Quy hoạch Hà Nội: Dễ hiện tại là làm khó tương lai

35

Theo KTS Hà Thủy: Chỉ số về đất đai đô thị trên đầu người (hoặc mật độ dân số đô thị) không phản ánh chất lượng đô thị, chất lượng cuộc sống. Song, chỉ số này lại nói lên tình trạng kém phát triển hay hoang phí tài nguyên.

Cái mất đi và không bao giờ lấy lại được đó là tài nguyên và sinh mạng con người. Đừng nhìn quá xa, nghĩ quá rộng mà nhẫn tâm với thế hệ hiện tại. Khác với chiến tranh vệ quốc, phát triển cần thông minh, không cần hy sinh!

Thực sự, đây là bài toán khó!

Bài toán khó là phát triển bền vững trên cơ sở công bằng xã hội. Nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng ngay từ bây giờ chứ không phải xa xôi (20 – 40 năm sau).

Bài toán khó là kế thừa, làm tăng giá trị của di sản đô thị, lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị, tạo dựng lòng tin, tập trung được các nguồn lực trong nước và quốc tế.

Bài toán khó là tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, xã hội, thời gian, công sức và tiền bạc; cân đối đầu tư phát triển kinh tế với ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng.

Bài toán khó là làm thế nào tìm ra các luận cứ, thấy được sự ưu việt, phương án lựa chọn là tối ưu, thực tế và khả thi (một trong những điều kiện khả thi là sự đồng thuận chứ không phải “ý chí của quyền lực”, là tư duy trên cái có thể chứ không phải cái mong muốn).

Bài toán khó là phải có những nghiên cứu thấu đáo về mọi phương diện, định hướng tốt, khái thác được ưu thế sẵn có; mở rộng khả năng lựa chọn cho các thế hệ không ngừng tiếp nối. Nhanh hay chậm sẽ không phải mục tiêu.

Hanoitoancanh1.jpg

Cái mất đi và không bao giờ lấy lại được đó là tài nguyên và sinh mạng con người; Đừng nhìn xa quá, nghĩ quá rộng mà nhẫn tâm với thế hệ hiện tại. Hà Nội nhìn từ trên cao. Ảnh: dothi.net

Hiện nay, tồn tại những luồng suy nghĩ khá phổ biến là gắn việc đô thị hóa với việc suy giảm năng lực nông thôn, nông nghiệp như một quy luật tất yếu. Chúng tôi cho rằng đây là tư duy sai lầm. Phải nói chính xác rằng việc quy hoạch đô thị tràn lan (theo chiều rộng) và đô thị hóa tự phát, mông muội với tốc độ nhanh, đã tàn phá nông thôn, nông nghiệp, làm suy giảm lòng tin, suy giảm sức mạnh đất nước.

Ngược lại, trên thế giới, tại các quốc gia phát triển, việc đô thị hóa được tiến hành tốt sẽ giúp cho quá trình giải phóng không gian nông nghiệp, tích tụ ruộng đất, làm cơ sở hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp ở Hoa Kỳ là ngành nông nghiệp phát triển, đứng đầu thế giới về sản lượng ngũ cốc (lúa mì, ngô…), trong khi với dân số làm nông nghiệp chỉ khoảng 2%. Vị thế kinh tế của nước Mỹ, thiết nghĩ, ai cũng biết.

“Đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”, tiếc thay, lại đi ngược với trào lưu tiến bộ của thế giới, tiếp tục đi vào lối mòn của các đồ án quy hoạch đang phổ biến hiện nay tại Việt Nam, tức “Ra bài toán dễ cho hiện tại, tạo bài toán khó cho tương lai”.

Như chúng tôi đã phân tích trong các bài trước: Chín phi lý trong quy hoạch Hà Nội. Và Hai tồn tại cốt tử trong quy hoạch thủ đô.

Song, sự phi lý của đồ án không chỉ dừng lại ở việc lựa chọn vị trí quy hoạch Trung tâm Chính trị – Hành chính quốc gia mà còn ở các nội dung khác.

