Bauhaus – Huyền thoại về Chủ nghĩa Hiện Đại

1415

Cái tên Bauhaus huyền thoại đã bước sang tuổi 90 năm nay và lễ kỉ niệm của nó đã được đánh dấu bằng những cuộc triển lãm từ Tokyo cho tới New York. Ngôi trường ấy đã được sáng lập bởi một kiến trúc sư trẻ tuổi, Walter Groupius, con người đã mong muốn nhào nặn nên những hình hài của tương lai và tạo dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Ở cái thời của u mê và chết chóc, thường sinh ra nghị lực cho các ý tưởng lớn. Trở lại năm 1919, kiến trúc sư người Đức Walter Gropius đã suy nghĩ về thời kì khó khăn sau khi Chiến tranh TG lần thứ nhất như là “một tai ương của lịch sử thế giới”. Và câu trả lời với ông là một ảo ảnh không tưởng, rõ nét và thực dụng đến ngạc nhiên –  trường Bauhaus. Bằng cách chính thức hóa một trường đào tạo nghệ thuật kiểu mới, ông đã thành công trong việc tạo nên một kì quan văn hóa mà vẫn còn tiếp tục có một ảnh hưởng sâu rộng đến tận ngày nay.

Năm nay kỉ nhân niệm ngày thành lập thứ 90 của ngôi trường ấy, một loạt những sự kiện và triển lãm đã được tổ chức để nhắc nhở với chúng ta rằng, không có Gropius, thế giới của kiến trúc và thiết kế sẽ trông rất khác so với những gì đã có ngày hôm nay.

Gropius, lúc đó 35 tuổi, đã xác định rõ sẽ quay lưng với truyền thống, bất chấp quan niệm lạc hậu khi đó, ông luôn sẵn sàng để chịu trách nhiệm trước xã hội. Ngày 20 Tháng 3, 1919, ông trình một lá đơn để thành lập một học viện trong thành phố Weimar. Giấy phép Bauhaus cấp quốc gia ở Weimar (National Bauhaus in Weimar) đã được duyệt vào ngày 12 Tháng tư. Trong một khoảng thời gian ngắn, kiến trúc sư ấy đã viết một bản tuyên ngôn tóm lược, và nó đã chính thức đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc biến động về mỹ học trên toàn thế giới — hay nói một cách khác, đó là một cuộc cách mạng về mỹ học.

Ngay từ đầu Bauhaus đã chứng tỏ nó là một ngôi trường nghệ thuật lí thú, một học viện xác định gắn bó với đời thường hơn là một tổ chức hàn lâm của giới thượng lưu. Hội đồng những người giám hộ bao gồm những bè bạn của Gropius, sớm có cả nhà vật lí lỗi lạc Albert Einstein, và trong số những giảng viên của nó có thể đếm được một vài các họa sĩ hàng đầu của thời đó như Josef Albers, Lyonel Feininger, Wassily Kandinsky, Paul Klee và Oskar Schlemmer. Luwig Mies van der Rohe, hiệu trưởng thứ 3 của Bauhaus, đã vươn lên để trở thành một huyền thoại của lịch sử ngành kiến trúc.

Lễ kỉ niệm thứ 90 kể từ ngày sáng lập của trường phái Bauhaus sẽ được tổ chức bằng những đợt triển lãm ở Weimar và Berlin, Tokyo và New York. Thậm chí Bảo tàng nghệ thuật hiện đại New York (MoMA) đã hoãn kế hoạch kỉ niệm 80 năm để tổ chức cùng lễ kỉ niệm 90 năm của Bauhaus. Alfred Barr, vị chủ tịch đầu tiên của MoMA thú nhận được truyền cảm hứng từ Bauhaus đến nỗi ông đã lấy nghệ thuật hiện đại Châu Âu làm trọng tâm của bảo tàng.

Và bằng một lí do chính đáng: sau cùng, ngôi trường đó thực sự đã sáng tạo ra hình dáng của thế hệ hiện đại. Đối với Bauhaus đó là sứ mệnh cao quý của người nghệ sĩ muốn từ bỏ những thói quen lỗi thời. “Việc làm đầu tiên của Bauhaus là đã gạt bỏ tất cả những quan niệm đã từng được thừa nhận … Làm người ta đột nhiên nhận ra rằng, cuộc sống có thể được quan sát từ một hướng nhìn hoàn toàn khác” – đó là điều Lisbeth Oestreicher, một sinh viên tốt nghiệp Bauhaus đã viết.

Di sản ấy của chủ nghĩa hiện đại là không thể phủ nhận. Cho tới hôm nay, trường Bauhaus được xem như 1 qui chuẩn cho những ai thuộc lĩnh vực nghệ thuật, design, kiến trúc và qui hoạch đô thị. Hơn nữa, nó góp phần cho tiếng tăm của nước Đức hiện đại và bản thân chiếm vị trí như một sự tiến bộ trong nghệ thuật.

