụ trên vẫn không cơ bản, thiếu luận cứ khoa học có sức thuyết phục, nên chất lượng đồ án vẫn chưa được cải thiện nhiều.
Hội KTSVN tiếp tục bảo lưu ý kiến của mình tại các văn bản số 140/KT ngày 26/10/2009 và văn bản số 26/KT ngày 10/3/2010 (xin được gửi kèm theo văn bản này).

II.2. Hội KTSVN có một số nhận xét nhằm làm rõ thêm những vấn đề cơ bản của đồ án QHC xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 như sau:

1. Về tầm nhìn, quan điểm và mục tiêu.

– Với đề xuất các tiêu chí “xanh, văn hiến, văn minh, hiện đại”coi đó là tầm nhìn và mục tiêu của Quy hoạch chung Xây dựng Thủ đô Hà Nội, Hội KTSVN cho rằng đề xuất này vẫn là những mỹ từ, khẩu hiệu chung chung, thiếu tính cụ thể và chưa bám sát yêu cầu của quy hoạch đô thị, vốn là quy hoạch vật thể, lấy việc tổ chức không gian là chủ thể.

– Tính chất đô thị không phù hợp với Pháp lệnh Thủ đô và các Nghị quyết của Bộ Chính trị về Thủ đô.

2. Về quy trình kỹ thuật lập quy hoạch đô thị.

Với diện tích đất tự nhiên là 334.367,44ha (theo số liệu mới), Thủ đô Hà Nội thực chất là một vùng tỉnh.
Việc áp dụng quy trình kỹ thuật lập quy hoạch chung xây dựng một đô thị đơn lẻ cho một hệ thống các đô thị là hoàn toàn không phù hợp. Đặc biệt việc quy định thành phần hồ sơ theo Điều 17 Nghị định 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ, có nhiều nội dung không thể thực hiện được đối với Quy hoạch chung Xây dựng thủ đô Hà Nội. Các sơ đồ quy hoạch xây dựng các đô thị và mô hình chỉ có giá trị minh hoa vì thiếu cụ thể, không thực tiễn, nên không thể đáp ứng cho yêu cầu quản lý xây dựng theo quy hoạch đô thị.

3. Về đánh giá sơ bộ hiện trạng.

– Các kết quả đánh giá điều kiện tự nhiên, hiện trạng còn đơn giản và sơ lược chưa chỉ ra được loại đô thị. Các kết luận rút ra về những ưu thế, tồn tại chính những thách thức cơ hội chưa phát huy được tác dụng, do không có liên hệ chặt chẽ với các đề xuất chiến lược và giải pháp quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội.

– Việc lập bản đồ đánh giá tổng hợp đất đai, làm cơ sở để kiểm kê phân hạng quỹ đất theo mức độ thuận lợi, xác định khả năng dung nạp dân số và chọn đất là một nội dung chính rất quan trọng của đồ án quy hoạch xây dựng vùng và quy hoạch chung xây dựng đô thị, nhưng trong nội dung của báo cáo đã thiếu phần này (Các báo cáo trước đây cũng không có nội dung này).

– Các đô thị Châu Á đang trong quá trình biến đổi lấy chất lượng làm trọng tâm. Trong nghiên cứu này chưa dự báo được xu hướng phát triển đô thị trong thế kỷ XXI mà Hà Nội tiến đến. Do vậy, phương pháp và nội dung lập quy hoạch không có đổi mới, khó hy vọng về sự phát triển bền vững.

– Biến đổi khí hậu toàn cầu và các sự cố công nghệ, thiên tai là những vấn đề thời sự có tác động rất lớn đến quá trình phát triển bền vững thủ đô Hà Nội. Nhưng trong báo cáo đã không đề cập đến nội dung quan trọng này.