Cũng giống như phần lớn các quy hoạch chung trong phạm vi cả nước. Đồ án quy hoạch Hà Nội đã có cách làm duy ý chí để thực hiện những kế hoạch võ đoán – tức có lời giải trước khi có bài toán. Hoặc tìm cách tạo ra bài toán dễ (làm cho xong), mặc cho thực tiễn có thế nào.

Trong bài viết này chúng tôi sẽ tập trung phân tích theo các cặp bài toán (dễ và khó), thể hiện một góc nhìn khác nhằm đánh giá chất lượng của đồ án này một cách khách quan hơn. Các phân tích, mổ xẻ sẽ làm cơ sở cho các phân tích về nguyên nhân và kiến nghị các giải pháp khắc phục sẽ được trình bày trong bài viết tiếp theo.

Giới hạn không gian đô thị, nông thôn và nông nghiệp – Áp đặt, mong muốn hay Khả năng, có thể?

Ở nước ta, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân (quốc gia công thổ). Tuy nhiên, điều này có mặt trái khi có sự lạm dụng quyền lực (trong cả thực tế và tư duy). Sự lạm dụng quyền lực trong thực tế sẽ dẫn đến chuyện “xin”, “cho” và tham nhũng đất đai đang là một “quốc nạn”. Quốc nạn này lại có nguyên nhân đến từ lạm dụng quyền lực trong tư duy. Việc thu hồi đất dễ dàng đã khiến cho những người có trách nhiệm dễ dãi trong quy hoạch sử dụng đất. Và, với một quốc gia đất chật người đông như chúng ta thì lối tư duy này còn tàn phá đất nước nhanh còn hơn giặc dữ.

Trên phạm vi cả nước, việc các đồ án quy hoạch đề xuất thu hồi đất nông nghiệp (đặc biệt là đất lúa) sang chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho đô thị đã trở thành phổ biến.

Đồ án Quy hoạch Hà Nội không phải là ngoại lệ; Chúng tôi xin phân tích cụ thể:

Trích nội dung Đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050:

Dự báo dân số: “Năm 2030, dân số toàn thành phố có khoảng 9,4 triệu người (trong đó thành thị khoảng 6,4 triệu người, Nông thôn khoảng 3 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa 68,8%). Phân bổ dân cư đô thị hạt nhân khoảng 4,41triệu người (Trong đó: các quận nội đô cũ phía Nam sông Hồng khoảng 1,69 triệu người; khu phát triển mới cả phía Bắc và Nam khoảng 2,72 triệu người); 5 đô thị vệ tinh khoảng 1,77 triệu người; các đô thị sinh thái và các thị trấn hiện hữu khoảng 0,26 triệu người”.

Dự báo sử dụng đất “Tổng quỹ đất xây dựng cả thành thị và nông thôn khoảng 125.500ha, chỉ tiêu: 130-135 m2/người, chiếm xấp xỉ 37,5% tổng diện tích đất tự nhiên.

Trong đó, đất xây dựng thành thị khoảng 92.000ha, chỉ tiêu: 125-130m2/người, chiếm 27,5% so đất tự nhiên toàn thành phố; đất xây dựng nông thôn khoảng 33.500 ha, chỉ tiêu 135-140m2/người.

Phân bổ chi tiết đất xây dựng đô thị tại các khu vực: Đô thị hạt nhân có diện tích khoảng 40.000 ha; chỉ tiêu: 90 m2/người, trong đó khu vực các quận nội thành (Nam sông Hồng) có diện tích khoảng 9.000 ha; chỉ tiêu: 50-52 m2/người. Khu vực phát triển mới diện tích khoảng 31.000 ha; chỉ tiêu: 110-115 m2/người, trong đó 5 đô thị vệ tinh diện tích khoảng 32.000 ha; chỉ tiêu: 180 m2/người; Các đô thị sinh thái và các thị trấn hiện hữu diện tích khoảng 3.900 ha; chỉ tiêu: 135-140 m2/người”. (nguồn: http://hanoi.org.vn/planning/archives/category/content).