     Kế thừa và phát huy

Trải qua giao đoạn 14 năm đầu tiên, ngôi trường đã có 3 cơ sở đặt tại Weimar, Dessau và Berlin. Nhưng sau đó, vào năm 1933, cuối cùng nó đã bị đánh bại bởi những người phản đối, chống lại nền văn hóa hiện đại. Hôm nay, trong sự tôn kính chậm trễ với trường Bauhaus, khu vực cơ sở của trường tại Weimar và Dessau được đăng kí là Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO. Trường phái Bauhaus đã sống lại như một truyền thuyết, bởi thành quả của những giáo viên và sinh viên đã phải đi di tản năm 1933 ấy. Một trường Bauhaus hiện đại đã phát triển ở Israel. Trường Bauhaus mới ở Chicago đã được mở vào 1930, và New York hôm nay sẽ là một thành phố khác nếu không có công thức kính-thép du nhập từ nước Đức. Thậm chí, sự thuần khiết của Bauhaus đã trở thành quá giáo điều và độc đoán bởi sự thái quá của chủ nghĩa Hậu hiện đại những năm 1980, khi những kiến trúc sư nổi loạn tìm cách chống lại một huyền thoại đã bao trùm cả cuộc sống.

Thời kì hậu chiến tranh chia cắt nước Đức, cả miền Đông và miền Tây đều phát huy những di sản của Bauhaus đã để lại. Sau đó đã có những nhà phê bình đánh giá rằng những khối nhà ở xấu xí và những cấu kiện đúc sẵn là hậu quả trực tiếp của hiệu ứng Bauhaus lên công nghiệp xây dựng nhà ở. Nhưng những ý định để hạ thấp Bauhaus ấy chưa bao giờ thành công.

Năm 2009, mọi người đang tuyên dương Bauhaus trong lễ kỉ niệm của ngôi trường ấy, kỉ niệm cho ngôi trường là hạt giống của những thí nghiệm trong design.  Nó được công nhận như một Studio lớn, những kẻ thích đùa giỡn, nơi mà hầu như những phát kiến được sáng tạo tình cờ trở thành một bước tiến bộ về design, hướng tới mục đích mang lại thẩm mỹ cho đời thường. Nhưng trong thực tế nó đã đi quá xa gây ra những rắc rối và mâu thuẫn, mà hầu như quan trọng hơn danh tiếng của nó.

Thành quả thực sự đã đạt được của Gropius và những những người đồng chí của ông là đã ghi nhận và bộc lộ vấn đề trong xã hội và sức mạnh tinh thần của kiến trúc và design. Họ mong muốn hành xử “hiệu quả công năng” trên “hoàn cảnh chung”, hình thành một thế giới thích hợp hơn và hướng tất cả những điều này thành một ” sự tập trung tối thiểu cho toàn bộ mọi người”.

Ở Dessau, lễ kỉ niệm hàng năm thường được tổ chức như một sự khởi đầu mới. KTS Berlin -Philipp Oswalt, người vừa nhận chức giám đốc vào tháng 3, đang kêu gọi sự tận tâm của mọi người làm cho ngôi trường trở nên gắn bó nhiều hơn với xã hội.

     Sức sáng tạo của một cá nhân kiệt xuất.

Trở lại năm 1919, mọi người khó có thể đoán rằng trường Bauhaus sẽ trở thành một đối tượng được mê hoặc đời đời. Khi kết thúc chiên tranh TG thứ nhất, giới nghệ thuật nước Đức đã đóng băng trong trạng thái bị tổn thương. Những người cố thoát khỏi con đường hầm đó đã phải vật lộn để nền tài chính có thể sống sót, dự báo 1 tương lai ì trệ về chính trị và không ổn định về kinh tế.

Sau đó Bauhaus đã đến như một tia sáng của niềm hi vọng. Gropius đã suy nghĩ về ý tưởng thời hậu chiến như 1 nghệ sĩ phóng túng thích đùa giỡn đến ngây thơ. Ông đã tìm cách để thành lập một tổ chức mà có thể hỗ trợ những họa viên, nhà thiết kế và những Kiến trúc sư. Trong cái nhìn của ông, sự giao lưu là nền tảng của tất cả những nỗ lực nghệ thuật, ở trong trường ông thành lập những nhà xưởng và kêu gọi những giáo sư, những sinh viên học việc cũng như sinh viên lành nghề.

Mục đích của ông là tập hợp tất cả những tri thức, tài năng và nguồn năng lượng. Tất cả những sản phẩm được làm ra ở Bauhaus -  mỗi cái ghế, cái đèn, tay nắm cửa hay những bức tranh tường – dường như đều chứa hạt nhân của sự tự tin. Sức hấp dẫn của Bauhaus vẫn còn phát huy tới ngày hôm nay và sự thật là ngôi trường đã dành được sự quan tâm của quần chúng và cả những người trẻ tuổi đầy hi vọng.

Hầu hết sinh viên của Gropius đều nghèo và đói, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Họ đói cả đời sống và tri thức, vật chất và thẩm mĩ. Họ thiếu thốn hầu như mọi thứ, từ nguyên liệu lao động tới quần áo và chỗ ở. Nhà ăn của trường, đã mở vào tháng 10 năm 1919, mở rộng thành một trong những nơi quan trọng nhất của học viện, họ còn trồng thêm những vườn rau riêng. Mặc cho hoàn cảnh nghèo khó, sinh viên và giáo viên trường đã phát huy lòng tin mãnh liệt, cảm nhận về sự tồn tại bản thân nhu là một nhóm những con người ưu tú, hoặc ít nhất là một nhóm những người là ngoại lệ của những nguyên tắc.

2 BÌNH LUẬN