4. Về dự báo các chỉ tiêu phát triển đô thị.

– Hội Kiến trúc sư Việt Nam chưa thấy có mối quan hệ hữu cơ giữa dự báo phát triển kinh tế với tổ chức không gian khi giảm chi tiêu GDP từ 20.000USD/ người/ năm xuống 11.000 USD/ người/ năm. Riêng khu vực nông thôn, tỷ trọng GDP nông nghiệp chỉ đạt 3% vào năm 2020, trong khi vẫn duy trì tỷ lệ đô thị hoá trên 60% với gần 3 triệu dân sống trong khu vực nông thôn, cùng với diện tích đất canh tác dần bị thu hẹp, dự báo nguy cơ tỷ lệ đói nghèo gia tăng ở khu vực này.

– Việc dự báo dân số theo phương pháp tăng trưởng là không phù hợp. Hội KTSVN đã lưu ý nhiều lần việc xác định quy mô dân số phải dựa vào khả năng dung nạp đất đai và ngưỡng cân bằng sinh thái phù hợp với đường lối đô thị hoá của Đảng và Nhà nước “Tránh không tạo thành các siêu thành phố”, “Dần dần giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế – xã hội giữa các vùng”; và các chính sách khác “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Đảng”.

Với quy mô dân số đô thị khoảng hơn 9 triệu người vào năm 2030 và trên 10 triệu người vào năm 2050, Hội KTSVN cho rằng sự tăng trưởng này đã vượt ngưỡng cân bằng sinh thái, biến Thủ đô thành siêu thành phố với “bệnh đầu to” do chất tải quá lớn vào đô thị trung tâm với quy mô 4.6 triệu dân vào năm 2030 và gần 5.5 triệu dân vào năm 2050.

Đặc biệt, dân số nông thôn ngày một gia tăng từ 2,642 triệu người năm 2020 lên 2,917 triệu người năm 2030 và 3,223 triệu người năm 2050 đã trở thành hiện tượng không phù hợp với quy luật đô thị hóa.

– Đối với các đô thị được gọi là vệ tinh như Sơn Tây, Hoà Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên đều có quy mô trên 10 vạn dân đến 56 vạn dân vào năm 2030 và trên 70 vạn dân vào năm 2050. Như vậy, các đô thị này sẽ trở thành các thành phố loại III, loại II và loại I, do đó không thể gọi là đô thị vệ tinh. Quy hoạch này cũng trái với Hiến pháp và các quy định pháp luật về phân cấp quản lý đô thị của Việt Nam.

– Hệ quả của tăng trưởng dân số dẫn đến sự tăng trưởng vượt bậc về không gian từ 180,5km2 đất xây dựng năm 2008, lên 728,4km2 đất xây dựng năm 2020 và 1270,06km2 đất xây dựng năm 2030, đưa tỷ lệ đất xây dựng đô thị hiện nay từ 5,5% lên 21,7% (năm 2020) và 27,5% (năm 2030).

Tiêu chuẩn sử dụng đất đô thị trong dự án rất cao (120 m2/ng) vượt xa tiêu chuẩn quy định trong định hướng phát triển đô thị (70 – 80 m2/ng) không quản lý được quy mô phát triển.

Từ đó phương án chọn đất xây dựng đô thị hầu hết rơi vào các vùng đất trũng, đất nông nghiệp màu mỡ, đất bị ô nhiễm hoặc các khu dân cư đông đúc, tất yếu sẽ dẫn đến các vấn nạn và nguy cơ đối với sự phát triển bền vững Thủ đô, trái với các đề xuất về tầm nhìn, quan điểm và mục tiêu đã đề xuất.

5. Về tổ chức không gian.

– Về chọn đất và chọn hướng phát triển Thủ đô, Hội KTSVN đã lưu ý hướng phát triển thuận lợi là phía Bắc và đông bắc sông Hồng, nơi có quỹ đất cao, thuận lợi cho xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên trong đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, tư vấn đã quá tập trung về hướng Tây từ sông Nhuệ đến sông Đáy và giữa sông Đáy và sông Tích để phát triển đô thị, nơi đất trũng, bị ngập lũ, đa phần là đất nông nghiệp mầu mỡ và đông dân cư để phát triển đô thị với quy mô 1,6 – 1,7 triệu người.