Chúng ta thấy gì trong con số này vào năm 2030:

Mật độ dân cư trong đô thị:6.400.000 người/92.000ha (920 km2) = 6.956,52ng/ km2

Mật độ dân cư nông thôn: 3.000.000 người/33.500 ha (335km2) = 8.955,22ng/ km2

Không biết có nhầm lẫn hay là ý tưởng (đặc biệt) mà đồ án cho ra một con số rất ấn tượng: Đến năm 2030 mật độ dân số đô thị sẽ thấp hơn vùng nông thôn (6.956,52ng/ km2 < 8.955,22ng/ km2 – hay là chúng tôi nhầm!!!).

Nếu so sánh nhóm số khác: Tổng diện tích đất đô thị Hà Nội (trước quy hoạch) khoảng 234km2 so với tổng quỹ đất (sau quy hoạch) khoảng 920km2 sẽ thấy sự đột biến về chuyển đổi mục đích sử dụng sau 20 năm (gấp 3,9 lần) trong khi số dân tăng 2,9 lần.

Với diện tích dành thu hồi phục vụ đô thị sẽ có 686km2 (68.600ha) phải chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp. Nếu tính trung bình mỗi hộ dân khoảng 1/3ha như vậy sẽ có khoảng 205.930 hộ dân bị thu hồi đất, tương đương khoảng 1.029.000 nhân khẩu (ước tính 5 nhân khẩu/1 hộ). Con số chịu tác động còn có thể gấp 2 lần. Đây là một con số đáng suy nghĩ. Xin lưu ý: khoảng 2 triệu nhân khẩu bị tác động đến cuộc sống ngay từ bây giờ – khi đồ án còn chưa được phê duyệt (sốt đất, bỏ hoang, bán đất, tệ nạn, thất nghiệp, bất an).

Diện tích trên chưa bao gồm đất dành cho giao thông đối ngoại và kết nối các đô thị và quần cư nông thôn; nếu ước tính diện tích giao thông khoảng 15% diện tích xây dựng đô thị và nông thôn 125.000ha*15% = 18.825ha; số hộ dân bị thu hồi đất = 18.825ha/1/3= 56.475, tương đương 282.375 nhân khẩu; số nhân khẩu bị tác động khoảng trên 500.000 dân.

Tổng hợp: số nhân khẩu bị thu hồi đất: khoảng 1.312.035 người; số dân bị tác động: khoảng 2,5 triệu người; tương đương khoảng trên 40% dân số hiện tại. Con số này chưa bao gồm số dân cư đô thị bị tác động bởi các kế hoạch giãn dân và tái cấu trúc các đô thị hiện hữu.

Xin lưu ý: trên 40% dân số cúa Hà Nội hiện nay sẽ bị tác động, đây thực sự là hiểm họa về mặt xã hội!

Đồ án quy hoạch cũng không đưa ra con số cụ thể về số đất trồng lúa bị mất. Song có thể nhìn trực quan cũng có thể nhận thấy được con số hàng ngàn, chục ngàn ha.

“Hiện đất nông nghiệp đang mất rất nhanh, chỉ trong 8 năm qua (trên toàn quốc) đã mất 255.000 ha” (nguồn: http://vietnamnet.vn/chinhtri/201006/Du-an-chiem-dat-lua-cung-phai-dua-ra-Quoc-hoi-914245/).

Theo Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam “Hiện nay diện tích nông nghiệp của Thủ đô là 189 nghìn ha, đất trồng lúa là 117 nghìn ha, thế mà Quy hoạch đến năm 2030 lấn chiếm tới 73,5% diện tích đất nông nghiệp và 66% diện tích đất trồng lúa. Theo đó, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn bảo tồn 50 nghìn ha và đất trồng lúa chỉ còn 40 nghìn ha” (nguồn: http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/502496/Cac-vien-quy-hoach-cua-ta-phai-lam-thue.html).

hathuy1.jpg

Cũng theo tài liệu này, nếu đồ án quy hoạch Hà Nội được phê duyệt sẽ có thêm 139.000 ha đất nông nghiệp (trong đó có 77.000 ha đất trồng lúa) bị mất; Con số này tương đương với khoảng 55% đất nông nghiệp đã bị mất trên toàn quốc trong tám năm qua.

