Kiến trúc sư Canova và lịch sử bảo tồn công trình Colosseum, Rome

149

Antonio Canova sinh tại làng Possagno và theo học tại Venice và Rome. Ông trở thành nhà điêu khắc tân-cổ điển hàng đầu và được các nhà bảo trợ như Pius VII và Napoleon đánh giá là nhân tài bậc nhất thời đại. Tác phẩm của Canova hướng theo những nguyên tắc của Winckelmann và tác phẩm Perseus của ông được đánh giá là một kiệt tác mô phỏng cái không thể mô phỏng được. Ông tin tưởng rằng việc sao chép tác phẩm của các nghệ sỹ cổ đại một cách nô lệ sẽ bóp nghẹt và làm đông cứng tài năng, khi đối chiếu những tác phẩm nghệ thuật lớn với mục đích nghiên cứu, so sánh nó với thiên nhiên để hiểu rõ những giá trị của nó, điều đó có nghĩa là sử dụng nó để sáng tạo ra một tổng thể có thể phục vụ cho việc xác định hình thức biểu hiện chính xác của đối tượng lựa chọn . Quan điểm của ông được minh chứng rõ ràng bằng hành động từ chối phục hồi bức tượng Elgin Marbles từ Parthenon. Đối với ông, chạm tay vào tuyệt tác này đã là một hành động báng bổ.

Cho tới khi qua đời năm 1822, ông đã có ảnh hưởng rất lớn ở Rome đầu tiên với tư cách là một Thanh tra viên, sau đó là Chủ tịch viện hàn lâm Accademia di San Luca. Canova tiếp nhận các báo cáo về bảo tồn và khai quật và ông can thiệp trực tiếp khi cần thiết. Canova và Fea đã có những ảnh hưởng tích cực đối với các quan điểm bảo tồn cả trên phương diện pháp quy và triển khai thực tiễn, thể hiện cụ thể là bảo tồn tối thiểu công trình kỷ niệm (monument). Thí dụ như trong trường hợp Colosseum, mục tiêu chủ yếu không phải là phục hồi mà là bảo tồn tất cả các chi tiết trích đoạn cổ đại như là những thành phần của một công trình kỷ niệm lịch sử đích thực.

Colosseum, Rome. Một đề xuất gia cố cánh phía Đông của công trình bằng cách tháo dỡ phần hư hỏng và xây bịt các vòm cuốn vào năm 1806

 

Gia cố cánh phía Đông của Colosseum (1806) do R.Stern tiến hành. Ông rất chú ý việc bảo toàn nguyên trạng các cấu trúc cổ điển.

Hoạt động khai quật diễn ra phổ biến trên toàn bộ lãnh thổ Rome trong nhiều thế kỷ, nhiều người nước ngoài, như các học giả người Anh cũng tham gia khám phá tại các công trình kỷ niệm khác nhau, thí dụ như công trình Domus Aurea (Salmon, 1995). Những phát hiện ở Herculaneum và Pompeii đã đem đến nguồn cảm hứng, vào năm 1788, các cuộc khai quật của Nam tước Von Fredenheim tại Rome lại tiếp thêm những tác nhân kích thích mới. Vào năm 1801, các cuộc khai quật lại được bắt đầu tại Ostia nhưng sau đó do có dịch sốt rét, vào năm 1802 phải chuyển tới Rome. Nói chung, các cuộc khai quật không mở rộng phạm vi mà chỉ tập trung vào một số công trình hoặc khu vực như Cổng vòm Septimius Severus, Colosseum, các nhà tắm Titus và Pantheon. Công nhân khai quật ở đây vốn là những người bị kết án, sống trong lều ngay tại hiện trường suốt ngày đêm. Do vẫn cho rằng đất nền chính là nguồn bốc hơi độc gây ra sốt rét, người ta lựa chọn những mùa thích hợp để tránh mưa rào hoặc ánh nắng gay gắt mùa hè làm đất nền khô cứng. Vấn đề cần quan tâm đầu tiên là thoát nước, sau đó là các vấn đề liên quan tới quyền sở hữu đất và nhu cầu tháo dỡ các công trình trên hiện trường cũng như dọn dẹp gạch vụn.

