Định hướng cấu trúc vùng TP. Hồ Chí Minh ứng xử với sự biến đổi khí hậu

138

Hiện nay quy hoạch Vùng thành phố được coi là mô hình có ưu thế nhất, đáp ứng được sự đòi hỏi cùng lúc các lời giải cho bài toán quy hoạch, tăng trưởng kinh tế, dân số, giao thông, môi trường, văn hóa, lối sống…  

Ngày 31/3/2009, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Xây dựng đã chính thức công bố quy hoạch Vùng Thành phố  Hồ Chí Minh đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 

Với mục tiêu chiến lược, thiết nghĩ quy hoạch Vùng thành phố  Hồ Chí Minh cần phải hết sức quan tâm đến vấn đề Biến Đổi Khí Hậu – một vấn đề mang tính cấp thiết toàn cầu và đang được quan tâm ở Việt Nam, nhưng chưa được quan tâm đúng mức trong quy hoạch Vùng và quy hoạch đô thị. 
 

 

mô hình cầu Phú Mỹ


Tổng quan về quy hoạch vùng TP.HCM 
 
Năm 2050 gồm 8 tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang và TP Hồ Chí Minh. Về cấu trúc không gian vùng, quanh vùng trung tâm thiết lập các đường vành đai đô thị 1, 2 và vành đai cao tôc 3 quanh vùng trung tâm; kết nối các trục cao tốc hướng tâm nối vùng trung tâm và các trung tâm tiểu vùng.

Mô hình khu Trung tâm Thành phố.
 
Theo định hướng này, VTP.HCM sẽ được tổ chức theo 3 vùng phát triển chính: 
 

Thứ nhất: là vùng phát triển đô thị gồm vùng trung tâm bán kính 30km bao gồm các đô thị vệ tinh độc lập được xác định trong bán kính 30km từ trung tâm đô thị hạt nhân TP Hồ Chí Minh. 
 
Thứ hai: là vùng phát triển công nghiệp gồm vùng công nghiệp trung tâm TP Hồ Chí Minh bố trí các ngành kỹ thuật cao, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghiệp sạch…  
 
Thứ ba: là vùng sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng gồm TP.HCM và các đô thị trong vòng bán kính 30 km được gọi là vùng du lịch quốc tế.  
 
Mục tiêu phát triển vùng TPHCM  trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế, trung tâm kinh tế hàng đầu của quốc gia và khu vực, kết nối các tỉnh thành trong vùng với nhau. Với dự báo đến năm 2020, dân số Vùng TP.HCM khoảng 20 – 22 triệu ngươi, trong đó dân số đô thị khoảng 16 – 17 triệu người, với tỷ lệ đô thị hóa khoảng 77% – 80%. Đến năm 2050, dân số trong vùng khoảng 28 – 30 triệu người, trong đó dân số đô thị khoảng 25 -27 triệu người, với tỷ lệ đô thị hóa khoảng 90%. 

Các vấn đề về tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đối với TP.HCM 

Biến đổi khí hậu (climate change) đặc trưng bởi những hiện tượng thời tiết bất thường và được đánh giá bằng thay đổi những thông số thời tiết tai một vùng nhất định trong một khoảng thời gian dài được quan sát, đo đạc và đánh giá bằng nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình cùng chế độ gió… 

Xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu là nội dung quan trọng của nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Kịch bản biến đổi khí hậu là cơ sở cho việc đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu đến các đối tượng khác nhau của tự nhiên, kinh tế – xã hội và xây dựng các chiến lược thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu.

Trong vòng 30 năm qua, khí hậu vùng Thành phố Hồ Chí  Minh đã bắt đầu thay đổi. Bão nhiệt đới vốn hiếm khi tác động tới đây, nay đã thành thường lệ. Bão thường kèm theo những trận mưa lớn và khiến mực nước biển dâng cao tràn vào bờ và cả  sông ngòi. Trong các thay đổi toàn cầu về khí hậu đã được nghiên cứu và công nhận, Vùng TP Hồ Chí Minh nổi lên là một Vùng thành phố có nguy cơ. Đối với riêng TP Hồ Chí Minh, ở cấp toàn cầu, TP Hồ Chí Minh được xác định là một trong 10 thành phố có khả năng chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và đứng hàng thứ 5 về số dân sẽ có thể phải chịu tác động vào năm 2070.

Đô thị mới Nhơn Trạch sẽ nằm trên vùng đất cao hơn và tránh được úng ngập, tuy nhiên sẽ bị vây quanh bởi úng ngập bất thường và có khả năng bị cô lập trong thời gian đó. Khu vực ngay phía tây Nhơn Trạch, dọc theo sông Đồng Nai sẽ bị ảnh hưởng của mực nước biển dâng, và một vài nơi trong vùng của TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, sông Thị Vải sẽ bị ngập vĩnh viễn (tức là nằm dưới mực thủy triều thấp mới).