Ngày 05/ 8/ 2008, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 26 – NQ/T.Ư “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Phần mục tiêu đến năm 2020 nêu rõ: “sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài”.

Ngày 23/12/ 2009 Chính phủ đã có Nghị quyết Số: 63/NQ-CP về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, trong đó ghi rõ “Diện tích đất lúa cần giữ, bảo vệ nghiêm ngặt phải được xác định cụ thể đến từng địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất lúa đến hộ sử dụng”.

Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội có phải tuân thủ các Nghị quyết này hay không? Hay là một ngoại lệ!

Khủng hoảng tài chính chỉ là thảm họa cho những ngụy giá trị. Nhưng khủng hoảng lương thực và lòng tin vào sự công bằng sẽ là thảm họa cho tất cả.

Dù biện minh thế nào, đồ án cũng đã đề xuất một kế hoạch sử dụng đất chưa từng có trong lịch sử, tạo ra sự mất cân bằng vô cùng lớn (“Nhất bên trọng, nhất bên khinh”) trong tương quan không gian, xã hội giữa nông thôn, nông nghiệp và thành thị. Thực tế, phản lại mục tiêu phát triển bền vững của chính quy hoạch đã đặt ra.

Đây quả thực là sản phẩm của tư duy áp đặt mong muốn, dễ dãi trong quy hoạch sử dụng đất.

Bài toán dễ là thu hồi đất tùy theo nhu cầu đô thị, nhu cầu xây dựng đô thị (chỉ tiêu sử dụng đất) lại theo chủ quan của một nhóm người. Thu hồi đất theo ý chí; thực hiện ý đồ tạo hình “lãng mạn” của đồ án quy hoạch, bất chấp phải thu hồi bao nhiêu diện tích đất canh tác, đất trồng lúa; tác động tiêu cực đến bao nhiêu số phận con người, nhân danh phát triển.

Bài toán dễ là thu hồi đất một cách hồn nhiên, sử dụng hoang phí; không yêu cầu về hiệu quả sử dụng đất như một điều kiện bắt buộc cho các nhà quy hoạch; mọi rủi ro dồn vào những người dân bị thu hồi đất; bất chấp hậu họa về an ninh lương thực, hậu họa về bất ổn xã hội, thực hiện theo lời giải có sẵn của đồ án bằng cách thu hẹp không gian nông thôn, nông nghiệp (tới mức mật độ dân cư nông thôn cao hơn đô thị như đồ án đề xuất).

Bài toán khó là phải căn cứ vào khả năng có thể của hiện trạng tài nguyên đất đai; xác định các giới hạn không gian đô thị, nông thôn và nông nghiệp như một điều kiện tiên quyết và bắt buộc trong nội dung phạm vi nghiên cứu… Nên cân nhắc kỹ, cân bằng lợi ích của quốc gia, thành phố và từng người dân (dù nghèo hay giàu).

Bài toán khó là đồ án quy hoạch phải đánh giá lại toàn bộ, báo cáo chi tiết diện tích đất lúa, các loại đất không được chuyển đổi mục đích xây dựng thuộc nhóm bảo vệ nghiêm ngặt. Đánh giá lại các khu vực đô thị hiện hữu với khả năng tái cấu trúc và sức chứa tối ưu.

Bài toán khó là đồ án quy hoạch phải đánh giá lại tiềm năng của quỹ đất xây dựng thuận lợi có thể huy động cho đô thị và nông thôn (trong đó phải nhấn mạnh các khu vực đất tự nhiên không sử dụng, hoang hóa, không thuận lợi cho nông nghiệp) mà không gây ra biến động lớn về xã hội (cần có các nghiên cứu chuyên sâu kèm theo).

Bài toán khó là cùng lúc phải đề xuất (đồng bộ) bài toán tối ưu về tốc độ đô thị hóa, kế hoạch thu hồi đất trong khả năng thực tế, phù hợp các điều kiện tự nhiên, xã hội của Hà Nội (mở rộng). Giới hạn tỷ lệ đất dự trữ (bắt buộc) cho từng đô thị.