Cổng vòm Septimus Severus được khai quật cho tới cốt nền nguyên bản. Sau đó di tích được xây bao quanh bằng tường chắn đất có bậc thang cho khách tham quan xuống phía dưới. Toàn bộ công trình được hoàn thành vào năm 1803 và được gắn kỷ niệm chương. Vào năm 1805, công trình Cổng vòm Constantine cũng được xây tường chắn đất tương tự vòng quanh. Camporesi rất thán phục biện pháp xử lý của Canova:  “Anh sẽ cảm thấy với toàn bộ nhiệt huyết, sự trân trọng và niềm ngưỡng mộ di tích này, anh cảm thấy cần phải hết sức chú trọng sao cho di tích không bao giờ bị hư hại dù chỉ là một vết rạn nhỏ”. Công việc triển khai ở đây chỉ quy về một số khía cạnh thiết yếu nhất như gia cố cột đá cẩm thạch bằng đai sắt, ngoài ra chỉ là các công việc bảo dưỡng nhỏ.

Một trong những công trình kỷ niệm chủ yếu cần sửa chữa là Colosseum – Nhà biểu diễn có bậc dốc lớn nhất trong Đế quốc La Mã. Bắt đầu xây dựng từ thời Vespasian và hoàn thành năm 80 vào thời Titus, công trình bằng gạch và đá túyp vôi này có hình dạng gần giống như hình elíp với kích thước hai trục là 188 và 156m và chiều cao gần 50m với 70000 chỗ ngồi. Colosseum được trang trí bằng các thức kiến trúc chồng lấp lên nhau và là khuôn mẫu tiêu biểu cho các kiến trúc sư La Mã và Phục Hưng. Những cấu trúc chính xác của công trình cho phép tiến hành các cuộc trình diễn phức tạp với hiệu quả đặc biệt rất được người La Mã ưa chuộng. Dù rằng bị hư hại rất nhiều, công trình này đã trở thành biểu tượng của La Mã và là nguồn cảm hứng cho Venerable Bede (673-735) khi ông viết những câu thơ sau đây:

Rome vững vàng khi Colosseum đứng đó,
Rome sụp đổ khi Colosseum sụp đổ,
Và khi Rome sụp đổ, cả thế giới sụp đổ theo.

Colosseum từng được sử dụng làm nơi trú đêm cho những người đánh xe ngựa, làm kho chứa cho một nhà máy sản xuất thuốc súng và công trình ngập trong phân và rác thải. Lối sử dụng này làm hư hại nghiêm trọng cấu trúc bằng đá của công trình, các hành lang bị bịt kín khiến khách tham quan không thể vào bên trong. Một trận động đất xảy ra vào đầu thế kỷ Mười tám đã làm một phần cấu trúc đổ sụp, một trận động đất khác vào đầu thế kỷ Mười chín tiếp tục làm hư hại công trình, đặc biệt là cạnh phía Nam của vòng ngoài. Những vấn đề này đã được chỉ rõ trong văn bản ghi nhớ do Fea, Camporesi và Tommaso Zappati soạn thảo vào tháng Sáu năm 1804. Họ lo ngại rằng những hư hại này có thể trở nên kịch tính và kiến nghị cấu trúc cần phải được dỡ bỏ những tải trọng ngoại lai, các đống gạch vỡ cần được thu dọn để các vòm cuốn không bị quá tải. Một tuần sau đó, lâu đài Quirinale đã chuyển cho Chưởng khố lệnh thu dọn các đống gạch vụn tại Colosseum. Vào năm 1805, người ta đã xây dựng một hệ thống cột chống bằng gỗ để gia cố phần tường phía Nam bị hư hỏng, công tác khai quật cũng được bắt đầu và người ta vạch tiếp những kế hoạch gia cố công trình.