Tại các vùng nông thôn, tổn thương xuất phát từ tác động tiềm năng đối với tư liệu sản xuất hộ gia đình cũng như do vùng nông thôn dễ bị ngập lụt, hạn hán hơn do biến đổi khí hậu, sẽ tác động tới hoạt động kinh tế và sản lượng công nghiệp bằng việc ngập lụt những vùng sản xuất, hạ tầng thiết yếu gắn với những tài sản kinh tế chiến lược cũng như tác động tới sự sẵn có của vật tư đầu vào cốt yếu cho sản xuất. Trong đó công nghiệp nặng và các ngành công nghiệp sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên là nguyên liệu sẽ chịu rủi ro cao nhất.

Phân tích sự cần thiết của việc nghiên cứu cấu trúc không gian vùng Tp.HCM ứng xử với biến đổi khí hậu.

Bài toán cho cấu trúc Vùng thành phố Hồ Chí Minh là phải mang lại sự thích ứng của các hệ thống kinh tế cần chú trọng lồng ghép tác động của BĐKH vào quy hoạch phát triển ngành và phát triển không gian vùng, như: quy hoạch vị trí các khu công nghiệp và định hướng chiến lược cho phát triển kinh tế, kể cả đánh giá chi tiết hơn tính dễ tổn thương của các ngành đối với BĐKH.

 

                        Bản đồ Quy hoạch Vùng TP. Hồ Chí Minh.

Vì thế Định hướng cấu trúc Vùng Thành phố Hồ Chí Minh cần xem xét kỹ hơn một số vấn đề:

Chống mở rộng đô thị tuỳ tiện: sự  phát triển tùy tiện các khu dân cư và doanh nghiệp nhỏ là một đặc trưng của các đô thị trong Vùng, đặc biệt là dọc theo các tuyến đường chính thành các vành đai xây dựng ngoài khu vực trung tâm hạt nhân Vùng.

Quy hoạch cho vùng thu nhập thấp: cung cấp nhà ở  và dịch vụ cho cộng đồng thu nhập thấp là một nhiệm vụ quan trọng của nhà quy hoạch đô thị.

Quy hoạch Khu CN và Khu Chế xuất:  Cố gắng xác định xí nghiệp nào dễ bị úng ngập nhất và thiệt hại nặng nhất do úng ngập, và khuyến khích di dời vào các khu CN và CX không có nguy cơ ngập lụt.

Biện pháp kiểm soát ô nhiễm: ô nhiễm nghiêm trọng dòng chảy, sông ngòi và kênh rạch trong đã được nhận thức rõ và các biện pháp làm sạch không phải do BĐKH thúc đẩy, mà là do yêu cầu về điều kiện y tế và môi trường.

Bảo vệ khu chôn lấp rác: Hệ thống khu chôn lấp rác hiện tại của các đô thị trong Vùng sẽ được mở rộng mặc dù chúng đặc biệt dễ bị tổn thương do úng ngập, và hậu quả là nguy cơ làm ô nhiễm đất và nước do nước lụt bị ô nhiễm khi chảy qua các khu chôn lấp rác.

Nông nghiệp như một chiến lược thích ứng: Ngành nông nghiệp trong Vùng có khả năng làm tăng sức chống chọi với BĐKH và có thể tự cung tự cấp khi nguồn cung cấp các sản phẩm nông nghiệp từ các tỉnh khác bị gián đoạn do các sự kiện bất thường.

Kết luận

Định hướng cấu trúc Vùng Thành phố Hồ Chí  Minh cần kết hợp khả năng thích ứng khi các điều kiện thay đổi. Chúng ta không thể lường trước tất cả các biến đổi sẽ xảy ra, cả về biến đổi khí hậu lẫn biến đổi kinh tế-xã hội, và các sự kiện hoặc phát triển ngoài dự kiến rất thường phá vỡ quy hoạch. Việc duy trì và tạo dựng sự linh hoạt cơ cấu Vùng có tính đến yếu tố Biến Đổi Khí Hậu là hết sức cần thiết; sự linh hoạt này bao gồm sự linh hoạt trong môi truờng xây dựng, sự linh hoạt trong môi trường tự nhiên và sự linh hoạt về mặt xã hội. 
 
THS.KTS. Phạm Anh Tuấn 
Theo TCKTVN; nguồn ảnh: Trung tâm thông tin QH TP.Hồ Chí Minh