Sau cùng, phải khống chế các giới hạn không gian đô thị và nông thôn ổn định, lâu dài như một điều kiện tiên quyết, tham chiếu để lựa chọn giải pháp tối ưu cho quy hoạch sử dụng đất sau này. (Con số thực tế là bao nhiêu, đúng ra, phải được trả lời trước khi lập Nhiệm vụ quy hoạch chung thủ đô Hà Nội).

Sử dụng Tài nguyên đất đai – Hoang phí, tùy hứng hay Tiết kiệm, thận trọng?

Việt Nam, đất chật (diện tích đứng thứ 65 thế giới); người đông (đứng thứ 12 thế giới); là một nước nghèo, GDP quốc gia hàng thứ 58; 57 thế giới; GDP bình quân đầu người đứng thứ thứ 135/194 (theo CIA World Factbook); 127/181 (theo IMF – International Monetary Fund). Nhưng xét về sự hoang phí, tùy hứng (trong tư duy và thực tế) chúng ta chắc thuộc nhóm hàng đầu.

Cách nghiên cứu quy hoạch thành phố theo tiêu chuẩn sử dụng đất là dạng quy hoạch theo phương pháp kế hoạch hóa (đã rất lỗi thời) lại đang vẫn thịnh hành ở Việt Nam. Ngày nay, mô hình phát triển theo hướng mở rộng liên tục không gian đô thị đã trở nên quá lạc hậu. Bởi kèm theo mô hình này sẽ luôn phải sử dụng các công cụ hành chính (luôn cản trở sự phát triển) sẽ bị vô hiệu hóa là nguyên nhân gây ra các vấn nạn đô thị (tắc đường, ngập lụt, ô nhiễm, lãng phí tài nguyên v.v.). Đô thị sẽ giống như quái vật càng ngốn nhiều càng khát đất. Trong khi, đất đai lại có hạn, không phải vô tận!

Tiếc thay, quy hoạch thủ đô Hà Nội lại tiếp tục cách nghiên cứu và thực hiện theo cách này.

Với việc đưa ra kế hoạch sử dụng đất tiêu chuẩn sử dụng đất/ đầu người cao (mật độ dân cư đô thị giảm), thoạt nghe, có thể nghĩ là sự tiến bộ về quy hoạch không gian đô thị. Nhưng xem xét có hệ thống hơn, sẽ thấy đây là một bước lùi nghiêm trọng, sử dụng tài nguyên một cách hoang phí.

Để rõ hơn, chúng ta sẽ khảo sát một số thành phố thủ đô (hoặc đã từng là thủ đô): Buenos Aires; Seoul; Tokyo; Paris; London; Bắc Kinh; Delhi; Jakarta; New York; Tehran; Moscow; Hà Nội sau quy hoạch.

Về thứ hạng diên tích các quốc gia có thủ đô và các thành phố kể trên (/193 quốc gia và vùng lãnh thổ): Argentina (8); Hàn Quốc (108); Nhật Bản (61); Pháp (47); Anh (78); Trung Quốc (4); Ấn Độ (7); Indonesia (15); Mỹ (3); Iran (17); Nga (1); Việt Nam (65).

Về thứ hạng dân số quốc gia (/193 quốc gia và vùng lãnh thổ): Argentina (31); Hàn Quốc (24); Nhật Bản (10); Pháp (20); Anh (21); Trung Quốc (1); Ấn Độ (2); Indonesia (4); Mỹ (3); Iran (18); Nga (8); Việt Nam (12).

Về thứ hạng về mật độ dân số quốc gia (/230 quốc gia và vùng lãnh thổ): Argentina (195); Hàn Quốc (19); Nhật Bản (30); Pháp (89); Anh (48); Trung Quốc (71); Ấn Độ (31); Indonesia (84); Mỹ (172); Iran (158); Nga (209); Việt Nam (46).