Sau một trận động đất khác, Stern lại tiến hành thanh tra công trình và báo cáo là những khối đá tuýp vôi bị tách rời là do những vết nứt dọc ở tầng hai và ba. Điều này làm cho chân của hai vòm ngoài choãi ra và những viên đá khoá vòm hình nêm chuyển vị đáng kể. Hậu quả tiếp theo là cấu trúc bị lệch theo trục dọc tối thiểu là ba palmi và cột trụ cuối cùng xuất hiện những vết nứt đáng kể và ngày càng mở rộng. Ông kiến nghị xây dựng một bức tường chống bằng gạch với phần móng bằng đá tuýp vôi để chặn đứng chuyển vị ngang, hình thành trụ chống vững chắc có tính khả thi vì mặt kinh tế đồng thời tôn trọng những giá trị lịch sử và kiến trúc của công trình kỷ niệm này. Theo như lời của Stein thì mục tiêu ở đây là sửa chửa và bảo tồn mọi thứ – dù chỉ là những trích đoạn nhỏ bé nhất . Tuy vậy cũng có những nhà phê bình than phiền rằng những trụ chống khổng lồ có thể huỷ hoại những giá trị sinh động của di tích tuyệt vời này, sự can thiệp không có bản sắc, hơn nữa sự gia tải có thể dẫn đến những sự cố về kỹ thuật.

Một kiến nghị ngược lại là phần công trình nguy hiểm có thể tái tạo thành một dạng trụ chống bằng cách phá bỏ phần bên trên thành một đường dốc và xây lấp một số vòm cuốn. Điều này dẫn tới việc phá bỏ một phần của một vòm cuốn ở tầng 1, phá bỏ nguyên một vòm cuốn ở tầng 2 và hai nhịp ở tầng trên cùng. Người ta lý luận rằng phương thức can thiệp này có thể có kết quả là tạo lập một hình ảnh di tích tự nhiên và có giá trị như là một khởi điểm đơn giản để xây dựng lại Colosseum nếu như có nhu cầu trong tương lai. Các kiến trúc sư trong Hội đồng phục hồi là Palazzi, Camporesi và Stern kịch liệt phản đối khuyến nghị này, họ cho rằng thái độ vô liêm sỉ đối với hiện tại, một ý đố báng bổ tương tự đối với Hoàng đế tối thượng như thế chưa hề có, thậm chí cả đối với bọn phá hoại và những kẻ man rợ; hiện tại, dù rằng những kế hoạch bảo tồn đã được soạn thảo, hành vi phá hoại cũng chưa hề được chính quyền cho phép và cấp kinh phí. Hội đồng kết luận rằng nếu theo những khuyến nghị của họ thì có thể tiết kiệm một nửa số kinh phí và có thể bảo tồn tính tổng thể của công trình. Đó là những công trình mà toàn thế giới đến để ngưỡng mộ và thèm muốn. Tất nhiên, một điều rõ ràng là nếu như kế hoạch phá hoại đó được thông qua thì thà rằng cứ để các phần công trình bị hư hỏng trong trạng thái phế tích tự nhiên như thế còn hơn là can thiệp vào. Trong trường hợp đó, chúng ta có thể bị cho là không có đủ phương tiện tài chính để bảo tồn, điều đó còn tốt hơn bị buộc là những kẻ phá hoại và man rợ.