Hội KTSVN cho rằng, cần có quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý hơn đối với vùng ven đô mở rộng, tại đây có thể bố trí các khu đô thị mới có quy mô nhỏ và vừa, gắn với các trung tâm chuyên ngành lớn và các công trình phục vụ cấp vùng.

– Về mô hình cấu trúc đô thị. Với một siêu thành phố trung tâm trên 5 triệu dân và các đô thị vệ tinh, Hội Kiến trúc sư Việt Nam cho rằng đây là mô hình cấu trúc đô thị đã cũ, tạo ra các luồng giao thông con lắc mạnh, dẫn đến nhiều vấn nạn và phá triển không bền vững.

Do vậy, có thể áp dụng mô hình cấu trúc đô thị đa tâm với quy mô đô thị trung tâm hợp lý, theo cơ cấu đô thị phát triển song hành, tuyến điểm, trên cơ sở một số chuỗi đô thị “đối trọng”, làm giảm áp lực giao thông con lắc và tạo tiền đề cho quá trình nhất thể hoá đô thị – nông thôn trong vùng Thủ đô tương lai.

Để thiết lập mô hình cấu trúc đô thị hợp lý có đặc trưng, điều quan trọng không phải là sự vận dụng các mô hình lý thuyết một cách cứng nhắc, mà phải tìm ra quy luật tiến hoá riêng của hệ thống đô thị tạo nên Thủ đô, thể hiện sự gắn kết giữa quá khứ với hiện tại và tương lai, giữa bảo tồn di sản đô thị với phát triển mới, đặc biệt phải gắn phát triển đô thị với bộ khung bảo vệ thiên nhiên.

– Về quy hoạch từng khu vực và mạng lưới, Hội KTSVN lưu ý nên phân biệt rõ khái niệm vành đai xanh và hành lang xanh. Nên quy hoạch hệ thống không gian xanh thành một bộ khung bảo vệ thiên nhiên, gắn với cấu trúc đô thị.

Đối với đất dự trữ cho khu xây dựng các công trình của các Bộ ngành, Hội KTSVN cho rằng việc chọn địa điểm Ba Vì cho mục đích này là không có cơ sở cả về khí hậu, đất đai, tính chất, cảnh quan và tính xã hội nhân văn. Do đó Hội kiến nghị nếu cần dự trữ thì chọn nơi khác, không nên bảo vệ ý tưởng ở Ba Vì. Chính vì vậy trục Hồ Tây – Ba Vì không còn cơ sở để tồn tại trong đồ án. Cảnh quan đặc trưng của Hà Nội lại càng không nên có trục thẳng, dài và lớn như đồ án đề ra.

Việc bố trí mạng lưới các trung tâm chuyên ngành, các khu công nghiệp tập trung và hạ tầng kỹ thuật phải xuất phát từ chiến lược phát triển bền vững của Thủ đô. Một khi, các định hướng chiến lược về kinh tế, dân số, không gian, cấu trúc đô thị của Thủ đô chưa phù hợp, thì việc phân tích chi tiết các quy hoạch xây dựng hệ thống các công trình này là chưa cần thiết.

III. Kết luận

Hội Kiến trúc sư Việt Nam nhận thấy việc lập phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội là một sự kiện đặc biệt quan trọng đối với nhân dân cả nước.

Mặc dù tư vấn đã rất cố gắng, nhưng do Quy hoạch xây dựng Thủ đô là một nhiệm vụ khó, mà chỉ được nghiên cứu trong một thời gian quá ngắn, nên đồ án Quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 vẫn chưa đạt yêu cầu.

Hội Kiến trúc sư Việt Nam kiến nghị Bộ Chính trị chỉ đạo việc tổ chức nghiên cứu, lấy ý kiến và thẩm định Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô phải đảm bảo chất lượng và phù hợp với các quy định của pháp luật. Đồng thời một lần nữa khẳng định “tầm vóc, chất lượng, tính khả thi” của đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội là mục tiêu phải đặt lên hàng đầu.

Kính trình Bộ Chính trị xem xét để có quyết định phù hợp.

Chủ tịch

(Đã ký tên và đóng dấu)

KTS. Nguyễn Tấn Vạn