Về thứ hạng quốc gia GDP 2009 (Theo CIA World Factbook/190; Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF/181): Argentina (31;30); Hàn Quốc (15;15); Nhật Bản (2;2); Pháp (5;5); Anh (6;6); Trung Quốc (3;3); Ấn Độ (12;11); Indonesia (18;18); Mỹ (1;1); Iran (29;29); Nga (11;12); Việt Nam (58;57).

Về thứ hạng quốc gia GDP 2009 bình quân đầu người (Theo CIA World Factbook/194; Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF/181): Argentina (63;52); Hàn Quốc (36;30); Nhật Bản (29;23); Pháp (28;21); Anh (24;19); Trung Quốc (102;99); Ấn Độ (134;128); Indonesia (127;120); Mỹ (8;6); Iran (68;71); Nga (58;51); Việt Nam (135;127).

Về thứ hạng về dân số đô thị (thứ hạng, dân số, diện tích (km2)/61: Buenos Aires (59; 3.050.728; 203); Seoul (8; 10.456.034; 605,4); Tokyo (11; 8.795.000; 617); Paris (<61; 2.203.817; 105,4 ); London (<61; 2.864.620; 319); Bắc Kinh (9; 10.123.000; 1.368); Delhi (4; 12.259.230; 431,09); Jakarta (12; 8.489.910; 664); New York (13; 8.310.212; 789,4); Tehran (16; 7.873.000; 760); Moscow (7; 10.508.971; 1.081); Hà Nội sau quy hoạch (tương đương hạng 26; 6.400.000; 920); Dân số đô thị thủ đô Hà Nội trước quy hoạch khoảng 2.178.000, tương đương hạng <61.

Với mật độ dân số sau quy hoạch trong đô thị (Hà Nội khoảng 6960/ km2 so với Buenos Aires 15.030/ km2; Seoul 17.270/ km2; Tokyo 14.250/km2; Paris 20.780 /km2; London 8.980/km2; Bắc Kinh 7.400/km2; Delhi 28.440 / km2; Jakarta 12.740/km2; New York 10.452/km2; Tehran 10.359/km2; Moscow 9.720/ km2), mật độ dân số đô thị của Hà Nội thuộc nhóm trung bình thấp.

(nguồn: http://en.wikipedia.org; According to CIA World Factbook; Open Wikipedia Encyclopedia; Worldstatesmen.org; International Monetary Fund – IMF; Forbes.com).

Như vậy, Việt Nam với tổng diện tích khoảng 331.690km2, hạng 65/193 thế giới; Số dân khoảng 85.789.573 người (tính đến 01 tháng 4 năm 2009), hạng 12/193 thế giới. Thứ hạng quốc gia về GDP 2009 khoảng 92,439 tỷ USD (IMF), hạng 57/181; Hà Nội với GDP khoảng 9 ~ 10 tỷ USD còn rất xa mới vào trong Top 100 các thành phố có GDP lớn nhất (hạng 100 thấp nhất là 53 tỷ USD). Chúng ta chỉ có dân số thuộc nhóm cao của thế giới.

Các thành phố thủ đô trên thế giới được tổ chức với nhiều mật độ dân cư khác nhau; chúng tôi dẫn ra đây các thành phố điển hình về sử dụng không gian đô thị có hiệu quả.

hathuy3.jpg

hathuy4.jpg

Không thể tin được! Paris – thủ đô ngàn năm của nước Pháp, đã một thời và hiện vẫn đang là một trong những trung tâm của thế giới, diện tích nội đô vẻn vẹn chỉ có 105,4 km2; GDP của Paris 564 tỷ USD; GDP bình quân 5,351 tỷ USD/km2. Điều này có nghĩa chỉ cần 2 km2 không gian đô thị có thể tạo ra GDP bằng với GDP của Hà Nội hiện nay; Tokyo cần hơn 4 km2; New York; London; Buenos Aires cần hơn 5 km2. Điều này thể hiện sức mạnh kinh tế của các không gian đô thị phát triển; hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên.