Vào tháng Mười một năm 1806, Rome phải chịu đựng thêm một trận động đất nữa và thậm chí nếu như giàn giáo gỗ đã cứu cho công trình khỏi sập đổ thì Colosseum vẫn bị nghiêng thêm nhiều, những thanh chống bằng gỗ bị uốn cong đến mức tới hạn. Đồ án của Palazzi, Camporesi và Stern lập tức được chấp nhận và thợ cả Antonio Valenti được giao triển khai công việc. Việc đầu tiên là tạo các trụ chống đỡ cho công trình chống lại lực xô của các bộ phận bị rời ra, thứ hai là xây bịt các vòm cuốn để gia cố từ bên trong, thứ ba là cần phải xây dựng một bức tường ngang để gia cường theo phương ngang và liên kết các bức tường chống, trụ và các vòm cuốn xây bịt vào cấu trúc bên trong công trình. Công việc được triển khai nhanh chóng và cho đến ngày 6 tháng Sáu năm 1807 thì gần như hoàn thiện. Những đống đất xung quanh công trình được dọn đi và một vài vựa cỏ khô che lấp công trình bị phá bỏ.

Cánh phía Tây của Colosseum được G. Valadier phục hồi vào năm 1824-1826. Một phần mục tiêu của ông là phục dựng các hình thức kiến trúc. Việc sử dụng gạch thay cho đá xuất phát từ lý do kinh phí.

Trong việc phục hồi cánh phía Nam của Colosseum vào khỏang giữa thế kỷ Mười chín, L.Canina xây dựng các phần mới bằng gạch để có thể phân biệt với cấu trúc nguyên bản bằng đá

Giáo hoàng rất tự hào với đồ án này vì đã cứu cho một công trình kỷ niệm cổ đại tuyệt vời khỏi sụp đổ, công trình xây dựng những bức tường chống được coi là một trong những đồ án quan trọng nhất thập kỷ của Giáo hội Rome. Khung cảnh này đã được mô tả trong một bức tranh của Galleria Clementina tại Vatican và khắc vào một tấm đá cẩm thạch gắn trên các tường chống để công bố theo phương thức truyền thống đóng góp của Giáo hoàng trong việc bảo tồn công trình cổ đại này. Stern đã mô tả can thiệp của Trưởng khố Giáo hoàng như sau:

..Và trong khi công trình cổ đại hoành tráng nhất, lớn nhất mà chúng ta biết đến làm chúng ta tin tưởng vào sự tráng lệ và kiến thức của những thế kỷ đó, công việc bảo tồn hiện đại trong hoàn cảnh hiện nay là minh chứng rõ ràng và không thể thay đổi về sự tôn trọng và sùng kính của chúng ta đối với những di tích nghệ thuật tuyệt vời. Công việc thành công này đã làm chúng ta gần hơn với tổ tiên và sẽ chỉ ra cho hậu thế rằng việc những tác phẩm nghệ thuật hiện bị thiếu hụt trong kỷ nguyên của chúng ta có lý do duy nhất là chúng ta không có đủ phương tiện để khai quật.

Trên thực tế, công cuộc có quy mô lớn đầu tiên từ thế kỷ 19 này với mục tiêu có ý thức là bảo tồn từng trích đoạn công trình đã mở đường cho những sự can thiệp trong tương lai và cho sự phát triển của lý luận bảo tồn hiện đại.