Nếu phấn đấu theo hiệu quả sử dụng đất của các thành phố vào năm 2030 GDP của Hà Nội sẽ phải: Theo nhóm trung bình (Bắc Kinh; Tehran; Jakarta) phải là: 0,121* 920 = 112 tỷ USD; 0,187*920 = 154 tỷ USD; 0,139*920 = 127 tỷ USD. Theo nhóm khá (Moscow; Seoul; Delhi): 0,297*920 = 273 tỷ USD; 0,481*920 = 442 tỷ USD; 0,387*920 = 356 tỷ USD. Theo nhóm khá cao (Buenos Aires; London; New York): 1,783*920 = 1.641 tỷ USD; 1,771*920 = 1.629 tỷ USD; 1,781*920 = 1.639 tỷ USD; Theo nhóm cao (Tokyo): 2,397*920 = 2.205 tỷ USD; Theo nhóm siêu cao: 5,351*920 = 4.923 tỷ USD; Quả là không tưởng!

Như vậy, so với GDP dự kiến (lạc quan) của Hà Nội (20 năm sau) đến năm 2030 khoảng 90 ~ 100 tỷ USD vẫn thấp hơn hiệu quả sử dụng đất đô thị của các nước nhóm trung bình thấp tại thời điểm hiện nay (nếu với GDP bình quân đầu người là 11.000 USD).

Trong 11 quốc gia nêu trên, có 9 quốc gia có diện tích lớn hơn Việt Nam: Nước Pháp có diện tích gấp khoảng 1,7 lần Việt Nam; Nga gấp khoảng 51 lần; Mỹ gấp khoảng 29 lần; Trung Quốc gấp khoảng 28,9 lần; Ấn Độ gấp khoảng 10 lần; Indonesia gấp khoảng 5,8 lần; Iran gấp khoảng 5 lần; Argentina gấp khoảng 8,4 lần; Nhật Bản gấp khoảng 1,1 lần; 2 quốc gia có diện tích nhỏ hơn: Hàn Quốc bằng 0,30 diện tích Việt Nam; Anh bằng khoảng 0,73;

Câu hỏi đặt ra: Dù đất rộng hơn hay hẹp hơn chúng ta, tại sao họ vẫn duy trì thành phố thủ đô với mật độ dân cư rất cao?

Không thể nói vì mật độ dân cư cao nên chất lượng sống tại Paris, New York, Tokyo; London hay Seoul là thấp. Không ai hoài nghi điều này (dù đã đến hay chưa): Các thành phố nêu trên là những thành phố thuộc nhóm có chất lượng đô thị và cuộc sống cao nhất thế giới;

Và không thể nói thủ đô Dodoma (Tanzania, GDP quốc gia Khoảng 29 tỷ USD hạng 97) với mật độ dân số trung bình 518/ km2 hay thủ đô Yamoussoukro (Côte d’Ivoire, GDP quốc gia khoảng 28,460 tỷ USD hạng 98) ) có mật độ dân số trung bình 57/km2; sẽ có chất lượng đô thị và cuộc sống tốt hơn 11 thành phố nói trên.

Chỉ số về đất đai đô thị trên đầu người (hoặc mật độ dân số đô thị) không phản ánh chất lượng đô thị, chất lượng cuộc sống. Song, chỉ số này lại nói lên tình trạng kém phát triển hay hoang phí tài nguyên.

Không phải tự nhiên, các thành phố phát triển thành công trên thế giới đều lựa chọn mô hình đô thị mật độ cao, còn gọi là mô hình đô thị nén (Compact Urban) – chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn trong phần sau.

Đây là một phát kiến lớn trong lịch sử văn minh đô thị tức: “mô hình nhỏ gọn thành phố cho phát triển đô thị chứ không phải là mở rộng đô thị và phát triển thành phố không bền vững”.

Và Paris – một đô thị ngàn năm như Hà Nội đã làm được điều này với hiệu suất GDP 5,351 tỷ USD/km2; cho đến nay vẫn là một kỷ lục.

Sứ mệnh của đô thị là giải phóng đất đai và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Chất lượng tiện nghi đô thị có nghĩa: trong khoảng chuyển dịch gần nhất cung cấp được khối lượng dịch vụ lớn nhất với chất lượng cao nhất. Sức hút của đô thị nằm ở chỗ đô hội. Sức mạnh của đô thị là tạo ra cỗ máy hoàn hảo (trong đó có khả năng phục hồi sức khỏe cả tinh thần và thể chất), dung nạp được nhiều người song vẫn không tạo ra sự cố về môi trường tự nhiên và xã hội.

hathuy5.jpg

hathuy6.jpg

Bài toán dễ là thêm người, thêm đất (đây là logic mà đồ án Quy hoạch Hà Nội đang theo đuổi); Tiếp tục chấp thuận chỉ tiêu sử dụng đất (hay mật độ dân cư đô thị) như đề xuất của đồ án cho dễ quy hoạch, quản lý và xây dựng vì không cần trình độ cao (theo thói quen quy hoạch của Việt Nam hiện nay).

Bài toán dễ là bất chấp những hệ lụy: Quy hoạch dàn trải, tràn lan và cảm tính (triển khai theo chiều rộng). Cư dân phải chuyển dịch theo phương ngang nhiều (nguyên nhân của vấn nạn giao thông). Tiện nghi đô thị thấp (chuyển động con lắc – phải mất nhiều thời gian cho các mục tiêu). Chi phí hạ tầng/đầu người cao; Hiệu quả kinh tế đô thị thấp, thời gian đưa đô thị vào hoạt động thực sự thường kéo dài. Lãng phí cơ hội vì thời gian thực hiện không thể hạn định (rõ nhất là vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư). Gây nhiều xáo trộn, bất an trong xã hội (khiếu kiện, tham nhũng). Nguy cơ bong bong, đầu cơ bất động sản tăng cao vì mất cân bằng giữa nhu cầu và khả năng có thực của nền kinh tế. Đô thị cần nhiều không gian, lãng phí tài nguyên đất đai.

Bài toán khó là phải phân tích trung thực các tài liệu về hiện trạng sử dụng đất tại các khu vực nông thôn, đô thị hiện hữu, tìm ra giải pháp tăng khả năng dung nạp, hấp thụ cư dân, nâng cao năng lực đô thị.

Bài toán khó là chấp nhận giới hạn không gian đô thị, nông thôn, nông nghiệp như một điều kiện tiên quyết và bắt buộc về trong nội dung. Giới hạn phạm vi nghiên cứu cho từng vùng đất dành cho đô thị nhằm xác định trọng tâm quy hoạch, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đô thị và nông thôn. Tùy theo quỹ đất có thể, đề xuất một mật độ dân số đô thị cao hơn khoảng 1,5 – 2 lần (> 12.000 < 14.000/km2). Hiệu suất sử dụng đất sẽ tăng lên; nhu cầu đất đô thị giảm xuống tối thiểu 1,5 – 2 lần (tức bằng 10.500/km2 – 14.000/km2 (tương đương New York và Tokyo; nhu cầu sử dụng đất đô thị khoảng 620 km2 – 450 km2, quy mô thành phố tương đương Tokyo – Delhi).

Bài toán khó là nâng cao giá trị tài nguyên bằng giải pháp tiết kiệm đất đai. Đề xuất các mật độ giới hạn, sức chứa tối đa, tối ưu, tổi thiểu. Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, di sản đô thị và nông thôn để đô thị thủ đô Hà Nội có khả nang mang lại hiệu quả kinh tế xã hội (trong khoảng 20 năm) ở mức của nhóm khá cao (Moscow; Seoul; Delhi) trở lên.

Bài toán khó là yêu cầu các nhà tư vấn phải giải thích rõ vì sao các thành phố (nêu trên) thành công. Đề xuất mô hình phát triển, kèm theo các giải pháp cụ thể trong các không gian được tiết chế, giảm thiểu để giúp cho Hà Nội đạt tới sự thịnh vượng và đảm bảo cho sự thành công này một cách bền vững. Hệ số sử dụng đất được lựa chọn là sự cân bằng giữa tiện nghi đô thị, môi trường với mật độ dân cư.

HÀ THỦY – TUANVIETNAM