Trong thời kỳ Pháp đô hộ, một phần khu vực đấu trường của Colosseum đã được khai quật nhưng sau năm 1814, khu vực đã khai quật lại bị lấp đầy lại do không sử lý được vấn đề thoát nước. Bên ngoài công trình, công việc vẫn tiếp tục với dự định hình thành một đường dạo vòng quanh bằng hàng cây và xây dựng tường chắn gia cố sườn đồi. Người ta dỡ bỏ những công trình xây dựng về sau bám vào những vòm cuốn ở tầng trệt và tiến hành khai quật để khám phá mặt bằng lối vào chính. Sau đó, vì lý do an ninh, người ta lại phải đóng kín các vòm cuốn bằng hàng rào gỗ sơn màu đồng. Những biện pháp đó vẫn tỏ ra không đủ để ngăn cản dòng người tham quan theo gương của Goethe chiêm ngưỡng những di tích lãng mạn này dưới ánh trăng. Cây cối mọc xanh rì là một trong những khía cạnh lôi cuốn ý tưởng lãng mạn khi chung thay đổi theo thời gian trên những bậc đá mọc đầy cây oliu, mía, sung hoang dại với những con đường mòn nhỏ uốn lượn quanh các bậc thang bỏ hoang và những gallery vô tận, như lời Shelley mô tả trong một bức thư gửi Thomas Love Peacock vào năm 1818. Vào năm 1815, Fea đã đề xuất việc đào bỏ các gốc cây và gia cố cấu trúc công trình bằng đai sắt. Tiếp theo là những đề xuất loại bỏ cây cối triệt để hơn vào năm 1820, việc này ba mươi năm sau – năm 1850 mới được thực hiện. Đề xuất này cũng làm dấy lên ý kiến chỉ trích do người ta nghĩ tới giá trị của những cảnh quan lãng mạn tại di tích.

Vào năm 1820, cạnh ngoài của Colosseum về phía Forum tỏ ra mất cân bằng và Valadier được chỉ đạo xây dựng hàng trụ gỗ để chống đỡ. Hệ thống gia cường này được duy trì trong ba năm cho đến khi công tác gia cố chính thức được triển khai. Đồ án của Valadier xoay quanh việc xây dựng lại một phần trong số các bộ phận bị đổ nát của công trình để hình thành nên tường chống.

Nên mô phỏng kiến trúc cổ đại thậm chí trong các chi tiết nhỏ ngoại trừ việc trong khi tất cả các bộ phận của công trình nguyên bản được chế tạo bằng đá túyp vôi thì vì lý do kinh phí, các bộ phận công trình làm mới chỉ có một phần bằng đá travertine, đó là bổ trụ tầng một, đế các vòm cuốn, chân cột, đầu cột và gờ mái đua. Điều này là cần thiết vì lý do ổn định của công trình. Tất cả các bộ phận còn lại xây bằng gạch có mô phỏng kỹ lưỡng những đường gờ cổ nhưng có phủ ngoài một lớp fresco để trông giống như chế tạo tòan bộ bằng đá túyp vôi.

Không phải ai cũng đồng tình với đề xuất này (thí dụ như Carlo Fea) nhưng cuối cũng đồ án vẫn được Viện hàn lâm chấp nhận vào tháng Mười hai năm 1823. Công việc được tiến hành ngay sau đó và hoàn thành vào năm 1826. Valadier lý luận rằng phương pháp này có thể làm đơn giản hóa những phần việc tiếp theo và nếu muốn thì có thể xây dựng lại toàn bộ Colosseum. Công việc phục hồi tiếp theo được tiến hành vào những năm 1840 và 1850 dưới sự chỉ đạo của Luigi Canina (1795-1856) – một kiến trúc sư tân cổ điển đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực khảo cổ, đã xuất bản hàng loạt sách về kiến trúc Rome cổ đại. Can thiệp lớn nhất của ông tại công trình này là xây dựng lại tám vòm cuốn ở phần phía Nam vào năm 1844 và lối vào phía Tây đối diện với Forum vào năm 1852. Trong cả hai trường hợp, các bộ phận mới được xây bằng gạch màu vàng, đá túyp vôi chỉ được sử dụng ở một vài điểm quan trọng trong cấu trúc công trình. Phần tường xây tiếp tục có bề mặt nhám theo phương thức của Valadier trước đây nhưng không phủ fresco. Một phần cấu trúc có diện tích nhỏ cũng được xây lại bằng đá túyp vôi trên lối vào phía Bắc vào năm 1852. 

KTS. Vũ An Khánh
(Trên cơ sở tài liệu từ cuốn
A History of Architectural Conservation
của tác giả Jukka Jolilehto, 2002).

Nguồn http://www.hau.edu.vn/